Trung Bộ Kinh · bài 109/152
Đại Kinh Trăng Tròn
Mahāpuṇṇama Sutta — bài kinh về đêm trăng tròn
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Đại Kinh Trăng Tròn (Mahāpuṇṇama Sutta) là bài kinh thứ 109 trong Trung Bộ Kinh, bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Bối cảnh của nó rất đơn giản: một đêm rằm, Đức Thế Tôn ngồi ngoài trời gần thành Sāvatthī, chung quanh là các tỳ-kheo, tức những người xuất gia sống bằng khất thực. Một vị trong số đó đứng dậy, chắp tay xin phép hỏi, và cuộc vấn đáp kéo dài suốt phần lớn bài kinh. Không có phép lạ, không có vua chúa, chỉ có một nhóm người ngồi dưới trăng và hỏi nhau những câu hỏi căn bản nhất về việc mình là ai.
Muốn theo được bài kinh, chỉ cần nắm một chữ: uẩn. Uẩn là một nhóm, một khối. Kinh chia toàn bộ những gì ta gọi là "tôi" thành năm nhóm. Sắc là thân và vật chất. Thọ là cảm giác dễ chịu, khó chịu hay trung tính. Tưởng là phần nhận ra, gọi tên, ghi nhớ. Hành là những ý muốn, quyết định và thói quen thúc đẩy phía sau. Thức là sự nhận biết đối tượng. Năm nhóm ấy không phải năm mảnh rời mà là năm mặt của một dòng chảy, và kinh gọi chúng là thủ uẩn khi chúng bị nắm lấy, bị bám vào.
Vị tỳ-kheo hỏi dồn: năm uẩn ấy lấy gì làm gốc, chấp thủ có phải chính là chúng, lòng ham muốn nơi từng uẩn có thể khác nhau không, đến mức nào thì gọi là uẩn, và cái gì khiến mỗi uẩn hình thành. Câu trả lời lần lượt: gốc là ham muốn; chấp thủ không phải là các uẩn cũng không nằm ngoài chúng, mà là lòng ham muốn và tham đắm đối với chúng; mỗi uẩn có duyên riêng, bốn đại nuôi sắc, xúc nuôi thọ, tưởng và hành, danh sắc nuôi thức. Rồi Ngài chỉ ra hữu thân kiến, tức thói quen xem một uẩn nào đó là tự ngã, hình thành và tan đi thế nào, và cách nhìn mỗi uẩn qua ba mặt: cái làm nó đáng ưa, cái nguy hại của nó, và lối thoát khỏi nó.
Đến đây bài kinh mới lộ ra vấn đề của nó. Một vị tỳ-kheo nghe xong liền nghĩ: nếu sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều là vô ngã, vậy những nghiệp do cái vô ngã làm ra sẽ chạm đến tự ngã nào? Câu nghĩ ấy nghe có lý, nhưng nó cho thấy vị ấy vẫn còn giả định một cái ta bền vững đứng sau hành động. Đức Thế Tôn biết ý nghĩ ấy, gọi đó là cách nói của kẻ chưa hiểu, rồi thay vì giảng thêm, Ngài hỏi lại: sắc là thường còn hay vô thường, cái gì vô thường thì là khổ hay là lạc, cái gì vô thường và khổ thì có thích hợp để xem là ta, là của ta không. Từng uẩn, câu trả lời tự hiện ra.
Cách dạy ấy là điểm đáng nhớ nhất của bài kinh: người nghe không được đưa sẵn kết luận mà bị dẫn tới chỗ tự thấy. Khi thấy như vậy, vị thánh đệ tử nhàm chán năm uẩn, nhàm chán nên ly tham, ly tham nên được giải thoát, và biết rõ mình đã giải thoát. Bài kinh khép lại bằng một con số: sáu mươi vị tỳ-kheo chứng quả ngay trong buổi nói ấy.
Đại Kinh Trăng Tròn có một người em là Tiểu Kinh Trăng Tròn, bài 110, cùng khung cảnh đêm rằm nhưng nội dung ngắn hơn. Phần lớn bài này cũng có trong Tương Ưng Bộ Kinh 22.82, chỉ khác vài chỗ, riêng đoạn kết thì khác hẳn. Cái tên trăng tròn không phải ẩn dụ: kinh mở đầu bằng đúng đêm rằm, khi ánh trăng làm mọi thứ hiện ra rõ, và câu hỏi của bài kinh cũng là câu hỏi về việc thấy rõ, thấy năm uẩn đúng như chúng là.
Tôi nghe như vầy.
[Chú thích: Bài kinh này cũng có trong Tương Ưng Bộ Kinh 22.82, chỉ khác vài chỗ trong bản truyền.]
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú gần Sāvatthī (Xá-vệ), tại Pubbārāma (Đông Viên), trong tòa lầu của bà mẹ Migāra (Lộc Tử Mẫu).
Lúc bấy giờ, vào ngày bố-tát thứ mười lăm, trong đêm trăng tròn đầy, Đức Thế Tôn đang ngồi ngoài trời, được Tăng đoàn tỳ-kheo vây quanh.
Rồi một vị tỳ-kheo từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp y qua một bên vai, chắp tay hướng về Đức Thế Tôn và bạch:
"Bạch Thế Tôn, con muốn hỏi Đức Thế Tôn một điểm nọ, nếu Đức Thế Tôn cho con cơ hội để câu hỏi ấy được giải đáp."
[Chú thích: Chú giải nói rằng vị ấy hỏi những câu này để giáo dục học trò của mình. Điều ấy có vẻ đúng, vì trình tự các câu hỏi rõ ràng có chủ đích.]
"Vậy thì, này tỳ-kheo, ông hãy ngồi lại chỗ của mình và hỏi điều ông muốn."
Rồi vị tỳ-kheo ấy ngồi lại chỗ của mình và bạch Đức Thế Tôn:
"Bạch Thế Tôn, có phải năm thủ uẩn này là:
sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn?"
"Này tỳ-kheo, đây là năm thủ uẩn, đó là:
sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn."
"Lành thay, bạch Thế Tôn," vị tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tán thán lời Đức Thế Tôn dạy, rồi hỏi Đức Thế Tôn thêm một câu hỏi nữa:
[Chú thích: Phần còn lại của bài kinh không nhắc lại lời tán thán ấy sau mỗi câu trả lời, nhưng bản tương đương ở Tương Ưng 22.82 phần lớn có nhắc.]
"Bạch Thế Tôn, năm thủ uẩn này lấy gì làm gốc?"
"Này tỳ-kheo, năm thủ uẩn này lấy ham muốn làm gốc."
[Chú thích: "Ham muốn" (chanda) là động lực nền tảng nằm dưới mọi biểu hiện của các uẩn. Nó cũng chính là "tham ái" (taṇhā).]
"Bạch Thế Tôn, chấp thủ ấy có phải chính là năm thủ uẩn không, hay chấp thủ là một thứ khác ngoài năm thủ uẩn?"
"Này tỳ-kheo, chấp thủ ấy không phải chính là năm thủ uẩn, cũng không phải chấp thủ là một thứ khác ngoài năm thủ uẩn.
Này tỳ-kheo, lòng ham muốn và tham đắm đối với năm thủ uẩn — đó chính là chấp thủ ở nơi ấy."
[Chú thích: Xem Trung Bộ 44:6.3 và chú thích ở đó.]
"Bạch Thế Tôn, lòng ham muốn và tham đắm đối với năm thủ uẩn có thể có sự khác nhau không?"
Đức Thế Tôn dạy: "Có thể, này tỳ-kheo.
Ở đây, này tỳ-kheo, có người nghĩ như vầy:
'Mong rằng trong tương lai ta có sắc như thế này, có thọ như thế này, có tưởng như thế này, có hành như thế này, có thức như thế này.'
[Chú thích: Câu này giả định có một "tự ngã" tồn tại xuyên qua thời gian.]
Này tỳ-kheo, lòng ham muốn và tham đắm đối với năm thủ uẩn có thể có sự khác nhau như vậy đó."
"Bạch Thế Tôn, đến mức nào thì các uẩn được gọi là uẩn?"
[Chú thích: Câu hỏi là có cái gì nằm ngoài các uẩn hay không.]
"Này tỳ-kheo, bất cứ sắc nào — quá khứ, vị lai hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, hạ liệt hay cao thượng, xa hay gần — đó là sắc uẩn.
Bất cứ thọ nào — quá khứ, vị lai hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, hạ liệt hay cao thượng, xa hay gần — đó là thọ uẩn.
Bất cứ tưởng nào — quá khứ, vị lai hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, hạ liệt hay cao thượng, xa hay gần — đó là tưởng uẩn.
Bất cứ hành nào — quá khứ, vị lai hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, hạ liệt hay cao thượng, xa hay gần — đó là hành uẩn.
Bất cứ thức nào — quá khứ, vị lai hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, hạ liệt hay cao thượng, xa hay gần — đó là thức uẩn.
Đến mức ấy, này tỳ-kheo, các uẩn được gọi là uẩn."
[Chú thích: Nghĩa là từ "uẩn" (khandha) là cách gọi gộp mọi trường hợp thuộc loại hiện tượng ấy.]
"Bạch Thế Tôn, nhân gì, duyên gì khiến sắc uẩn hình thành?
[Chú thích: Nếu "gốc" của mọi uẩn là ham muốn, thì câu hỏi bây giờ là nền tảng trực tiếp của từng uẩn.]
Nhân gì, duyên gì khiến thọ uẩn hình thành?
Nhân gì, duyên gì khiến tưởng uẩn hình thành?
Nhân gì, duyên gì khiến hành uẩn hình thành?
Nhân gì, duyên gì khiến thức uẩn hình thành?"
"Này tỳ-kheo, bốn đại là nhân, bốn đại là duyên khiến sắc uẩn hình thành.
Xúc là nhân, xúc là duyên khiến thọ uẩn hình thành.
[Chú thích: Trong lý duyên khởi, "xúc" (phassa) là duyên trực tiếp cho "thọ" (vedanā). Nhưng xúc cũng có thể là duyên trực tiếp cho cả thọ, tưởng và hành, vì ba thứ này luôn hoạt động nơi thức nên có thể được xem là đồng thời, nối tiếp nhau, hay cùng làm duyên cho nhau.]
Xúc là nhân, xúc là duyên khiến tưởng uẩn hình thành.
[Chú thích: Thọ và "tưởng" (saññā) gắn bó chặt chẽ, vì cách ta cảm nhận quy định cách ta nhận ra và diễn giải. Xúc là nền trực tiếp của thọ, nhưng tưởng vận hành nhanh đến mức cũng có thể được xem là kết quả trực tiếp của xúc.]
Xúc là nhân, xúc là duyên khiến hành uẩn hình thành.
[Chú thích: "Hành" (saṅkhārā) cũng vậy, vì chúng thuộc phần phản ứng thường có hiệu lực ngay lập tức. Chẳng hạn, thử ăn một quả mọng trong rừng: tiếp xúc với vị đắng thấy khó chịu, ta nhận ra đó là độc, và chọn nhổ ra.]
Danh sắc là nhân, danh sắc là duyên khiến thức uẩn hình thành."
[Chú thích: Thường trong lý duyên khởi, thức là duyên cho danh sắc; ở đây giả định hai bên làm duyên lẫn nhau, như trình bày ở Trường Bộ 15:22.1. Danh sắc là phôi thai nâng đỡ thức trong tiến trình tái sinh, và tiếp tục lớn lên cùng thức suốt cuộc đời.]
"Bạch Thế Tôn, hữu thân kiến hình thành như thế nào?"
[Chú thích: Như ở Trung Bộ 44:7.1, nơi hữu thân được giải thích là năm thủ uẩn.]
"Ở đây, này tỳ-kheo, kẻ phàm phu không nghe Pháp, chưa từng thấy các bậc thánh, không rành Pháp của các bậc thánh, chưa được huấn luyện trong Pháp của các bậc thánh; chưa từng thấy những bậc chân nhân, không rành Pháp của những bậc chân nhân, chưa được huấn luyện trong Pháp của những bậc chân nhân,
người ấy xem sắc là tự ngã, hoặc xem tự ngã là có sắc, hoặc xem sắc ở trong tự ngã, hoặc xem tự ngã ở trong sắc;
người ấy xem thọ là tự ngã, hoặc xem tự ngã là có thọ, hoặc xem thọ ở trong tự ngã, hoặc xem tự ngã ở trong thọ;
người ấy xem tưởng là tự ngã, hoặc xem tự ngã là có tưởng, hoặc xem tưởng ở trong tự ngã, hoặc xem tự ngã ở trong tưởng;
người ấy xem các hành là tự ngã, hoặc xem tự ngã là có các hành, hoặc xem các hành ở trong tự ngã, hoặc xem tự ngã ở trong các hành;
người ấy xem thức là tự ngã, hoặc xem tự ngã là có thức, hoặc xem thức ở trong tự ngã, hoặc xem tự ngã ở trong thức.
Này tỳ-kheo, hữu thân kiến hình thành như vậy đó."
[Chú thích: Nghĩa là hữu thân kiến xem các uẩn, hoặc một uẩn, là một "thực thể" được đồng nhất với tự ngã. Kiến ấy được tạo ra mỗi khi ta nghĩ tới hay bám vào các uẩn như là tự ngã.]
"Bạch Thế Tôn, hữu thân kiến không hình thành như thế nào?"
Ở đây, này tỳ-kheo, bậc thánh đệ tử đã nghe Pháp, đã thấy các bậc thánh, rành Pháp của các bậc thánh, đã được khéo huấn luyện trong Pháp của các bậc thánh; đã thấy những bậc chân nhân, rành Pháp của những bậc chân nhân, đã được khéo huấn luyện trong Pháp của những bậc chân nhân,
vị ấy không xem sắc là tự ngã, không xem tự ngã là có sắc, không xem sắc ở trong tự ngã, không xem tự ngã ở trong sắc;
<!-- hết phần 1 -->
vị ấy không xem thọ là tự ngã, không xem tự ngã là có thọ, không xem thọ ở trong tự ngã, không xem tự ngã ở trong thọ;
vị ấy không xem tưởng là tự ngã, không xem tự ngã là có tưởng, không xem tưởng ở trong tự ngã, không xem tự ngã ở trong tưởng;
vị ấy không xem các hành là tự ngã, không xem tự ngã là có các hành, không xem các hành ở trong tự ngã, không xem tự ngã ở trong các hành;
vị ấy không xem thức là tự ngã, không xem tự ngã là có thức, không xem thức ở trong tự ngã, không xem tự ngã ở trong thức.
Này tỳ-kheo, hữu thân kiến không hình thành như vậy đó.
[Chú thích: Vì hữu thân kiến tự nó là một hiện tượng do duyên tạo, nó chỉ tiếp tục tồn tại nếu được củng cố liên tục. Không được củng cố, nó như ngọn lửa hết nhiên liệu, yếu dần rồi tắt.]
"Bạch Thế Tôn, đâu là sự thích thú nơi sắc, đâu là mối nguy hại, đâu là sự thoát ra?
[Chú thích: Những câu hỏi này đã gặp ở Trung Bộ 13:6.2. Ở đây chúng nối tiếp phần trước, cho thấy cách thôi đồng nhất các uẩn với tự ngã, và có thể dùng làm nền cho thiền quán.]
Đâu là sự thích thú nơi thọ, đâu là mối nguy hại, đâu là sự thoát ra?
Đâu là sự thích thú nơi tưởng, đâu là mối nguy hại, đâu là sự thoát ra?
Đâu là sự thích thú nơi các hành, đâu là mối nguy hại, đâu là sự thoát ra?
Đâu là sự thích thú nơi thức, đâu là mối nguy hại, đâu là sự thoát ra?"
"Này tỳ-kheo, cảm giác dễ chịu và niềm vui phát sinh do duyên sắc — đó là sự thích thú nơi sắc.
Sắc ấy là vô thường, là khổ, có tính biến đổi — đó là mối nguy hại nơi sắc.
Sự dẹp bỏ và từ bỏ lòng ham muốn và tham đắm đối với sắc — đó là sự thoát ra khỏi sắc.
Này tỳ-kheo, cảm giác dễ chịu và niềm vui phát sinh do duyên thọ — đó là sự thích thú nơi thọ. Thọ ấy là vô thường, là khổ, có tính biến đổi — đó là mối nguy hại nơi thọ. Sự dẹp bỏ và từ bỏ lòng ham muốn và tham đắm đối với thọ — đó là sự thoát ra khỏi thọ.
Này tỳ-kheo, cảm giác dễ chịu và niềm vui phát sinh do duyên tưởng — đó là sự thích thú nơi tưởng. Tưởng ấy là vô thường, là khổ, có tính biến đổi — đó là mối nguy hại nơi tưởng. Sự dẹp bỏ và từ bỏ lòng ham muốn và tham đắm đối với tưởng — đó là sự thoát ra khỏi tưởng.
Này tỳ-kheo, cảm giác dễ chịu và niềm vui phát sinh do duyên các hành — đó là sự thích thú nơi các hành. Các hành ấy là vô thường, là khổ, có tính biến đổi — đó là mối nguy hại nơi các hành. Sự dẹp bỏ và từ bỏ lòng ham muốn và tham đắm đối với các hành — đó là sự thoát ra khỏi các hành.
Này tỳ-kheo, cảm giác dễ chịu và niềm vui phát sinh do duyên thức — đó là sự thích thú nơi thức.
Thức ấy là vô thường, là khổ, có tính biến đổi — đó là mối nguy hại nơi thức.
Sự dẹp bỏ và từ bỏ lòng ham muốn và tham đắm đối với thức — đó là sự thoát ra khỏi thức."
"Bạch Thế Tôn, khi biết như thế nào, khi thấy như thế nào thì nơi thân có thức này và nơi mọi tướng ở bên ngoài, không còn sự tạo tác cái 'ta', sự tạo tác cái 'của ta' và tùy miên ngã mạn?"
[Chú thích: Từ đây, câu hỏi chuyển từ thiền quán sang sự chứng ngộ; câu trả lời cho thấy đây là tuệ thấu suốt các uẩn, ít nhất đạt được ở quả Dự lưu, còn tùy miên ngã mạn thì chỉ bậc A-la-hán mới đoạn tận. "Sự tạo tác cái ta" (ahaṅkāra) là vai trò chủ động của tâm trong việc dựng lên cảm giác về một cái ta; "sự tạo tác cái của ta" (mamaṅkāra) là khuynh hướng nhận vật gì đó là của mình; "mọi tướng" (sabbanimitta) là những đặc điểm đánh dấu kích thích giác quan.]
"Vị ấy thấy như thật bằng chánh tuệ rằng: bất cứ sắc nào — quá khứ, vị lai hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, hạ liệt hay cao thượng, xa hay gần — tất cả sắc đều là 'cái này không phải của tôi, tôi không phải cái này, cái này không phải tự ngã của tôi'.
Vị ấy thấy như thật bằng chánh tuệ rằng: bất cứ thọ nào — quá khứ, vị lai hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, hạ liệt hay cao thượng, xa hay gần — tất cả thọ đều là 'cái này không phải của tôi, tôi không phải cái này, cái này không phải tự ngã của tôi'.
Vị ấy thấy như thật bằng chánh tuệ rằng: bất cứ tưởng nào — quá khứ, vị lai hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, hạ liệt hay cao thượng, xa hay gần — tất cả tưởng đều là 'cái này không phải của tôi, tôi không phải cái này, cái này không phải tự ngã của tôi'.
Vị ấy thấy như thật bằng chánh tuệ rằng: bất cứ hành nào — quá khứ, vị lai hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, hạ liệt hay cao thượng, xa hay gần — tất cả các hành đều là 'cái này không phải của tôi, tôi không phải cái này, cái này không phải tự ngã của tôi'.
Vị ấy thấy như thật bằng chánh tuệ rằng: bất cứ thức nào — quá khứ, vị lai hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, hạ liệt hay cao thượng, xa hay gần — tất cả thức đều là 'cái này không phải của tôi, tôi không phải cái này, cái này không phải tự ngã của tôi'.
Này tỳ-kheo, khi biết như vậy, khi thấy như vậy thì nơi thân có thức này và nơi mọi tướng ở bên ngoài, không còn sự tạo tác cái 'ta', sự tạo tác cái 'của ta' và tùy miên ngã mạn."
Rồi tâm của một vị tỳ-kheo nọ khởi lên ý nghĩ như vầy:
"Hóa ra, thưa ông, sắc là vô ngã, thọ là vô ngã, tưởng là vô ngã, các hành là vô ngã, thức là vô ngã;
[Chú thích: Trong tâm, vị tỳ-kheo gọi Đức Thế Tôn là "bho", một cách gọi đặc trưng của người bà-la-môn, khác hẳn "bạch Thế Tôn" khi nói thành lời. Không lạ gì khi vị ấy vẫn còn giả định có một tự ngã.]
vậy những nghiệp do vô ngã tạo ra sẽ chạm đến tự ngã nào?"
[Chú thích: Vị tỳ-kheo này hiểu sai, tưởng rằng vô ngã nghĩa là mình có thể trốn tránh trách nhiệm đạo đức. Thuyết tự ngã giả định một thực thể liên tục, để việc làm lúc này tác động lên chính thực thể ấy lúc khác. Còn ở đây là một dòng chảy: như nước đổ vào suối sẽ ảnh hưởng tới sông và biển ở hạ lưu, dù chúng không phải là cùng một khối.]
Rồi Đức Thế Tôn, với tâm của Ngài biết được điều vị tỳ-kheo ấy đang nghĩ, bèn gọi các tỳ-kheo:
"Này các tỳ-kheo, có thể có chuyện ở đây một kẻ ngu si nào đó, không biết gì, chìm trong vô minh, với tâm bị tham ái chi phối, lại nghĩ rằng có thể vượt qua lời dạy của bậc Đạo sư. Kẻ ấy nghĩ:
'Hóa ra, thưa ông, sắc là vô ngã, thọ là vô ngã, tưởng là vô ngã, các hành là vô ngã, thức là vô ngã;
vậy những nghiệp do vô ngã tạo ra sẽ chạm đến tự ngã nào?'"
"Này các tỳ-kheo, trong từng pháp như vậy, Ta đã huấn luyện các ông."
[Chú thích: Nên đọc là paṭipucchāvinītā, theo Tương Ưng 22.82:13.4, tức "được giáo dục bằng cách hỏi lại" — tên gọi phương pháp Đức Thế Tôn sắp dùng. Ngài không chỉ nêu giáo lý mà còn dạy học trò cách học; hỏi lại phá vỡ mạch giảng dài và khuyến khích suy ngẫm.]
"Các ông nghĩ sao, này các tỳ-kheo,
sắc là thường còn hay vô thường?"
"Bạch Thế Tôn, vô thường."
"Cái gì vô thường thì là khổ hay là lạc?"
"Bạch Thế Tôn, là khổ."
"Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có thích hợp để quán sát là:
'cái này của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi' chăng?"
"Bạch Thế Tôn, không."
"Các ông nghĩ sao, này các tỳ-kheo,
thọ là thường còn hay vô thường?
tưởng là thường còn hay vô thường?
các hành là thường còn hay vô thường?
thức là thường còn hay vô thường?"
"Bạch Thế Tôn, vô thường."
"Cái gì vô thường thì là khổ hay là lạc?"
"Bạch Thế Tôn, là khổ."
<!-- hết phần 2 -->
"Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có thích hợp để quán sát là:
'cái này của tôi, tôi là cái này, cái này là tự ngã của tôi' chăng?"
"Bạch Thế Tôn, không."
"Vì vậy, này các tỳ-kheo, bất cứ sắc nào — quá khứ, vị lai hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, hạ liệt hay cao thượng, xa hay gần — tất cả sắc đều phải được thấy đúng như thật bằng chánh tuệ rằng: 'cái này không phải của tôi, tôi không phải cái này, cái này không phải tự ngã của tôi.'
Bất cứ thọ nào — quá khứ, vị lai hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, hạ liệt hay cao thượng, xa hay gần — tất cả thọ đều phải được thấy đúng như thật bằng chánh tuệ rằng: 'cái này không phải của tôi, tôi không phải cái này, cái này không phải tự ngã của tôi.'
Bất cứ tưởng nào — quá khứ, vị lai hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, hạ liệt hay cao thượng, xa hay gần — tất cả tưởng đều phải được thấy đúng như thật bằng chánh tuệ rằng: 'cái này không phải của tôi, tôi không phải cái này, cái này không phải tự ngã của tôi.'
Bất cứ hành nào — quá khứ, vị lai hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, hạ liệt hay cao thượng, xa hay gần — tất cả các hành đều phải được thấy đúng như thật bằng chánh tuệ rằng: 'cái này không phải của tôi, tôi không phải cái này, cái này không phải tự ngã của tôi.'
Bất cứ thức nào — quá khứ, vị lai hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, hạ liệt hay cao thượng, xa hay gần — tất cả thức đều phải được thấy đúng như thật bằng chánh tuệ rằng: 'cái này không phải của tôi, tôi không phải cái này, cái này không phải tự ngã của tôi.'
Thấy như vậy, này các tỳ-kheo, bậc thánh đệ tử đã nghe Pháp nhàm chán sắc, nhàm chán thọ, nhàm chán tưởng, nhàm chán các hành, nhàm chán thức.
Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát. Nơi vị đã giải thoát, khởi lên trí biết rằng: 'Ta đã giải thoát.'
Vị ấy biết: 'Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa.'"
Đức Thế Tôn nói như vậy.
Các tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tán thán lời Ngài dạy.
[Chú thích: Bản tương đương ở Tương Ưng 22.82:15.1 có đoạn kết hoàn toàn khác. Nhìn chung, những đoạn như vậy được thêm vào sau này để khép lại phần giáo lý, và bản Pali đã khác nhau khá nhiều, chưa kể các bản Hán và các bản tương đương khác.]
Và trong khi lời giải đáp này đang được nói, tâm của sáu mươi vị tỳ-kheo được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ.
Đại Kinh Trăng Tròn, bài thứ chín, đã kết thúc.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.