buppou

Trung Bộ Kinh · bài 108/152

Kinh Gopaka

Gopakamoggallāna Sutta — bài kinh về chỗ nương tựa của Tăng đoàn sau khi Đức Thế Tôn nhập Niết-bàn

26 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Gopaka (Gopakamoggallāna Sutta) là bài kinh thứ 108 trong Trung Bộ Kinh, bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Bài kinh diễn ra ít lâu sau khi Đức Thế Tôn nhập Niết-bàn. Ngài Ānanda, thị giả lâu năm của Ngài, trú tại Rājagaha, trong khu rừng tre Veḷuvana. Một buổi sáng, vì đi khất thực còn quá sớm, ngài ghé vào nơi làm việc của bà-la-môn Gopakamoggallāna, và một cuộc đàm đạo bắt đầu từ đó.

Câu hỏi của bà-la-môn rất thẳng: có một vị tỳ-kheo nào, dù chỉ một người, có đủ mọi phẩm chất như ngài Gotama đã có hay không? Ngài Ānanda trả lời: không. Lý do được Ngài nói ngay sau đó: Đức Thế Tôn là người đã làm sinh khởi con đường chưa từng có, là người đầu tiên mở ra lối đi; các đệ tử chỉ là người đi theo con đường ấy và về sau mới thành tựu được nó. Chỉ một câu trả lời ấy thôi đã đặt ra toàn bộ vấn đề của bài kinh.

Khi ấy, đại thần Vassakāra của nước Magadha đi giám sát công việc thành trì, ghé vào và hỏi tiếp. Trước khi Đức Thế Tôn qua đời, Ngài có chỉ định ai làm chỗ nương tựa cho Tăng đoàn không? Tăng đoàn có bầu ra một vị lãnh đạo không? Ngài Ānanda trả lời không cho cả hai câu. Vậy khi không có ai như thế, điều gì khiến các vị vẫn hòa hợp mà sống? Câu trả lời là: Pháp. Các vị nương tựa vào Pháp chứ không nương tựa vào một con người.

Để giải thích điều đó, ngài Ānanda kể lại nếp sinh hoạt chung. Mỗi ngày bố-tát, các tỳ-kheo trong cùng một địa phận làng tụ họp, thỉnh một vị tụng giới bổn Pātimokkha. Ai nhớ ra lỗi của mình thì được sửa chữa ngay trong buổi tụng ấy. Điều đáng chú ý nằm ở câu kết: không phải một vị tôn giả nào đó buộc họ làm như vậy, mà chính Pháp buộc họ. Quyền lực ở đây không thuộc về chức vụ, mà thuộc về một nền đạo đức và một thủ tục đã được mọi người cùng nhận.

Tiếp đó là danh sách mười phẩm chất mà Tăng đoàn kính trọng: giữ giới, nghe nhiều, biết đủ, chứng được bốn tầng thiền-na, và có sáu thắng trí. Ai có đủ những phẩm chất ấy thì được kính trọng, bất kể người đó là ai. Nói cách khác, sự kính trọng trong Tăng đoàn dựa trên điều một người đã tu thành, không dựa trên chức tước hay tuổi tác. Đây là điểm rất đáng suy nghĩ với người hôm nay, khi ta thường quen với tổ chức có người đứng đầu nắm quyền.

Phần cuối bài kinh là một cuộc tranh luận nhỏ về thiền. Vassakāra nhớ lại việc Đức Thế Tôn ca ngợi mọi thứ thiền, và ngài Ānanda sửa lại: Ngài không ca ngợi thứ thiền mà người ta vẫn mang tham dục, sân hận, hôn trầm, trạo cử hay nghi hoặc ở trong lòng; Ngài ca ngợi bốn tầng thiền-na trong sạch. Khi Vassakāra ra về, bà-la-môn Gopakamoggallāna phàn nàn rằng câu hỏi của mình chưa được trả lời. Ngài Ānanda nhắc lại: đã trả lời rồi, ngay từ đầu, rằng không có ai bằng Đức Thế Tôn. Với người mới đọc kinh, bài này không có giáo lý trừu tượng nào; nó kể một câu chuyện về uy quyền, về sự kính trọng và về cách một cộng đồng tiếp tục sống sau khi người sáng lập đã mất.


Tôi nghe như vầy.

Một thuở nọ, ngài Ānanda trú tại Rājagaha (Vương Xá), trong rừng tre Veḷuvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng sóc (Kalandakanivāpa), không lâu sau khi Đức Thế Tôn nhập Niết-bàn.

Lúc bấy giờ, vua Ajātasattu (A-xà-thế) nước Magadha (Ma-kiệt-đà), con của công chúa Videha, đang cho củng cố Rājagaha vì e ngại vua Pajjota.

[Chú thích: Vua Pajjota xứ Avanti đã gây dựng một mạng lưới liên minh hôn nhân rộng khắp: vợ ông là Śivā, con gái Ceṭaka dòng Licchavī; cháu ngoại ông là thái tử Bodhi xứ Bhagga; em gái ông lấy Subāhu xứ Madhurā. Nhờ vậy Pajjota có đồng minh ở Avanti, Bhagga, Vaccha, Sūrasena và cả Vajjī, tức những nước ở phía tây và phía bắc Magadha. Ajātasattu vừa giết cha là Bimbisāra nên thấy kẻ thù bốn phía, còn nỗi sợ Pajjota không phải hão huyền vì Pajjota nổi tiếng về voi chiến.]

Rồi vào buổi sáng, ngài Ānanda đắp y, cầm bát và y, đi vào Rājagaha để khất thực.

Rồi ngài Ānanda suy nghĩ như vầy:

"Còn quá sớm để đi khất thực trong Rājagaha.

Hay là ta hãy đến nơi làm việc của bà-la-môn Gopakamoggallāna, đến chỗ bà-la-môn Gopakamoggallāna."

Rồi ngài Ānanda đi đến nơi làm việc của bà-la-môn Gopakamoggallāna, đến chỗ bà-la-môn Gopakamoggallāna.

Bà-la-môn Gopakamoggallāna thấy ngài Ānanda từ xa đang đi đến.

Thấy vậy, ông nói với ngài Ānanda:

"Mời ngài Ānanda lại đây.

Chào mừng ngài Ānanda.

Lâu lắm rồi ngài Ānanda mới có dịp đến đây.

Mời ngài Ānanda ngồi xuống, chỗ ngồi này đã sẵn."

Ngài Ānanda ngồi xuống chỗ ngồi đã được sắp đặt.

Bà-la-môn Gopakamoggallāna cũng lấy một chỗ ngồi thấp rồi ngồi xuống một bên.

Ngồi xuống một bên, bà-la-môn Gopakamoggallāna nói với ngài Ānanda:

"Thưa ngài Ānanda, có một vị tỳ-kheo nào có đủ các pháp ấy, trọn vẹn và mọi mặt, như các pháp mà ngài Gotama, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đã có hay không?"

"Thưa bà-la-môn, không có một vị tỳ-kheo nào có đủ các pháp ấy, trọn vẹn và mọi mặt, như các pháp mà Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đã có.

Vì này bà-la-môn, Đức Thế Tôn là bậc làm sinh khởi con đường chưa hề sinh khởi, bậc làm phát sinh con đường chưa hề phát sinh, bậc tuyên thuyết con đường chưa hề được tuyên thuyết; Ngài là bậc biết con đường, bậc thấu hiểu con đường, bậc thông suốt con đường.

[Chú thích: Lời này nối lại với điều Đức Thế Tôn đã nói ở bài kinh trước, rằng Ngài là người chỉ đường.]

Còn các đệ tử hiện nay thì sống theo con đường ấy, và về sau mới thành tựu được nó."

Cuộc đàm đạo giữa ngài Ānanda và bà-la-môn Gopakamoggallāna bị bỏ dở ở đó.

Rồi bà-la-môn Vassakāra, đại thần nước Magadha, đang đi giám sát công việc ở Rājagaha, đi đến nơi làm việc của bà-la-môn Gopakamoggallāna, đến chỗ ngài Ānanda; sau khi đến, ông chào hỏi ngài Ānanda.

[Chú thích: Hẳn Vassakāra vừa từ Pāṭaliputta, thành phố đang được xây ở phía bắc sông Gaṅgā và sau này thành kinh đô của đế quốc Magadha, trở về. Rājagaha được bao quanh bởi những ngọn đồi, nơi ngày nay còn thấy dấu tích của những bức thành cổ.]

Sau khi trao đổi những lời chào hỏi và câu chuyện thân mật, ông ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, bà-la-môn Vassakāra, đại thần nước Magadha, nói với ngài Ānanda:

"Thưa ngài Ānanda, hai vị vừa ngồi nói chuyện gì vậy, và cuộc nói chuyện của hai vị bị bỏ dở ở đâu?"

"Thưa bà-la-môn, ở đây bà-la-môn Gopakamoggallāna đã nói với tôi như vầy:

'Thưa ngài Ānanda, có một vị tỳ-kheo nào có đủ các pháp ấy, trọn vẹn và mọi mặt, như các pháp mà ngài Gotama, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đã có hay không?'

Khi nghe nói vậy, thưa bà-la-môn, tôi đã nói với bà-la-môn Gopakamoggallāna như vầy:

'Thưa bà-la-môn, không có một vị tỳ-kheo nào có đủ các pháp ấy, trọn vẹn và mọi mặt, như các pháp mà Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đã có.

Vì này bà-la-môn, Đức Thế Tôn là bậc làm sinh khởi con đường chưa hề sinh khởi, bậc làm phát sinh con đường chưa hề phát sinh, bậc tuyên thuyết con đường chưa hề được tuyên thuyết; Ngài là bậc biết con đường, bậc thấu hiểu con đường, bậc thông suốt con đường.

Còn các đệ tử hiện nay thì sống theo con đường ấy, và về sau mới thành tựu được nó.'

Thưa bà-la-môn, đó là cuộc nói chuyện giữa tôi với bà-la-môn Gopakamoggallāna còn dang dở.

Và bấy giờ ông đã đến."

"Thưa ngài Ānanda, có một vị tỳ-kheo nào được ngài Gotama ấy chỉ định rằng:

'Vị này sẽ là chỗ nương tựa cho các ông sau khi ta qua đời', để các ông nay nương tựa vào hay không?"

[Chú thích: Bản Mahāsaṅgīti ghi paṭipādeyyātha, còn các bản BJT, PTS, Thái Lan và Khmer ghi paṭidhāveyyātha, nghĩa là 'chạy đến nương tựa'. Ở đây dịch theo nghĩa 'nương tựa' mà bản Mahāsaṅgīti hàm ý.]

"Thưa bà-la-môn, không có một vị tỳ-kheo nào được Đức Thế Tôn, bậc biết và thấy, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, chỉ định rằng:

[Chú thích: Trước khi nhập Niết-bàn không lâu, Đức Thế Tôn đã nói rõ điều này với ngài Ānanda.]

'Vị này sẽ là chỗ nương tựa cho các ông sau khi ta qua đời', để chúng tôi nay nương tựa vào."

"Nhưng thưa ngài Ānanda, có một vị tỳ-kheo nào được Tăng đoàn chấp thuận, được nhiều vị trưởng lão tỳ-kheo chỉ định rằng:

[Chú thích: Luật tạng có những thủ tục để Tăng đoàn cử người đảm nhận các việc cần thiết, như phân chia chỗ ở hay dạy các sa-di. Người được cử chỉ có thẩm quyền trong phạm vi công việc ấy, không có quyền lãnh đạo toàn thể Tăng đoàn. Kỳ kết tập lần thứ nhất theo đúng tiền lệ này: ngài Ānanda được cử tụng kinh, ngài Upāli tụng Luật, còn ngài Mahākassapa chủ trì nhưng mọi quyết định đều do Tăng đoàn đồng thuận.]

'Vị này sẽ là chỗ nương tựa cho chúng tôi sau khi Đức Thế Tôn qua đời', để các ông nay nương tựa vào hay không?"

"Thưa bà-la-môn, không có một vị tỳ-kheo nào được Tăng đoàn chấp thuận, được nhiều vị trưởng lão tỳ-kheo chỉ định rằng:

'Vị này sẽ là chỗ nương tựa cho chúng tôi sau khi Đức Thế Tôn qua đời', để chúng tôi nay nương tựa vào."

"Như vậy là không có chỗ nương tựa, thưa ngài Ānanda, vậy đâu là lý do của sự hòa hợp?"

[Chú thích: Trước đó không lâu, Đức Thế Tôn đã dạy Vassakāra tám pháp không suy giảm, nhờ đó dòng Licchavī cũng như Tăng đoàn hưng thịnh vì hòa hợp. Khi ấy Vassakāra đã nói thẳng rằng muốn thắng dòng Licchavī thì phải dùng hối lộ hoặc chia rẽ. Nay ông trở lại câu hỏi về sức mạnh của sự hòa hợp, điều liên quan cả đến việc làm suy yếu kẻ thù lẫn việc củng cố Magadha.]

"Thưa bà-la-môn, chúng tôi không phải là những người không có chỗ nương tựa.

Chúng tôi có chỗ nương tựa, thưa bà-la-môn.

Chúng tôi nương tựa vào Pháp."

[Chú thích: Điều này đã được dạy cho ngài Ānanda ở DN 16:4.7.3. Về sau sẽ rõ, chữ 'Pháp' ở đây bao gồm cả Pháp và Luật.]

"Nhưng thưa ngài Ānanda, khi được hỏi: 'Có một vị tỳ-kheo nào được ngài Gotama ấy chỉ định' —

'Vị này sẽ là chỗ nương tựa cho các ông sau khi ta qua đời', để các ông nay nương tựa vào —

Được hỏi như vậy, ngài đã trả lời: 'Thưa bà-la-môn, không có một vị tỳ-kheo nào được Đức Thế Tôn, bậc biết và thấy, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, chỉ định' —

'Vị này sẽ là chỗ nương tựa cho các ông sau khi ta qua đời', để chúng tôi nay nương tựa vào — ngài nói vậy;

'Nhưng có một vị tỳ-kheo nào được Tăng đoàn chấp thuận, được nhiều vị trưởng lão tỳ-kheo chỉ định —"


"Vị này sẽ là chỗ nương tựa cho chúng tôi sau khi Đức Thế Tôn qua đời', để các ông nay nương tựa vào —

Được hỏi như vậy, ngài đã trả lời: 'Thưa bà-la-môn, không có một vị tỳ-kheo nào được Tăng đoàn chấp thuận, được nhiều vị trưởng lão tỳ-kheo chỉ định' —

'Vị này sẽ là chỗ nương tựa cho chúng tôi sau khi Đức Thế Tôn qua đời', để chúng tôi nay nương tựa vào —

Ngài đã nói như vậy;

'Như vậy là không có chỗ nương tựa, thưa ngài Ānanda, vậy đâu là lý do của sự hòa hợp?' — được hỏi như vậy, ngài đã trả lời: 'Thưa bà-la-môn, chúng tôi không phải là những người không có chỗ nương tựa.

Chúng tôi có chỗ nương tựa, thưa bà-la-môn;

Chúng tôi nương tựa vào Pháp' — ngài nói vậy.

Nhưng thưa ngài Ānanda, lời nói ấy nên được hiểu như thế nào?"

"Thưa bà-la-môn, Đức Thế Tôn, bậc biết và thấy, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đã chế định học giới cho các tỳ-kheo và tụng đọc giới bổn Pātimokkha.

[Chú thích: Giới bổn Pātimokkha thời đầu có hơn một trăm năm mươi điều, còn bản Pali hiện nay có 227 điều cho tỳ-kheo. Trước khi có các điều ấy, buổi tụng đọc chung chỉ gồm những bài kệ gọi là Giới bổn Giáo giới. Mục đích chính của việc tụng đọc là tạo nên một cộng đồng thống nhất, cùng theo một nền đạo đức chung.]

Vào ngày bố-tát ấy, tất cả chúng tôi, những vị sống nương tựa vào một địa phận làng, đều tụ họp lại một chỗ.

[Chú thích: Ngày bố-tát rơi vào ngày 8, 14 hoặc 15 âm lịch, tức khoảng mỗi tuần một lần, nhưng giới bổn chỉ được tụng hai lần mỗi tháng, trừ ngày 8. 'Địa phận làng' là ngôi làng và ruộng đất quanh đó; Luật tạng quy định cách lập ranh giới để mọi tỳ-kheo cư trú trong đó đều phải có mặt. Có lẽ thông lệ thường là các tỳ-kheo cùng một địa phận làng tụ họp với nhau.]

Sau khi tụ họp, chúng tôi thỉnh vị nào đảm nhận việc truyền tụng giới bổn ấy.

[Chú thích: Động từ pavattati ở đây vừa có nghĩa 'truyền tụng', vừa gợi lại hình ảnh Đức Thế Tôn 'chuyển vận' bánh xe Pháp trong bài pháp đầu tiên. Bản chú giải giải thích cụm từ này là 'đến sau khi đã tụng tập'.]

Nếu trong khi tụng đọc ấy, vị tỳ-kheo có lỗi, có sự vi phạm, thì chúng tôi buộc vị ấy làm đúng theo Pháp và theo lời chỉ dạy.

[Chú thích: Lỗi nên được sám hối càng sớm càng tốt, nhưng nếu vì quên mà chưa sám hối, buổi tụng đọc có thể bị ngắt để sám hối. Ngày nay các tỳ-kheo thường sám hối trước buổi tụng để khỏi phải ngắt giữa chừng.]

Không phải chư tôn giả ấy buộc chúng tôi làm,

Mà chính Pháp buộc chúng tôi làm."

[Chú thích: Tăng đoàn hành xử theo sự hướng dẫn của Pháp và Luật, chứ không theo uy quyền của bất cứ cá nhân nào. Điều này hợp với lời dạy cuối cùng của Đức Thế Tôn: 'Pháp và Luật ta đã dạy và chỉ ra cho các ông sẽ là Thầy của các ông sau khi ta qua đời'.]

"Thưa ngài Ānanda, có một vị tỳ-kheo nào mà hiện nay các vị kính trọng, tôn trọng, kính mến, cúng dường, và sau khi kính trọng, tôn trọng, nương tựa vào vị ấy mà sống hay không?"

"Thưa bà-la-môn, không có một vị tỳ-kheo nào mà hiện nay chúng tôi kính trọng, tôn trọng, kính mến, cúng dường, và sau khi kính trọng, tôn trọng, nương tựa vào vị ấy mà sống."

[Chú thích: Bản Mahāsaṅgīti và BJT ghi natthi, nghĩa là 'không có', còn bản PTS ghi atthi, nghĩa là 'có'. Bản chú giải không nói gì và các bản đều không ghi dị bản, nên rất có thể PTS đã sửa chữ để tạo thế đối lập với vị tỳ-kheo được nương tựa. Nhưng theo bản Mahāsaṅgīti, ý đối lập nằm ở chỗ: không kính trọng một cá nhân nào, mà kính trọng bất cứ ai có đủ những phẩm chất ấy.]

"Thưa ngài Ānanda, khi được hỏi: 'Có một vị tỳ-kheo nào được ngài Gotama ấy chỉ định' —

'Vị này sẽ là chỗ nương tựa cho các ông sau khi ta qua đời', để các ông nay nương tựa vào —

Được hỏi như vậy, ngài đã trả lời: 'Thưa bà-la-môn, không có một vị tỳ-kheo nào được Đức Thế Tôn, bậc biết và thấy, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, chỉ định' —

'Vị này sẽ là chỗ nương tựa cho các ông sau khi ta qua đời', để chúng tôi nay nương tựa vào — ngài nói vậy;

'Nhưng có một vị tỳ-kheo nào được Tăng đoàn chấp thuận, được nhiều vị trưởng lão tỳ-kheo chỉ định' —

'Vị này sẽ là chỗ nương tựa cho chúng tôi sau khi Đức Thế Tôn qua đời', để các ông nay nương tựa vào —

Được hỏi như vậy, ngài đã trả lời: 'Thưa bà-la-môn, không có một vị tỳ-kheo nào được Tăng đoàn chấp thuận, được nhiều vị trưởng lão tỳ-kheo chỉ định' —

'Vị này sẽ là chỗ nương tựa cho chúng tôi sau khi Đức Thế Tôn qua đời', để chúng tôi nay nương tựa vào — ngài nói vậy;

'Có một vị tỳ-kheo nào mà hiện nay các vị kính trọng, tôn trọng, kính mến, cúng dường, sau khi kính trọng, tôn trọng, nương tựa vào vị ấy mà sống hay không?' —

Được hỏi như vậy, ngài đã trả lời: 'Thưa bà-la-môn, không có một vị tỳ-kheo nào mà hiện nay chúng tôi kính trọng, tôn trọng, kính mến, cúng dường, sau khi kính trọng, tôn trọng, nương tựa vào vị ấy mà sống' — ngài nói vậy.

Nhưng thưa ngài Ānanda, lời nói ấy nên được hiểu như thế nào?"

"Thưa bà-la-môn, Đức Thế Tôn, bậc biết và thấy, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đã tuyên thuyết mười pháp đáng khởi tín.

[Chú thích: Mười pháp ấy là giới, sự nghe nhiều, sự biết đủ, bốn tầng thiền-na tính chung là một pháp, và sáu thắng trí. Từng phần đều được dạy nhiều lần trong kinh, nhưng cả bộ mười pháp như ở đây thì không thấy ở chỗ khác.]

Hiện nay, người nào có đủ những pháp ấy thì chúng tôi kính trọng, tôn trọng, kính mến, cúng dường người ấy; sau khi kính trọng và tôn trọng, chúng tôi nương tựa vào vị ấy mà sống.

Mười pháp ấy là những gì?

Này bà-la-môn, ở đây vị tỳ-kheo có giới, sống thu thúc theo giới bổn Pātimokkha, đầy đủ oai nghi và chỗ đi lại, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, và học tập các học giới sau khi đã thọ trì.

Vị ấy nghe nhiều, ghi nhớ những gì đã nghe, tích lũy những gì đã nghe.

Những pháp nào là thiện ở đầu, thiện ở giữa, thiện ở cuối, có ý nghĩa và có văn cú, tuyên bố đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và trong sạch, thì những pháp như vậy được vị ấy nghe nhiều, ghi nhớ, tụng đọc bằng lời, quán sát bằng ý, và thấu suốt bằng kiến.

Vị ấy biết đủ với y phục, đồ ăn khất thực, chỗ trú, và thuốc men cùng vật dụng trị bệnh.

Vị ấy được bốn tầng thiền-na, những trạng thái thuộc tâm cao thượng, những sự an trú an lạc ngay trong đời này, khi muốn là được, không khó khăn, không vất vả.

Vị ấy thực hiện nhiều loại thần thông khác nhau: một thân thành nhiều thân, nhiều thân thành một; hiện ra rồi biến mất; đi xuyên qua tường, qua thành lũy, qua núi mà không bị cản, như đi trong hư không; trồi lên lặn xuống trong đất như trong nước; đi trên nước mà không chìm, như đi trên đất; ngồi kiết già bay trong hư không như con chim; lấy tay chạm và xoa mặt trăng, mặt trời, những vật có thần lực và uy lực lớn như vậy; và dùng thân mình chi phối cho đến tận cõi Phạm Thiên.

Với thiên nhĩ thanh tịnh, vượt xa mức người, vị ấy nghe hai loại âm thanh: âm thanh của chư thiên và âm thanh của loài người, ở xa và ở gần.

Vị ấy dùng tâm mình bao trùm tâm của các chúng sinh khác, các cá nhân khác mà hiểu rõ.

Vị ấy hiểu tâm có tham là 'tâm có tham'.

Vị ấy hiểu tâm không tham là 'tâm không tham'.

Vị ấy hiểu tâm có sân là 'tâm có sân'.

Vị ấy hiểu tâm không sân là 'tâm không sân'.

Vị ấy hiểu tâm có si là 'tâm có si'.

Vị ấy hiểu tâm không si là 'tâm không si'.

Vị ấy hiểu tâm thu hẹp là 'tâm thu hẹp'.

Vị ấy hiểu tâm tán loạn là 'tâm tán loạn'.

Vị ấy hiểu tâm rộng lớn là 'tâm rộng lớn'.

Vị ấy hiểu tâm không rộng lớn là 'tâm không rộng lớn'.

Vị ấy hiểu tâm còn bậc cao hơn là 'tâm còn bậc cao hơn'.

Vị ấy hiểu tâm không còn bậc cao hơn là 'tâm không còn bậc cao hơn'."


"Vị ấy hiểu tâm định là 'tâm định'.

Vị ấy hiểu tâm không định là 'tâm không định'.

Vị ấy hiểu tâm giải thoát là 'tâm giải thoát'.

Vị ấy hiểu tâm không giải thoát là 'tâm không giải thoát'.

Vị ấy nhớ lại nhiều đời sống trước của mình, đó là: một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời; nhiều kiếp thế giới co lại, nhiều kiếp thế giới giãn ra, nhiều kiếp thế giới co lại và giãn ra: 'Ở nơi kia, ta đã có tên như vậy, dòng họ như vậy, dung sắc như vậy, thức ăn như vậy, cảm thọ khổ vui như vậy, tuổi thọ như vậy; từ chỗ ấy chết đi, ta đã sinh ra ở nơi khác. Ở nơi ấy, ta cũng có tên như vậy, dòng họ như vậy, dung sắc như vậy, thức ăn như vậy, cảm thọ khổ vui như vậy, tuổi thọ như vậy; từ chỗ ấy chết đi, ta đã sinh ra ở đây.' Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống trước, với các đặc điểm và các chi tiết.

Với thiên nhãn thanh tịnh, vượt xa mức người, vị ấy thấy các chúng sinh đang chết đi và đang sinh ra, kẻ hạ liệt kẻ cao quý, kẻ đẹp kẻ xấu, kẻ đi đến chỗ lành kẻ đi đến chỗ dữ; vị ấy hiểu rõ các chúng sinh đều đi theo nghiệp của mình.

Do các lậu hoặc đã tận, vị ấy ngay trong đời này tự mình chứng tri bằng thắng trí, chứng đạt và an trú vào tâm giải thoát và tuệ giải thoát không còn lậu hoặc.

Này bà-la-môn, đó là mười pháp đáng khởi tín mà Đức Thế Tôn, bậc biết và thấy, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đã tuyên thuyết.

Hiện nay, người nào có đủ những pháp ấy thì chúng tôi kính trọng, tôn trọng, kính mến, cúng dường người ấy; sau khi kính trọng và tôn trọng, chúng tôi nương tựa vào vị ấy mà sống."

[Chú thích: Kinh tạng ghi lại nhiều vị tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni có những phẩm chất như vậy.]

Khi nghe nói vậy, bà-la-môn Vassakāra, đại thần nước Magadha, nói với tướng quân Upananda:

[Chú thích: Vị Upananda này không xuất hiện ở chỗ nào khác, và bản chú giải cũng không nói gì.]

"Ngài nghĩ sao, thưa tướng quân: các vị tôn giả này kính trọng người đáng kính trọng, tôn trọng người đáng tôn trọng,

[Chú thích: Ở đây theo cách chấm câu của bản Mahāsaṅgīti, không theo bản PTS.]

Kính mến người đáng kính mến, và cúng dường người đáng cúng dường không?"

"Quả đúng vậy, các vị ấy kính trọng người đáng kính trọng, tôn trọng người đáng tôn trọng, kính mến người đáng kính mến, cúng dường người đáng cúng dường.

Vì nếu các vị ấy không kính trọng, không tôn trọng, không kính mến, không cúng dường vị ấy,

Thì các vị ấy còn kính trọng, tôn trọng, kính mến, cúng dường ai nữa, và sau khi kính trọng, tôn trọng, kính mến, cúng dường, còn nương tựa vào ai mà sống?"

Rồi bà-la-môn Vassakāra, đại thần nước Magadha, nói với ngài Ānanda:

"Vậy hiện nay ngài Ānanda đang trú ở đâu?"

"Thưa bà-la-môn, hiện nay tôi đang trú ở Veḷuvana."

"Thưa ngài Ānanda, chẳng hay Veḷuvana có phải là nơi khả ái, ít tiếng động, ít ồn ào, vắng vẻ xa chỗ người ở, kín đáo, thích hợp cho sự tĩnh cư không?"

"Thưa bà-la-môn, đúng vậy, Veḷuvana là nơi khả ái, ít tiếng động, ít ồn ào, vắng vẻ xa chỗ người ở, kín đáo, thích hợp cho sự tĩnh cư, nhờ những người bảo vệ, gìn giữ như ông."

[Chú thích: Ngài Ānanda khéo léo ghi nhận sự che chở của nhà nước Magadha. Ngay cả một vị vua đầy lỗi như Ajātasattu cũng chu toàn bổn phận bảo vệ những người đi tìm đạo.]

"Thưa ngài Ānanda, đúng vậy, Veḷuvana là nơi khả ái, ít tiếng động, ít ồn ào, vắng vẻ xa chỗ người ở, kín đáo, thích hợp cho sự tĩnh cư, nhờ những vị như ngài, những người thiền và quen nếp thiền.

[Chú thích: jhānasīlī nghĩa là 'quen nếp thiền'. Trong cả đoạn này, chữ jhāna được dịch là 'thiền' theo nghĩa rộng, vì đây là bài kinh duy nhất nói đến một thứ thiền còn mang triền cái. Bản Hán tương ứng cũng dùng những chữ thông thường ở đây, cho thấy cách chơi chữ này là có chủ ý.]

Quả thật, các ngài ấy thiền và quen nếp thiền.

Thưa ngài Ānanda, có một lần ngài Gotama ấy trú tại Vesālī (Tỳ-xá-li), trong Đại Lâm, tại giảng đường có mái nhọn.

Rồi thưa ngài Ānanda, tôi đi đến Đại Lâm, đến giảng đường có mái nhọn, đến chỗ ngài Gotama ấy.

Và tại đó, ngài Gotama ấy đã nói về thiền bằng nhiều cách.

Ngài Gotama ấy quả thật thiền và quen nếp thiền.

Và ngài Gotama ấy ca ngợi mọi thứ thiền."

"Này bà-la-môn, Đức Thế Tôn không ca ngợi mọi thứ thiền, nhưng cũng không phải Ngài chê bỏ tất cả.

Vậy này bà-la-môn, thứ thiền nào Đức Thế Tôn không ca ngợi?

Ở đây, này bà-la-môn, có người sống với tâm bị tham dục xâm chiếm, bị tham dục trói chặt, và không như thật biết sự xuất ly khỏi tham dục đã sinh.

Vị ấy giấu chính tham dục ấy vào bên trong mà thiền, thiền mãi, thiền sâu, thiền lệch lạc.

Vị ấy sống với tâm bị sân hận xâm chiếm, bị sân hận trói chặt, và không như thật biết sự xuất ly khỏi sân hận đã sinh.

Vị ấy giấu chính sân hận ấy vào bên trong mà thiền, thiền mãi, thiền sâu, thiền lệch lạc.

Vị ấy sống với tâm bị hôn trầm thụy miên xâm chiếm, bị hôn trầm thụy miên trói chặt, và không như thật biết sự xuất ly khỏi hôn trầm thụy miên đã sinh.

Vị ấy giấu chính hôn trầm thụy miên ấy vào bên trong mà thiền, thiền mãi, thiền sâu, thiền lệch lạc.

Vị ấy sống với tâm bị trạo cử hối quá xâm chiếm, bị trạo cử hối quá trói chặt, và không như thật biết sự xuất ly khỏi trạo cử hối quá đã sinh.

Vị ấy giấu chính trạo cử hối quá ấy vào bên trong mà thiền, thiền mãi, thiền sâu, thiền lệch lạc.

Vị ấy sống với tâm bị nghi hoặc xâm chiếm, bị nghi hoặc trói chặt, và không như thật biết sự xuất ly khỏi nghi hoặc đã sinh.

Vị ấy giấu chính nghi hoặc ấy vào bên trong mà thiền, thiền mãi, thiền sâu, thiền lệch lạc.

Này bà-la-môn, thứ thiền như vậy là thứ Đức Thế Tôn không ca ngợi.

Vậy này bà-la-môn, thứ thiền nào Đức Thế Tôn ca ngợi?

Ở đây, này bà-la-môn, vị tỳ-kheo ly các dục, ly các pháp bất thiện, chứng đạt và an trú vào tầng thiền-na thứ nhất, có tầm và tứ, với hỷ và lạc sinh khởi do sự ly dục.

Do sự lắng dịu của tầm và tứ, vị ấy chứng đạt và an trú vào tầng thiền-na thứ hai, với sự thanh tịnh bên trong và sự nhất tâm của tâm, không tầm không tứ, với hỷ và lạc sinh khởi do định.

Do sự ly hỷ, vị ấy trú xả, chánh niệm và tỉnh giác, cảm nhận lạc bằng thân, và chứng đạt và an trú vào tầng thiền-na thứ ba, mà các bậc thánh gọi là 'xả, chánh niệm, sống an lạc'.

Do sự đoạn trừ lạc và khổ, cùng với sự lắng xuống của hỷ và ưu đã có từ trước, vị ấy chứng đạt và an trú vào tầng thiền-na thứ tư, không khổ không lạc, với xả và chánh niệm thanh tịnh.

Này bà-la-môn, thứ thiền như vậy là thứ Đức Thế Tôn ca ngợi."

"Thưa ngài Ānanda, nghe ra ngài Gotama ấy chê thứ thiền đáng chê và khen thứ thiền đáng khen.

[Chú thích: Thường thì khi Đức Thế Tôn dạy về 'thiền', Ngài nói đến thứ thiền Ngài ca ngợi, tức bốn tầng thiền-na.]

Thôi, thưa ngài Ānanda, nay chúng tôi xin đi.

Chúng tôi còn nhiều việc, nhiều điều phải làm."

"Thưa bà-la-môn, ông hãy đi khi ông thấy thuận tiện."


Rồi bà-la-môn Vassakāra, đại thần nước Magadha, sau khi hoan hỷ và tán thán lời ngài Ānanda nói, đứng dậy khỏi chỗ ngồi và ra về.

Rồi bà-la-môn Gopakamoggallāna, khi bà-la-môn Vassakāra, đại thần nước Magadha, vừa đi khỏi không lâu, nói với ngài Ānanda:

"Thưa ngài Ānanda, điều chúng tôi hỏi ngài thì ngài đã không trả lời."

"Này bà-la-môn, chẳng phải chúng tôi đã nói với ông rằng:

'Không có một vị tỳ-kheo nào có đủ các pháp ấy, trọn vẹn và mọi mặt, như các pháp mà Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đã có.

[Chú thích: Bản Hán tương ứng ở đây lại nhấn mạnh rằng không có sự khác biệt giữa giải thoát của Đức Thế Tôn và giải thoát của các đệ tử A-la-hán.]

Vì này bà-la-môn, Đức Thế Tôn là bậc làm sinh khởi con đường chưa hề sinh khởi, bậc làm phát sinh con đường chưa hề phát sinh, bậc tuyên thuyết con đường chưa hề được tuyên thuyết; Ngài là bậc biết con đường, bậc thấu hiểu con đường, bậc thông suốt con đường.

Còn các đệ tử hiện nay thì sống theo con đường ấy, và về sau mới thành tựu được nó.'"

[Chú thích: Ngài Ānanda làm rõ rằng câu trả lời ban đầu của mình đã trọn nghĩa: đây chính là phẩm chất phân biệt Đức Thế Tôn với các đệ tử. Bản Pali thiếu lời kết thông thường, còn bản Hán kết thúc bằng việc bà-la-môn mời ngài Ānanda dùng bữa.]

Kinh Gopakamoggallāna, bài thứ tám, đã kết thúc.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →