Trung Bộ Kinh · bài 51/152
Kinh Kandaraka
Kandaraka Sutta — bài kinh về cuộc gặp gỡ giữa du sĩ Kandaraka, người quản tượng Pessa và Đức Thế Tôn, cùng bốn hạng người trong đời
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Kandaraka (Kandaraka Sutta) là bài kinh thứ 51 trong Trung Bộ Kinh, bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Chuyện xảy ra ở Campā (Chiêm-bà), bên bờ hồ sen Gaggarā. Hai người khách cùng đến thăm Đức Thế Tôn: một là du sĩ Kandaraka, người đi lang thang tu học theo cách của các đạo sư thời ấy; hai là Pessa, con trai của một người quản tượng, tức người điều khiển và huấn luyện voi, một nghề rất có uy tín dưới thời các vua chúa.
Du sĩ Kandaraka đến trước và nói ngay điều mình thấy. Ông nhìn chúng tỳ-kheo đang ngồi im lặng như một khối, rồi thốt lên rằng thật kỳ diệu, thật hy hữu: Tăng đoàn này đã được ngài Gotama hướng dẫn thực hành đúng đắn đến mức mà các bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác trong quá khứ cũng như trong tương lai, dù giỏi đến đâu, cũng chỉ có thể làm được như vậy. Đức Thế Tôn xác nhận lời ấy, và chỉ thêm rằng trong chúng này quả thật có những vị đã đoạn tận các lậu hoặc, cùng những vị còn đang trên đường học tập, giữ giới liên tục và an lập tâm trong bốn niệm xứ.
Rồi Pessa lên tiếng. Ông không nói về Tăng đoàn mà nói về chính mình: người tại gia mặc áo trắng cũng thực hành bốn niệm xứ ấy, và điều làm ông kinh ngạc là Đức Thế Tôn hiểu được lòng người giữa một thế giới mà loài người vốn rậm rạp, hỗn tạp và dối trá. Ông kể một chuyện nhỏ để so sánh: một con voi đang được huấn luyện, chỉ trong quãng đường đi về Campā, đã bày ra hết mọi trò xảo trá của nó; còn những người nô lệ và người làm công của ông thì thân làm một đằng, lời nói một nẻo, tâm lại một nẻo khác. Điều ấy khiến ông tin rằng con người khó đọc hơn loài vật rất nhiều.
Từ đó Đức Thế Tôn đưa ra một cách phân loại mà cả bài kinh xoay quanh: trên đời có bốn hạng người. Hạng thứ nhất tự hành hạ mình — đó là những người ở trần, ăn uống kham khổ, ngủ trên gai, hành hạ thân xác đủ cách. Hạng thứ hai hành hạ người khác — những kẻ giết cừu, giết heo, đi săn, đánh cá, làm đao phủ, làm cai ngục. Hạng thứ ba vừa hành hạ mình vừa hành hạ người khác — đó là một vị vua hay một bà-la-môn giàu có tổ chức đại tế lễ, tự làm khổ mình bằng nghi thức và giết hại sinh vật để dâng lên thần linh. Hạng thứ tư thì không hành hạ ai cả, và sống ngay trong đời này với tâm không còn khao khát, đã lặng yên, đã mát lạnh.
Pessa nói ngay rằng chỉ hạng thứ tư làm ông hài lòng, và lý do ông đưa ra rất đơn giản: ba hạng đầu đều làm khổ những chúng sinh vốn chỉ muốn được vui và vốn ghê sợ đau. Ông xin phép ra về vì còn nhiều việc. Đức Thế Tôn tiễn ông, rồi quay sang các tỳ-kheo mà nói rằng Pessa là người có trí tuệ lớn; nếu ông ngồi lại thêm một chút để nghe Ngài phân tích bốn hạng người ấy, ông đã được lợi ích rất nhiều. Các tỳ-kheo bèn thỉnh Ngài giảng, và phần còn lại của bài kinh, cũng là phần dài nhất, chính là lời giảng ấy.
Người đọc hôm nay có thể theo bài kinh ở hai tầng. Tầng thứ nhất là câu hỏi rất đời: làm khổ mình, làm khổ người, hay không làm khổ ai, cách nào đáng sống? Bài kinh không trả lời bằng một khẩu hiệu mà bằng bốn chân dung cụ thể, trong đó chân dung thứ tư được vẽ bằng cả một lộ trình: xuất gia, giữ giới, thu thúc các căn, ngồi lại một mình, bỏ năm chướng ngại, vào bốn tầng thiền-na, rồi nhớ lại các đời sống trước, thấy chúng sinh chết đi sinh lại theo nghiệp, và cuối cùng đoạn tận các lậu hoặc. Tầng thứ hai là một nhận xét kín đáo về con người: kẻ hành hạ mình tin rằng khổ đau tự nó là thanh tịnh, kẻ hành hạ người tin rằng lợi ích của mình nằm ở chỗ người khác chịu đau, còn người tế lễ tin rằng có thể mua được ân huệ của trời bằng máu. Cả ba đều đặt khổ đau vào trung tâm của đời sống; hạng người thứ tư thì không.
Tôi nghe như vầy.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Campā (Chiêm-bà), bên bờ hồ sen Gaggarā, cùng với một đại chúng tỳ-kheo.
[Chú thích: Campā là thị trấn Champapur ngày nay, gần Bhagalpur thuộc bang Bihar, vào khoảng nơi xa nhất về phía đông trong các chuyến đi của Đức Thế Tôn; đây là kinh đô của xứ Aṅga, một trong mười sáu nước lớn. Gaggarā là một từ láy tượng thanh, mô phỏng tiếng nước ục ục, và là tên của nhiều con sông hay xoáy nước trong tiếng Phạn.]
Rồi Pessa, con trai người quản tượng, và du sĩ Kandaraka cùng đi đến chỗ Đức Thế Tôn. Đến nơi, Pessa con trai người quản tượng đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
[Chú thích: Thag 1.77 được ghi cho một người cũng gọi là con trai người quản tượng, nhưng theo bản chú giải thì đó là người khác. Ngoài bài kinh này, hai nhân vật ấy không xuất hiện ở chỗ nào khác.]
Còn du sĩ Kandaraka thì trao đổi những lời chào hỏi thân thiện với Đức Thế Tôn. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện, đáng ghi nhớ ấy, ông đứng sang một bên.
Đứng sang một bên, du sĩ Kandaraka nhìn khắp chúng tỳ-kheo đang im lặng, im lặng đến lạ thường, rồi bạch Đức Thế Tôn:
"Thật kỳ diệu thay, thưa ngài Gotama, thật hy hữu thay, thưa ngài Gotama!
Chúng tỳ-kheo này đã được ngài Gotama hướng dẫn thực hành đúng đắn biết bao!
Thưa ngài Gotama, những bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác trong quá khứ, chính các Đức Thế Tôn ấy cũng chỉ hướng dẫn chúng tỳ-kheo thực hành đúng đắn đến mức ấy thôi:
cũng giống như ngài Gotama hiện nay đang hướng dẫn chúng tỳ-kheo thực hành đúng đắn.
[Chú thích: Thân phận du sĩ ngoại đạo của Kandaraka không ngăn cản lòng tin của ông nơi Đức Thế Tôn.]
Thưa ngài Gotama, những bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác sẽ xuất hiện trong tương lai, chính các Đức Thế Tôn ấy cũng sẽ chỉ hướng dẫn chúng tỳ-kheo thực hành đúng đắn đến mức ấy thôi:
cũng giống như ngài Gotama hiện nay đang hướng dẫn chúng tỳ-kheo thực hành đúng đắn."
"Đúng như vậy, này Kandaraka, đúng như vậy, này Kandaraka.
[Chú thích: Sau lần trao đổi này, bài kinh không kể gì thêm về Kandaraka.]
Này Kandaraka, những bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác trong quá khứ, chính các Đức Thế Tôn ấy cũng chỉ hướng dẫn chúng tỳ-kheo thực hành đúng đắn đến mức ấy thôi:
cũng giống như Ta hiện nay đang hướng dẫn chúng tỳ-kheo thực hành đúng đắn.
Này Kandaraka, những bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác sẽ xuất hiện trong tương lai, chính các Đức Thế Tôn ấy cũng sẽ chỉ hướng dẫn chúng tỳ-kheo thực hành đúng đắn đến mức ấy thôi:
cũng giống như Ta hiện nay đang hướng dẫn chúng tỳ-kheo thực hành đúng đắn.
Này Kandaraka, trong chúng tỳ-kheo này quả có những tỳ-kheo là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc, đã sống xong đời phạm hạnh, đã làm xong việc cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt đến mục đích của mình, đã đoạn tận các kiết sử đưa đến tái sinh, đã giải thoát hoàn toàn nhờ chánh tuệ.
Này Kandaraka, trong chúng tỳ-kheo này quả có những tỳ-kheo hữu học, những bậc còn đang trên đường học tập, giữ giới liên tục, sinh hoạt liên tục, tỉnh giác, sinh hoạt tỉnh giác;
[Chú thích: Nipaka được truyền thống Pali giải thích là người có trí tuệ, nhưng gốc từ pāl lại gợi nghĩa canh chừng, tỉnh giác. Nghĩa ấy được củng cố bởi những cụm như chánh niệm canh chừng, tỉnh giác canh chừng trong AN 5.114, nơi nipaka đi đôi với ārakkha, tức sự canh giữ. Trong tiếng Vệ-đà, từ này cũng mang nghĩa người canh gác, người bảo vệ.]
Các vị ấy sống với tâm được an lập vững chắc trong bốn niệm xứ.
Bốn là những gì?
Ở đây, này Kandaraka, vị tỳ-kheo sống quán thân nơi thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã loại bỏ tham lam và ưu não ở đời;
sống quán thọ nơi các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã loại bỏ tham lam và ưu não ở đời;
sống quán tâm nơi tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã loại bỏ tham lam và ưu não ở đời;
sống quán pháp nơi các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã loại bỏ tham lam và ưu não ở đời."
Khi nghe nói vậy, Pessa, con trai người quản tượng, bạch Đức Thế Tôn:
"Thật kỳ diệu thay, bạch Thế Tôn, thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn!
Bạch Thế Tôn, bốn niệm xứ này đã được Đức Thế Tôn khéo giảng giải biết bao — vì sự thanh tịnh của chúng sinh, vì sự vượt qua sầu bi, vì sự chấm dứt khổ và ưu, vì sự đạt đến đúng con đường, vì sự chứng ngộ Niết-bàn.
[Chú thích: Cụm yāva supaññattā cũng xuất hiện ở DN 18:22.3; đó là một biến thể của cụm quen thuộc yāva subhāsita, tức được khéo nói.]
Bạch Thế Tôn, chính chúng con là những người tại gia mặc áo trắng cũng thỉnh thoảng sống với tâm được an lập vững chắc trong bốn niệm xứ này.
[Chú thích: Đức Thế Tôn có khi dạy người tại gia những phép quán niệm mang tính tín ngưỡng, như sáu phép tùy niệm, nhưng những đoạn như đoạn này cho thấy không có khác biệt căn bản giữa thiền quán của người tại gia và của người xuất gia.]
Bạch Thế Tôn, ở đây chúng con sống quán thân nơi thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã loại bỏ tham lam và ưu não ở đời;
sống quán thọ nơi các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã loại bỏ tham lam và ưu não ở đời;
sống quán tâm nơi tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã loại bỏ tham lam và ưu não ở đời;
sống quán pháp nơi các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã loại bỏ tham lam và ưu não ở đời.
Thật kỳ diệu thay, bạch Thế Tôn, thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn!
Đức Thế Tôn biết đâu là điều lợi và đâu là điều hại cho chúng sinh biết bao, giữa khi loài người vẫn sống trong cảnh rậm rạp, hỗn tạp và dối trá như vậy!
Bạch Thế Tôn, loài người quả là rậm rạp khó thấy;
còn loài thú thì quả là phơi bày rõ ràng.
Bạch Thế Tôn, con có thể điều khiển một con voi đang được huấn luyện.
Chỉ trong quãng đường đi đi về về Campā, nó đã bày ra đủ mọi trò xảo trá, lừa lọc, quanh co, xiên vẹo của nó.
Nhưng bạch Thế Tôn, những người nô lệ, người hầu, người làm công của con thì thân làm một đằng, lời nói một nẻo, và tâm chúng lại một nẻo khác.
Thật kỳ diệu thay, bạch Thế Tôn, thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn!
Đức Thế Tôn biết đâu là điều lợi và đâu là điều hại cho chúng sinh biết bao, giữa khi loài người vẫn sống trong cảnh rậm rạp, hỗn tạp và dối trá như vậy!
Bạch Thế Tôn, loài người quả là rậm rạp khó thấy;
còn loài thú thì quả là phơi bày rõ ràng."
Đúng như vậy, này Pessa, đúng như vậy, này Pessa.
Này Pessa, loài người quả là rậm rạp khó thấy;
còn loài thú thì quả là phơi bày rõ ràng.
Này Pessa, có bốn hạng người này đang hiện hữu trên đời.
Bốn là những gì?
Ở đây, này Pessa, có hạng người tự hành hạ mình, chuyên tâm vào việc tự hành hạ mình;
[Chú thích: "Tự hành hạ mình" là attantapo.]
ở đây, này Pessa, có hạng người hành hạ người khác, chuyên tâm vào việc hành hạ người khác.
ở đây, này Pessa, có hạng người vừa tự hành hạ mình, chuyên tâm vào việc tự hành hạ mình, vừa hành hạ người khác, chuyên tâm vào việc hành hạ người khác;
ở đây, này Pessa, có hạng người không tự hành hạ mình, không chuyên tâm vào việc tự hành hạ mình, cũng không hành hạ người khác, không chuyên tâm vào việc hành hạ người khác.
Vị ấy không tự hành hạ mình, không hành hạ người khác; ngay trong đời này vị ấy không còn khao khát, đã lặng yên, đã mát lạnh, cảm nhận hạnh phúc, an trú với tự thân đã trở thành phạm thiên.
[Chú thích: Cụm tự thân đã trở thành phạm thiên cố ý vang lại cách nói của Upaniṣad. Tiếng Pali thường được cho là không nói đến Brahman vũ trụ ở giống trung mà chỉ có Brahmā ở giống đực, nhưng cách hiểu tự thân hòa vào vị thần Brahman vẫn rất quen thuộc trong tiếng Phạn, và bản Pali ở đây hẳn cũng dùng nghĩa ấy để mô tả Niết-bàn.]
Này Pessa, trong bốn hạng người này, hạng người nào làm ông hài lòng?
"Bạch Thế Tôn, hạng người tự hành hạ mình, chuyên tâm vào việc tự hành hạ mình ấy, không làm con hài lòng.
Hạng người hành hạ người khác, chuyên tâm vào việc hành hạ người khác ấy, cũng không làm con hài lòng.
Hạng người vừa tự hành hạ mình, chuyên tâm vào việc tự hành hạ mình, vừa hành hạ người khác, chuyên tâm vào việc hành hạ người khác ấy, cũng không làm con hài lòng.
Còn bạch Thế Tôn, hạng người không tự hành hạ mình, không chuyên tâm vào việc tự hành hạ mình, cũng không hành hạ người khác, không chuyên tâm vào việc hành hạ người khác; vị ấy không tự hành hạ mình, không hành hạ người khác, ngay trong đời này không còn khao khát, đã lặng yên, đã mát lạnh, cảm nhận hạnh phúc, an trú với tự thân đã trở thành phạm thiên —
chính hạng người ấy làm con hài lòng."
"Vì sao, này Pessa, ba hạng người ấy không làm ông hài lòng?"
"Bạch Thế Tôn, hạng người tự hành hạ mình, chuyên tâm vào việc tự hành hạ mình, thì hành hạ và làm khổ chính mình, trong khi mình vốn muốn được vui và vốn ghê sợ đau —
vì lẽ ấy, hạng người này không làm con hài lòng.
Hạng người hành hạ người khác, chuyên tâm vào việc hành hạ người khác, thì hành hạ và làm khổ người khác, trong khi người khác cũng muốn được vui và cũng ghê sợ đau —
vì lẽ ấy, hạng người này không làm con hài lòng.
Hạng người vừa tự hành hạ mình, chuyên tâm vào việc tự hành hạ mình, vừa hành hạ người khác, chuyên tâm vào việc hành hạ người khác, thì hành hạ và làm khổ cả mình lẫn người, trong khi cả mình lẫn người đều muốn được vui và đều ghê sợ đau —
vì lẽ ấy, hạng người này không làm con hài lòng.
Còn bạch Thế Tôn, hạng người không tự hành hạ mình, không chuyên tâm vào việc tự hành hạ mình, cũng không hành hạ người khác, không chuyên tâm vào việc hành hạ người khác; vị ấy không tự hành hạ mình, không hành hạ người khác, ngay trong đời này không còn khao khát, đã lặng yên, đã mát lạnh, cảm nhận hạnh phúc, an trú với tự thân đã trở thành phạm thiên;
vị ấy không hành hạ và không làm khổ cả mình lẫn người, trong khi cả mình lẫn người đều muốn được vui và đều ghê sợ đau —
vì lẽ ấy, hạng người này làm con hài lòng.
Thôi, bạch Thế Tôn, nay chúng con xin đi;
chúng con còn nhiều việc, còn nhiều điều phải làm."
"Này Pessa, nay ông biết lúc nào là thích hợp thì đi."
Rồi Pessa, con trai người quản tượng, hoan hỷ tán thán lời Đức Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Đức Thế Tôn, đi vòng quanh Ngài về phía bên phải rồi ra về.
[Chú thích: Có lẽ Kandaraka cũng ra về. Bài kinh có cấu trúc lạ ở chỗ phần lớn giáo lý được giảng sau khi các nhân vật chính đã rời đi, khiến cuộc gặp gỡ này nghe như một cuộc tình cờ thật sự.]
Rồi Đức Thế Tôn, khi Pessa con trai người quản tượng vừa đi khỏi không lâu, gọi các tỳ-kheo:
"Này các tỳ-kheo, Pessa con trai người quản tượng là người có trí tuệ.
Này các tỳ-kheo, Pessa con trai người quản tượng có tuệ lớn.
Này các tỳ-kheo, nếu Pessa con trai người quản tượng ngồi lại thêm một lát để Ta phân tích bốn hạng người này một cách chi tiết, thì ông ấy đã được lợi ích lớn.
Dẫu vậy, này các tỳ-kheo, chỉ với chừng ấy, Pessa con trai người quản tượng cũng đã được lợi ích lớn."
"Bạch Thế Tôn, nay đã đến lúc; bạch Thiện Thệ, nay đã đến lúc
để Đức Thế Tôn phân tích bốn hạng người này một cách chi tiết. Sau khi nghe Đức Thế Tôn, các tỳ-kheo sẽ ghi nhớ."
"Vậy thì, này các tỳ-kheo, hãy nghe và khéo tác ý; Ta sẽ giảng."
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ-kheo ấy đáp lời Đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn nói như vầy:
Và thế nào, này các tỳ-kheo, là hạng người tự hành hạ mình, chuyên tâm vào việc tự hành hạ mình? Ở đây, này các tỳ-kheo, có người ở trần, không giữ lề thói, liếm tay, không nhận lời "hãy đến, này hiền giả", không dừng lại khi được mời "hãy đứng lại, này hiền giả"; không nhận thức ăn người ta mang đến, không nhận thức ăn làm riêng cho mình, không nhận lời mời ăn.
[Chú thích: Những phép tu này chính là những gì Đức Thế Tôn từng thực hành trước khi giác ngộ; xem chú thích ở MN 12:45.1.]
Vị ấy không nhận từ miệng nồi, không nhận từ miệng chén, không nhận ở nhà có nuôi cừu, không nhận ở nhà có cây gậy, không nhận ở nhà có chày giã, không nhận khi hai người đang ăn, không nhận từ người đàn bà có thai, không nhận từ người đàn bà đang cho con bú, không nhận từ người đàn bà đang ở với đàn ông, không nhận ở nơi có tin đồn, không nhận ở nơi có chó đứng chờ, không nhận ở nơi có ruồi bu từng bầy; vị ấy không ăn cá, không ăn thịt, không uống rượu, không uống men, không uống nước cháo lên men.
Vị ấy đi khất thực một nhà, ăn một miếng; hai nhà thì hai miếng; ba nhà thì ba miếng; bốn nhà thì bốn miếng; năm nhà thì năm miếng; sáu nhà thì sáu miếng; bảy nhà thì bảy miếng;
vị ấy sống bằng một chén nhỏ, bằng hai chén nhỏ, bằng ba chén nhỏ, bằng bốn chén nhỏ, bằng năm chén nhỏ, bằng sáu chén nhỏ, bằng bảy chén nhỏ;
vị ấy ăn mỗi ngày một lần, ăn hai ngày một lần, ăn ba ngày một lần, ăn bốn ngày một lần, ăn năm ngày một lần, ăn sáu ngày một lần, ăn bảy ngày một lần, cho đến nửa tháng một lần. Như vậy, vị ấy sống chuyên tâm vào việc ăn theo kỳ hạn.
Vị ấy ăn rau cỏ, ăn kê, ăn lúa hoang, ăn gạo xấu, ăn bèo cái, ăn cám, ăn nước cháo, ăn bột mè, ăn cỏ, ăn phân bò; sống bằng rễ và trái trong rừng, hoặc ăn trái rụng.
Vị ấy mặc vải gai, mặc vải gai pha, mặc vải liệm xác, mặc vải rách, mặc vỏ cây tirīṭa, mặc da linh dương, mặc da linh dương còn cả lông, mặc áo cỏ kusa, mặc áo vỏ cây, mặc áo bằng mảnh gỗ, mặc áo lông người, mặc áo lông đuôi ngựa, mặc áo cánh cú;
vị ấy nhổ tóc và râu, chuyên tâm vào việc nhổ tóc và râu;
vị ấy thường đứng, từ chối chỗ ngồi;
vị ấy ngồi xổm, chuyên tâm vào việc ngồi xổm;
vị ấy nằm trên đống gai, lấy đống gai làm chỗ nằm;
vị ấy chuyên tâm vào việc xuống nước tắm, kể cả lần thứ ba vào buổi chiều tối;
như vậy, vị ấy sống chuyên tâm vào nhiều cách khác nhau để hành hạ và làm khổ thân này.
Này các tỳ-kheo, đây gọi là hạng người tự hành hạ mình, chuyên tâm vào việc tự hành hạ mình.
Và thế nào, này các tỳ-kheo, là hạng người hành hạ người khác, chuyên tâm vào việc hành hạ người khác?
Ở đây, này các tỳ-kheo, có người làm nghề giết cừu, giết heo, giết chim, đi săn, đặt bẫy, đánh cá; làm kẻ cướp, làm đao phủ, làm đồ tể, làm cai ngục, hoặc làm bất cứ nghề nghiệp tàn ác nào khác.
Này các tỳ-kheo, đây gọi là hạng người hành hạ người khác, chuyên tâm vào việc hành hạ người khác.
Và thế nào, này các tỳ-kheo, là hạng người vừa tự hành hạ mình, chuyên tâm vào việc tự hành hạ mình, vừa hành hạ người khác, chuyên tâm vào việc hành hạ người khác?
Ở đây, này các tỳ-kheo, có người là một vị vua thuộc dòng quý tộc, đã được làm lễ quán đảnh, hoặc là một bà-la-môn giàu sang.
[Chú thích: Mô tả sống động này về lễ tế cũng có ở MN 94:12.2 và AN 4.198:6.2. Nhiều chi tiết ở đây rất gần với cách tế lễ trong Śatapatha Brāhmaṇa, nhất là chương 3, chỉ có điều thái độ ở đây hoàn toàn ngược lại.]
Vị ấy cho xây một nhà hội mới ở phía đông kinh thành, cạo bỏ râu tóc, mặc da linh dương thô, thoa bơ và dầu mè lên thân, vừa gãi lưng bằng sừng linh dương, vừa cùng với hoàng hậu và vị tế sư bà-la-môn bước vào nhà hội mới.
[Chú thích: Santhāgāra thường là nhà họp chung của thị dân, nhưng ở đây mượn thành ngữ yajñasya saṁsthā, tức sự hoàn tất lễ tế, nên hiểu là nhà để làm trọn lễ tế, và bản chú giải gọi là yaññasāla. Nhà tế lễ hướng về phía đông vì phương đông là phương của chư thiên. Người tế lễ cạo râu tóc, thoa bơ tươi, mặc áo vải mới nhưng ngồi trên da linh dương và gãi mình bằng sừng, theo đúng trình tự trong Śatapatha Brāhmaṇa.]
Vị ấy nằm xuống trên nền đất trống, nơi ấy đã được phủ cỏ xanh.
[Chú thích: Vị ấy nằm ngủ buổi tối cùng các bà vợ nhưng kiêng việc giao hợp. Việc rải cỏ là một phần quen thuộc của nghi lễ Vệ-đà.]
Từ một con bò cái có con bê cùng màu, sữa ở vú thứ nhất là phần của vua, sữa ở vú thứ hai là phần của hoàng hậu, sữa ở vú thứ ba là phần của vị tế sư bà-la-môn, sữa ở vú thứ tư được dâng vào lửa tế, còn phần còn lại thì con bê bú.
[Chú thích: Sau khi cạo tóc, người tế lễ uống sữa, và sữa được vắt từ những vú nhất định của con bò. Bò phải trắng với bê trắng, hoặc trong một nghi thức khác thì bò đen với bê trắng, tùy theo lễ.]
Vị ấy nói như vầy:
"Hãy giết bấy nhiêu bò đực để tế lễ, hãy giết bấy nhiêu bò tơ đực để tế lễ, hãy giết bấy nhiêu bò cái tơ để tế lễ, hãy giết bấy nhiêu dê để tế lễ, hãy giết bấy nhiêu cừu đực để tế lễ, hãy giết bấy nhiêu ngựa để tế lễ; hãy chặt bấy nhiêu cây để làm cột tế, hãy cắt bấy nhiêu cỏ darbha để làm thảm tế."
[Chú thích: Việc giết các con vật tế được mô tả tỉ mỉ trong Śatapatha Brāhmaṇa. Đáng chú ý là người tế lễ lẽ ra không được dùng chữ giết thông thường mà phải nói làm cho chúng bằng lòng, để chúng mong được dâng tế. Cây bị chặt để làm cột yūpa buộc con vật, cỏ darbha thì được rải trên bàn thờ.]
Những người nô lệ, người hầu, người làm công của vị ấy, bị đe dọa bằng roi gậy, bị đe dọa bằng nỗi sợ, mặt đầm đìa nước mắt, vừa khóc vừa làm những việc phụ giúp cho lễ tế.
Này các tỳ-kheo, đây gọi là hạng người vừa tự hành hạ mình, chuyên tâm vào việc tự hành hạ mình, vừa hành hạ người khác, chuyên tâm vào việc hành hạ người khác.
Và thế nào, này các tỳ-kheo, là hạng người không tự hành hạ mình, không chuyên tâm vào việc tự hành hạ mình, cũng không hành hạ người khác, không chuyên tâm vào việc hành hạ người khác, mà ngay trong đời này sống không còn khao khát, đã lặng yên, đã mát lạnh, cảm nhận hạnh phúc, an trú với tự thân đã trở thành phạm thiên?
Ở đây, này các tỳ-kheo, Như Lai xuất hiện trên thế gian, là bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đầy đủ minh và hạnh, bậc Thiện thệ, bậc thấu hiểu thế gian, bậc tối thượng dẫn dắt những người cần được điều ngự, bậc thầy của trời và người, bậc Giác ngộ, bậc Thế Tôn.
Ngài tự mình chứng biết bằng thắng trí thế giới này — cùng với chư thiên, Ma vương, Phạm Thiên, cùng với chúng sinh gồm sa-môn, bà-la-môn, trời và người — rồi công bố cho người khác.
Ngài thuyết Pháp tốt đẹp ở đầu, tốt đẹp ở giữa, tốt đẹp ở cuối, có nghĩa, có văn; Ngài công bố đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch.
Một gia chủ, hoặc con của một gia chủ, hoặc một người sinh ra trong một gia đình nào đó nghe Pháp ấy.
Sau khi nghe Pháp ấy, người ấy có được lòng tin nơi Như Lai.
Người ấy, thành tựu lòng tin ấy, suy nghĩ như vầy:
"Đời sống tại gia thì chật hẹp, là đường bụi bặm; đời sống xuất gia thì rộng mở.
Người sống ở nhà không dễ gì thực hành đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn trong sạch, như vỏ ốc đã được đánh bóng.
Vậy sao ta không cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, rời bỏ gia đình, sống đời không nhà?"
Rồi sau một thời gian, người ấy từ bỏ một khối tài sản nhỏ hay lớn, từ bỏ một vòng thân quyến nhỏ hay lớn, cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, rời bỏ gia đình, sống đời không nhà.
Sau khi xuất gia như vậy, người ấy thọ trì học giới và cách sống của các tỳ-kheo. Người ấy từ bỏ sát sinh, xa lìa sát sinh, buông bỏ gậy gộc và vũ khí, biết hổ thẹn, có lòng thương, sống đầy lòng từ bi đối với mọi chúng sinh.
Người ấy từ bỏ trộm cắp, xa lìa trộm cắp, chỉ nhận những gì được cho, chỉ mong những gì được cho, sống trong sạch, không gian tham.
Người ấy từ bỏ phi phạm hạnh, sống đời phạm hạnh, sống xa cách, tránh xa việc dâm dục thấp hèn.
Người ấy từ bỏ nói dối, xa lìa nói dối, nói thật, gắn với sự thật, đáng tin cậy, không lừa gạt thế gian.
Người ấy từ bỏ nói hai lưỡi, xa lìa nói hai lưỡi: nghe ở đây không đem đến chỗ kia để chia rẽ những người này, nghe ở chỗ kia không đem đến đây để chia rẽ những người kia; hòa hợp những kẻ đã chia rẽ, khích lệ những người đã hòa hợp, ưa thích hòa hợp, vui với hòa hợp, nói những lời tạo ra hòa hợp.
Người ấy từ bỏ nói lời thô ác, xa lìa nói lời thô ác, nói những lời dịu dàng, dễ nghe, đáng yêu, đi vào lòng người, lịch sự, được nhiều người ưa thích, nhiều người vừa ý.
Người ấy từ bỏ nói lời phù phiếm, xa lìa nói lời phù phiếm, nói đúng lúc, nói sự thật, nói có ý nghĩa, nói đúng Pháp, nói đúng Luật, nói những lời đáng ghi nhớ, có căn cứ, có giới hạn, đem lại lợi ích, đúng thời.
Người ấy tránh phá hoại các hạt giống và cây cỏ,
ăn một bữa trong ngày, không ăn ban đêm, tránh ăn phi thời;
tránh xem múa hát, âm nhạc và các buổi trình diễn;
tránh mang vòng hoa, hương liệu, phấn son và các thứ trang sức;
tránh giường cao và giường lớn;
tránh nhận vàng và bạc;
tránh nhận hạt giống còn sống;
tránh nhận thịt sống;
tránh nhận đàn bà và con gái;
tránh nhận nô tỳ trai và gái;
tránh nhận dê và cừu;
tránh nhận gà và heo;
tránh nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái;
tránh nhận ruộng đất và đất đai;
tránh làm sứ giả, đi lại đưa tin;
tránh mua bán;
tránh gian lận với cân, tiền và thước đo;
tránh việc hối lộ, lừa đảo, gian trá và quanh co;
tránh chặt cắt, giết, trói, cướp giật, cướp phá, chặn đường, vào nhà cướp bóc.
Người ấy biết đủ với y phục che thân và đồ ăn khất thực nuôi bụng. Đi đâu, người ấy cũng chỉ mang theo những thứ ấy.
Ví như con chim, dù bay đi đâu, cũng chỉ mang theo đôi cánh;
cũng vậy, vị tỳ-kheo biết đủ với y phục che thân và đồ ăn khất thực nuôi bụng. Đi đâu, vị ấy cũng chỉ mang theo những thứ ấy.
Vị ấy, thành tựu với khối giới cao thượng này, cảm nhận niềm vui không lỗi lầm ngay trong lòng mình.
Khi mắt thấy sắc, vị ấy không nắm bắt tướng chung, không nắm bắt tướng riêng.
Vì nếu sống với nhãn căn không được thu thúc, thì tham lam và ưu não, những pháp ác bất thiện, sẽ tràn vào, nên vị ấy thực hành sự thu thúc, hộ trì nhãn căn, thành tựu sự thu thúc nơi nhãn căn.
Khi nghe âm thanh bằng tai, vị ấy không nắm bắt tướng chung, không nắm bắt tướng riêng. Vì nếu sống với nhĩ căn không được thu thúc, thì tham lam và ưu não, những pháp ác bất thiện, sẽ tràn vào, nên vị ấy thực hành sự thu thúc, hộ trì nhĩ căn, thành tựu sự thu thúc nơi nhĩ căn.
Khi ngửi mùi bằng mũi, vị ấy không nắm bắt tướng chung, không nắm bắt tướng riêng. Vì nếu sống với tỷ căn không được thu thúc, thì tham lam và ưu não, những pháp ác bất thiện, sẽ tràn vào, nên vị ấy thực hành sự thu thúc, hộ trì tỷ căn, thành tựu sự thu thúc nơi tỷ căn.
Khi nếm vị bằng lưỡi, vị ấy không nắm bắt tướng chung, không nắm bắt tướng riêng. Vì nếu sống với thiệt căn không được thu thúc, thì tham lam và ưu não, những pháp ác bất thiện, sẽ tràn vào, nên vị ấy thực hành sự thu thúc, hộ trì thiệt căn, thành tựu sự thu thúc nơi thiệt căn.
Khi cảm nhận xúc chạm bằng thân, vị ấy không nắm bắt tướng chung, không nắm bắt tướng riêng. Vì nếu sống với thân căn không được thu thúc, thì tham lam và ưu não, những pháp ác bất thiện, sẽ tràn vào, nên vị ấy thực hành sự thu thúc, hộ trì thân căn, thành tựu sự thu thúc nơi thân căn.
Khi biết pháp bằng ý, vị ấy không nắm bắt tướng chung, không nắm bắt tướng riêng.
Vì nếu sống với ý căn không được thu thúc, thì tham lam và ưu não, những pháp ác bất thiện, sẽ tràn vào, nên vị ấy thực hành sự thu thúc, hộ trì ý căn, thành tựu sự thu thúc nơi ý căn.
Vị ấy, thành tựu với sự thu thúc các căn cao thượng này, cảm nhận niềm vui không uế nhiễm ngay trong lòng mình.
Vị ấy tỉnh giác khi đi tới, đi lui; tỉnh giác khi nhìn trước, nhìn sau; tỉnh giác khi co tay, duỗi tay; tỉnh giác khi mang y, bát và các vật dụng; tỉnh giác khi ăn, uống, nhai, nếm; tỉnh giác khi đại tiện, tiểu tiện; tỉnh giác khi đi, đứng, ngồi, nằm, khi thức, khi nói, khi im lặng.
Vị ấy, thành tựu với khối giới cao thượng này, thành tựu với sự biết đủ cao thượng này, thành tựu với sự thu thúc các căn cao thượng này, thành tựu với chánh niệm và tỉnh giác cao thượng này,
lui về một chỗ vắng vẻ: rừng, gốc cây, núi, khe núi, hang núi, nghĩa địa, rừng sâu, ngoài trời, đống rơm.
Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết già, giữ thân ngay thẳng, đặt chánh niệm trước mặt.
Vị ấy từ bỏ tham lam ở đời, sống với tâm không còn tham lam, làm tâm trong sạch khỏi tham lam,
từ bỏ sân hận và ác ý, sống với tâm không sân hận, đầy lòng từ bi đối với mọi chúng sinh, làm tâm trong sạch khỏi sân hận và ác ý;
từ bỏ hôn trầm và thụy miên, sống không hôn trầm thụy miên, có tưởng về ánh sáng, chánh niệm và tỉnh giác, làm tâm trong sạch khỏi hôn trầm thụy miên;
từ bỏ trạo cử và hối hận, sống không trạo cử, với tâm lắng dịu bên trong, làm tâm trong sạch khỏi trạo cử và hối hận;
từ bỏ hoài nghi, sống đã vượt qua hoài nghi, không còn do dự về các pháp thiện, làm tâm trong sạch khỏi hoài nghi.
Vị ấy từ bỏ năm chướng ngại này, những thứ làm ô nhiễm tâm và làm yếu đi tuệ,
ly dục, ly các pháp bất thiện, vị ấy chứng đạt và an trú thiền-na thứ nhất, một trạng thái có tầm, có tứ, với hỷ và lạc do viễn ly sinh khởi;
khi tầm và tứ lắng xuống, vị ấy chứng đạt và an trú thiền-na thứ hai, một trạng thái nội tâm lắng trong, tâm chuyên nhất, không tầm không tứ, với hỷ và lạc do định sinh khởi;
khi hỷ đã lìa, vị ấy trú với xả, chánh niệm và tỉnh giác, và cảm nhận lạc bằng thân; vị ấy chứng đạt và an trú thiền-na thứ ba, trạng thái mà các bậc thánh tuyên bố: "Người có xả và chánh niệm thì sống an lạc";
sau khi từ bỏ lạc và từ bỏ khổ, và khi hỷ và ưu từ trước đã chấm dứt, vị ấy chứng đạt và an trú thiền-na thứ tư, trạng thái không khổ không lạc, với xả và chánh niệm thanh tịnh.
Khi tâm đã định như vậy — trong sạch, sáng tỏ, không cấu uế, đã lìa các ô nhiễm, mềm mỏng, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến bất động — vị ấy hướng tâm đến trí nhớ lại các đời sống quá khứ.
Vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ, đó là: một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời; nhiều kiếp thế giới co lại, nhiều kiếp thế giới giãn ra, nhiều kiếp thế giới vừa co lại vừa giãn ra. Vị ấy nhớ: "Ở chỗ ấy, ta đã có tên như thế này, dòng họ như thế này, dung sắc như thế này, thức ăn như thế này, đã cảm thọ lạc và khổ như thế này, tuổi thọ kết thúc như thế này; từ chỗ ấy mạng chung, ta sinh ra ở một chỗ khác. Ở chỗ ấy, ta cũng có tên như thế này, dòng họ như thế này, dung sắc như thế này, thức ăn như thế này, đã cảm thọ lạc và khổ như thế này, tuổi thọ kết thúc như thế này; từ chỗ ấy mạng chung, ta sinh ra ở đây." Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ, cùng với các nét và các chi tiết.
Khi tâm đã định như vậy — trong sạch, sáng tỏ, không cấu uế, đã lìa các ô nhiễm, mềm mỏng, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến bất động — vị ấy hướng tâm đến trí về sự chết và tái sinh của chúng sinh.
Với thiên nhãn trong sạch, vượt hơn mắt người, vị ấy thấy chúng sinh đang chết và đang sinh, hạ liệt và cao quý, đẹp và xấu, sinh vào cõi lành hay cõi dữ; vị ấy hiểu rõ chúng sinh đi theo nghiệp của mình: "Những chúng sinh này đã làm ác bằng thân, đã làm ác bằng lời, đã làm ác bằng ý; đã mắng nhiếc các bậc thánh; có tà kiến; thọ trì nghiệp theo tà kiến. Khi thân hoại mạng chung, họ sinh vào cõi khổ, đường ác, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sinh kia đã làm lành bằng thân, đã làm lành bằng lời, đã làm lành bằng ý; không mắng nhiếc các bậc thánh; có chánh kiến; thọ trì nghiệp theo chánh kiến. Khi thân hoại mạng chung, họ sinh vào cõi lành, cõi trời." Như vậy, với thiên nhãn trong sạch, vượt hơn mắt người, vị ấy thấy chúng sinh đang chết và đang sinh, hạ liệt và cao quý, đẹp và xấu, sinh vào cõi lành hay cõi dữ; vị ấy hiểu rõ chúng sinh đi theo nghiệp của mình.
Khi tâm đã định như vậy — trong sạch, sáng tỏ, không cấu uế, đã lìa các ô nhiễm, mềm mỏng, dễ sử dụng, vững chắc, đạt đến bất động — vị ấy hướng tâm đến trí về sự đoạn tận các lậu hoặc.
Vị ấy như thật biết rõ: "Đây là khổ"; như thật biết rõ: "Đây là sự tập khởi của khổ"; như thật biết rõ: "Đây là sự chấm dứt của khổ"; như thật biết rõ: "Đây là con đường đưa đến sự chấm dứt của khổ."
Vị ấy như thật biết rõ: "Đây là các lậu hoặc"; như thật biết rõ: "Đây là sự tập khởi của lậu hoặc"; như thật biết rõ: "Đây là sự chấm dứt của lậu hoặc"; như thật biết rõ: "Đây là con đường đưa đến sự chấm dứt của lậu hoặc."
Với người biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi lậu hoặc về dục, tâm được giải thoát khỏi lậu hoặc về hữu, tâm được giải thoát khỏi lậu hoặc về vô minh.
Khi đã được giải thoát, vị ấy biết rõ: "Ta đã được giải thoát."
Vị ấy biết: 'Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa.'
Này các tỳ-kheo, đây gọi là hạng người không tự hành hạ mình, không chuyên tâm vào việc tự hành hạ mình, cũng không hành hạ người khác, không chuyên tâm vào việc hành hạ người khác.
Vị ấy không tự hành hạ mình, không hành hạ người khác; ngay trong đời này vị ấy không còn khao khát, đã lặng yên, đã mát lạnh, cảm nhận hạnh phúc, an trú với tự thân đã trở thành phạm thiên.
Đức Thế Tôn nói như vậy.
Các tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tán thán lời Ngài dạy.
Kinh Kandaraka, bài thứ nhất, đã kết thúc.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.