buppou

Trung Bộ Kinh · bài 90/152

Kinh Kaṇṇakatthala

Kaṇṇakatthala Sutta — bài kinh tại Kaṇṇakatthala

25 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Kaṇṇakatthala (Kaṇṇakatthala Sutta) là bài kinh thứ chín mươi trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), bộ kinh gồm 152 bài cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Bài kinh lấy tên từ một khu vườn nai ở Kaṇṇakatthala, trong thị trấn Ujuññā của xứ Kosala, nơi Đức Thế Tôn đang trú. Nhân dịp vua Pasenadi xứ Kosala đến Ujuññā vì một công việc nào đó, nhà vua cho người đến thưa trước rằng sau bữa ăn ông sẽ đến yết kiến. Hai người vợ của ông là Somā và Sakulā nghe được tin ấy, bèn nhờ ông nhân danh họ đảnh lễ và hỏi thăm sức khỏe Đức Thế Tôn. Thế là câu chuyện mở ra bằng một buổi sáng bình thường nơi cung điện, với đưa tin, dọn bữa và những lời nhắn nhủ.

Phần đầu của cuộc đối thoại nói về một điều nghe có vẻ trừu tượng nhưng rất cụ thể. Vua Pasenadi đã nghe người ta nói rằng sa-môn Gotama bảo không ai có thể biết hết và thấy hết mọi thứ, và ông muốn biết lời ấy có đúng là của Ngài không. Đức Thế Tôn đáp rằng những người nói như vậy đã thuật sai lời Ngài: điều Ngài nói là không ai có thể biết hết và thấy hết tất cả cùng một lúc. Khác biệt chỉ nằm ở một chữ, nhưng đó là cả vấn đề. Trong cách nhìn của Phật giáo, mỗi lần nhận biết đều phải có một đối tượng và một điều kiện; không có cái biết nào đứng sẵn một chỗ mà ôm trọn mọi thứ.

Từ đó nhà vua chuyển sang câu hỏi ông thật sự muốn hỏi, về bốn giai cấp trong xã hội Ấn Độ cổ: vua chúa, bà-la-môn, thương nhân và nô lệ. Ông hỏi giữa họ có sự khác biệt nào không. Đức Thế Tôn thừa nhận một sự khác biệt hẹp: trong cách cúi lạy, đứng dậy chào và chắp tay kính lễ, hai giai cấp vua chúa và bà-la-môn được xem là tối thượng. Nhưng khi nhà vua hỏi tiếp về đời sau, câu trả lời đổi hẳn: cái quyết định không phải là giai cấp, mà là năm yếu tố tinh tấn — có lòng tin, ít bệnh, không xảo quyệt, tinh tấn và có tuệ. Ai có đủ năm điều ấy thì tu tập được, bất kể thuộc giai cấp nào.

Nhà vua hỏi thêm: nếu bốn giai cấp đều có đủ năm yếu tố ấy và đều tinh tấn đúng đắn, thì giữa họ còn khác nhau không? Đức Thế Tôn đáp: không, giữa sự giải thoát và sự giải thoát thì không có gì khác. Để người nghe thấy được điều ấy, Ngài dùng một hình ảnh rất đời: người ta lấy gỗ cây sāka, gỗ cây sāla, gỗ cây xoài hay gỗ cây sung khô mà cọ xát lấy lửa; lửa phát ra từ những loại củi khác nhau thì ngọn, màu và ánh sáng nào có khác gì nhau. Củi khác nhau, nhưng lửa là một. Cũng vậy, khi ngọn lửa ấy đã được chà xát bằng tinh tấn và tạo ra bằng nỗ lực, thì giải thoát của người này với giải thoát của người kia không có gì khác.

Câu chuyện sau đó bước sang một lĩnh vực khác. Nhà vua hỏi có chư thiên không, và Đức Thế Tôn hỏi lại cho rõ ý, vì câu hỏi ấy có thể hiểu là "chư thiên có tồn tại không" hay "chư thiên có còn tiếp tục hiện hữu về sau không". Nhà vua đáp: ông muốn hỏi chư thiên ấy có còn trở lại cõi này hay không. Câu trả lời ngắn gọn: vị nào còn bị tổn hại thì trở lại, vị nào không còn bị tổn hại thì không trở lại. Cùng một khuôn ấy được lặp lại với Phạm Thiên, vị trời cao nhất trong vũ trụ quan Ấn Độ cổ.

Chỗ hay nhất của bài kinh lại đến từ một nhân vật phụ. Tướng quân Viḍūḍabha, con trai nhà vua, xen vào hỏi: những vị trời còn bị tổn hại ấy có thể đuổi những vị trời không còn bị tổn hại ra khỏi chỗ của họ không? Tôn giả Ānanda bèn hỏi ngược lại ông ta: vua Pasenadi có thể đuổi một sa-môn hay bà-la-môn ra khỏi lãnh thổ của mình không, và có thể đuổi chư thiên cõi Ba Mươi Ba không? Không thể, vì nhà vua còn không thấy được các vị ấy. Kết luận của tôn giả thật nhẹ mà thật nặng, và nó cho thấy Viḍūḍabha đang tự hình dung mình là ai. Bài kinh khép lại bằng một màn hài nhỏ: nhà vua hỏi ai đã đem câu chuyện này vào cung, bà-la-môn Sañjaya đổ cho Viḍūḍabha, trong khi trước đó chính Viḍūḍabha đã đổ cho Sañjaya. Người đọc lần đầu không cần nhớ hết các nhân vật; chỉ cần để ý rằng mỗi câu trả lời của Đức Thế Tôn đều sửa lại chỗ hiểu sai trong câu hỏi, còn nhà vua thì lần nào cũng vui vẻ nhận rằng lời ấy "thật có lý, thật có căn cứ".

[Chú thích của người dịch: Kaṇṇakatthala là tên khu vườn nai trong thị trấn Ujuññā của xứ Kosala, nơi Đức Thế Tôn trú trong bài kinh này. Tên được giữ nguyên dạng Pali như mọi địa danh khác trong bộ dịch.]


Tôi nghe như vầy.

[Chú thích: Mạch truyện của bài kinh này rối rắm đến mức thú vị: các nhân vật hiện ra rồi biến mất tùy tiện, nhiều người không được biết đến ở đâu khác. Nó cho thấy một cách sinh động rằng giữ được một cuộc đối thoại có lý giữa bao nhiêu chuyện qua lại là khó đến mức nào. Về phương diện lịch sử, bài kinh cũng phác họa một chân dung ngắn mà sâu về Viḍūḍabha, vị thái tử bạc mệnh của xứ Kosala.]

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Ujuññā, trong vườn nai ở Kaṇṇakatthala.

[Chú thích: Ujuññā là một thị trấn của xứ Kosala, nơi Đức Thế Tôn từng bàn về hạnh khổ hạnh với du sĩ lõa thể Kassapa trong kinh DN 8. Vườn nai là khu đất được dành riêng để thú vật sống an toàn, không bị người săn bắn.]

Lúc bấy giờ, vua Pasenadi xứ Kosala đã đến Ujuññā vì một công việc nào đó.

Rồi vua Pasenadi xứ Kosala gọi một người:

"Này anh kia, hãy đến chỗ Đức Thế Tôn; đến rồi, nhân danh ta, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Ngài và hỏi thăm Ngài có khỏe mạnh, ít bệnh, đi lại nhẹ nhàng, đầy đủ sức lực, sống an lạc không:

'Thưa Ngài, vua Pasenadi xứ Kosala cúi đầu đảnh lễ dưới chân Đức Thế Tôn và hỏi thăm Ngài có khỏe mạnh, ít bệnh, đi lại nhẹ nhàng, đầy đủ sức lực, sống an lạc không';

và thưa thêm:

'Thưa Ngài, nghe nói hôm nay vua Pasenadi xứ Kosala, sau bữa ăn, khi đã dùng xong bữa sáng, sẽ đến yết kiến Đức Thế Tôn.'"

"Thưa vâng, đại vương", người ấy thưa lại vua Pasenadi xứ Kosala, rồi đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến nơi, đảnh lễ Đức Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, người ấy bạch Đức Thế Tôn:

"Thưa Ngài, vua Pasenadi xứ Kosala cúi đầu đảnh lễ dưới chân Đức Thế Tôn và hỏi thăm Ngài có khỏe mạnh, ít bệnh, đi lại nhẹ nhàng, đầy đủ sức lực, sống an lạc không;

và thưa thêm:

'Thưa Ngài, nghe nói hôm nay vua Pasenadi xứ Kosala, sau bữa ăn, khi đã dùng xong bữa sáng, sẽ đến yết kiến Đức Thế Tôn.'"

Hai chị em Somā và Sakulā nghe được chuyện ấy:

[Chú thích: Hai bà này hình như đều là vợ của vua và, giống như chánh hậu Mallikā, đều có lòng tin nơi Đức Thế Tôn. Somā ở đây có lẽ không phải vị tỳ-kheo-ni cùng tên trong SN 5.2 và Thig 3.8, và Sakulā cũng vậy.]

"Hôm nay, nghe nói vua Pasenadi xứ Kosala, sau bữa ăn, khi đã dùng xong bữa sáng, sẽ đến yết kiến Đức Thế Tôn."

Rồi hai chị em Somā và Sakulā, trong lúc bữa ăn đang được dọn lên, đến chỗ vua Pasenadi xứ Kosala và thưa:

"Thưa đại vương, vậy xin đại vương nhân danh cả chúng tôi, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Đức Thế Tôn và hỏi thăm Ngài có khỏe mạnh, ít bệnh, đi lại nhẹ nhàng, đầy đủ sức lực, sống an lạc không:

'Thưa Ngài, Somā và Sakulā cúi đầu đảnh lễ dưới chân Đức Thế Tôn và hỏi thăm Ngài có khỏe mạnh, ít bệnh, đi lại nhẹ nhàng, đầy đủ sức lực, sống an lạc không.'"

Sau bữa ăn, khi đã dùng xong bữa sáng, vua Pasenadi xứ Kosala đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến nơi, đảnh lễ Đức Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, vua Pasenadi xứ Kosala bạch Đức Thế Tôn:

"Thưa Ngài, hai chị em Somā và Sakulā cúi đầu đảnh lễ dưới chân Đức Thế Tôn và hỏi thăm Ngài có khỏe mạnh, ít bệnh, đi lại nhẹ nhàng, đầy đủ sức lực, sống an lạc không."

"Nhưng này đại vương, hai chị em Somā và Sakulā không có được một người đưa tin nào khác sao?"

"Thưa Ngài, hai chị em Somā và Sakulā có nghe rằng:

'Hôm nay, nghe nói vua Pasenadi xứ Kosala, sau bữa ăn, khi đã dùng xong bữa sáng, sẽ đến yết kiến Đức Thế Tôn.'

Rồi, thưa Ngài, hai chị em Somā và Sakulā đến chỗ tôi trong lúc bữa ăn đang được dọn lên và thưa:

'Thưa đại vương, vậy xin đại vương nhân danh cả chúng tôi, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Đức Thế Tôn và hỏi thăm Ngài có khỏe mạnh, ít bệnh, đi lại nhẹ nhàng, đầy đủ sức lực, sống an lạc không —

Somā và Sakulā cúi đầu đảnh lễ dưới chân Đức Thế Tôn và hỏi thăm Ngài có khỏe mạnh, ít bệnh, đi lại nhẹ nhàng, đầy đủ sức lực, sống an lạc không.'"

"Cầu cho hai chị em Somā và Sakulā được an lạc, này đại vương."

Rồi vua Pasenadi xứ Kosala bạch Đức Thế Tôn:

"Thưa Ngài, tôi có nghe rằng sa-môn Gotama nói như vầy:

'Không có sa-môn hay bà-la-môn nào sẽ tự nhận mình là bậc biết hết, thấy hết, tự nhận mình có tri kiến biết và thấy tất cả không trừ một điều gì; điều ấy không thể xảy ra.'

[Chú thích: Đức Thế Tôn biết rõ rằng trên thực tế người ta vẫn thường tự nhận như vậy, và Ngài chỉ cho rằng những lời ấy là sai. Ở đây câu ấy dùng thì tương lai, ngụ ý rằng không chỉ hiện nay không ai có thể biết hết, mà về sau cũng sẽ không ai có thể. Có thể so sánh với MN 14:17.3 và MN 71:5.2.]

Bạch Ngài, những người đã nói như vầy: 'Sa-môn Gotama nói thế này: không có sa-môn hay bà-la-môn nào sẽ tự nhận mình là bậc biết hết, thấy hết, tự nhận mình có tri kiến biết và thấy tất cả không trừ một điều gì; điều ấy không thể xảy ra' — bạch Ngài, những người ấy có đúng là nói theo điều Đức Thế Tôn đã nói không, có xuyên tạc Đức Thế Tôn bằng điều không thật không, có giải thích đúng theo Pháp không, và có ai có cớ hợp Pháp để chê trách không?"

"Này đại vương, những người đã nói như vầy: 'Sa-môn Gotama nói thế này: không có sa-môn hay bà-la-môn nào sẽ tự nhận mình là bậc biết hết, thấy hết, tự nhận mình có tri kiến biết và thấy tất cả không trừ một điều gì; điều ấy không thể xảy ra' — những người ấy không phải là người nói theo điều ta đã nói; họ xuyên tạc ta bằng điều không có, không thật."

Rồi vua Pasenadi xứ Kosala gọi tướng quân Viḍūḍabha:

[Chú thích: Viḍūḍabha là con trai và là người thừa kế của vua; triều đại đầy tai họa của ông báo trước sự diệt vong của dòng dõi Sakka và sự sụp đổ của đế chế Kosala.]

"Này tướng quân, ai đã đem câu chuyện này vào cung vua?"

"Thưa đại vương, đó là bà-la-môn Sañjaya thuộc dòng Ākāsa."

[Chú thích: Ākāsa ở đây là dạng Pali của tiếng Phạn Āgastya, tên dòng dõi của vị tiên nhân Vệ-đà Agastya.]

Rồi vua Pasenadi xứ Kosala gọi một người:

"Này anh kia, nhân danh ta, hãy đến gọi bà-la-môn Sañjaya thuộc dòng Ākāsa:

'Thưa Ngài, vua Pasenadi xứ Kosala cho gọi Ngài.'"

"Thưa vâng, đại vương", người ấy thưa lại vua Pasenadi xứ Kosala, rồi đi đến chỗ bà-la-môn Sañjaya thuộc dòng Ākāsa; đến nơi, người ấy bảo bà-la-môn Sañjaya thuộc dòng Ākāsa:

"Thưa Ngài, vua Pasenadi xứ Kosala cho gọi Ngài."

Rồi vua Pasenadi xứ Kosala bạch Đức Thế Tôn:

"Bạch Ngài, có thể nào Đức Thế Tôn đã nói một điều gì đó nhắm đến một ý khác, mà người ta lại hiểu ra một ý khác?

Vậy bạch Ngài, Đức Thế Tôn nhớ lời ấy đã nói thế nào?"

"Này đại vương, ta nhớ đã nói lời ấy như vầy:

'Không có sa-môn hay bà-la-môn nào sẽ biết hết và thấy hết tất cả trong cùng một lúc; điều ấy không thể xảy ra.'"

[Chú thích: Thức là pháp hữu duyên, nên mỗi lần biết đều phải nương vào một đối tượng nhất định. Ở MN 76:52.5, Đức Thế Tôn bàn về việc tri kiến có liên tục hay không và dùng hình ảnh người cụt tay để minh họa.]

"Bạch Ngài, Đức Thế Tôn nói thật có lý; bạch Ngài, Đức Thế Tôn nói thật có căn cứ:

'Không có sa-môn hay bà-la-môn nào sẽ biết hết và thấy hết tất cả trong cùng một lúc; điều ấy không thể xảy ra.'"

"Bạch Ngài, có bốn giai cấp:

vua chúa, bà-la-môn, thương nhân, nô lệ.

Bạch Ngài, trong bốn giai cấp ấy, có sự khác biệt nào, có sự phân biệt nào không?"

"Này đại vương, có bốn giai cấp:

vua chúa, bà-la-môn, thương nhân, nô lệ.

Này đại vương, trong bốn giai cấp ấy, có hai giai cấp được gọi là tối thượng:

giai cấp vua chúa và giai cấp bà-la-môn:

ấy là trong việc cúi lạy, đứng dậy chào, chắp tay kính lễ và làm những nghi lễ thích hợp."

[Chú thích: Ở đây Đức Thế Tôn thừa nhận những cách biệt trong lễ nghi xã hội giữa các giai cấp.]

"Bạch Ngài, tôi không hỏi Đức Thế Tôn về đời này;

bạch Ngài, tôi hỏi Đức Thế Tôn về đời sau.

Bạch Ngài, có bốn giai cấp:

vua chúa, bà-la-môn, thương nhân, nô lệ.

Bạch Ngài, trong bốn giai cấp ấy, có sự khác biệt nào, có sự phân biệt nào không?"

"Này đại vương, có năm yếu tố tinh tấn.

Năm là những gì?

Này đại vương, ở đây, một tỳ-kheo có lòng tin, tin vào sự giác ngộ của Như Lai:

'Đức Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đầy đủ minh và hạnh, bậc Thiện thệ, bậc thấu hiểu thế gian, bậc tối thượng dẫn dắt những người cần được điều ngự, bậc thầy của trời và người, bậc Giác ngộ, bậc Thế Tôn';

vị ấy ít bệnh, ít ốm đau, có sự tiêu hóa tốt, không quá lạnh cũng không quá nóng, vừa phải, thích hợp cho sự tinh tấn;

vị ấy không xảo quyệt, không dối trá, tự bộc lộ mình đúng như thật với bậc Đạo sư hoặc với những người đồng phạm hạnh có trí;

vị ấy sống với tinh tấn đã phát khởi, từ bỏ các pháp bất thiện, thành tựu các pháp thiện, kiên cường, dũng mãnh, không buông bỏ gánh nặng trong các pháp thiện;

vị ấy có tuệ, thành tựu tuệ thấy sự sinh và diệt, tuệ của bậc thánh, thấu suốt, dẫn đến sự đoạn tận khổ đau một cách đúng đắn;

Đó là năm yếu tố tinh tấn, này đại vương.

Này đại vương, có bốn giai cấp:

vua chúa, bà-la-môn, thương nhân, nô lệ.

Nếu họ có đủ năm yếu tố tinh tấn này,

thì điều ấy sẽ đem lại lợi ích và an lạc lâu dài cho họ."

"Bạch Ngài, có bốn giai cấp:

vua chúa, bà-la-môn, thương nhân, nô lệ.

Nếu họ có đủ năm yếu tố tinh tấn này,

thì bạch Ngài, giữa họ có sự khác biệt nào, có sự phân biệt nào không?"

"Này đại vương, ở đây ta nói đến sự khác nhau về tinh tấn.

Ví như, này đại vương, có hai con voi đang được huấn luyện, hai con ngựa đang được huấn luyện, hay hai con bò đang được huấn luyện, đã được điều phục và huấn luyện khéo léo; và có hai con voi, hai con ngựa hay hai con bò đang được huấn luyện nhưng chưa được điều phục, chưa được huấn luyện.

Này đại vương, ngài nghĩ sao,

hai con voi, ngựa hay bò đã được điều phục và huấn luyện khéo léo ấy, liệu chúng có làm được những việc của loài đã được điều phục, có đạt đến cảnh giới của loài đã được điều phục không?"

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn."

"Nhưng này đại vương, hai con voi, ngựa hay bò chưa được điều phục, chưa được huấn luyện ấy, liệu chúng có thể làm được những việc của loài đã được điều phục, có thể đạt đến cảnh giới của loài đã được điều phục như hai con đã được điều phục và huấn luyện khéo léo kia không?"

"Thưa không, bạch Thế Tôn."

"Cũng vậy, này đại vương, những gì phải đạt được bởi người có lòng tin, ít bệnh, không xảo quyệt, không dối trá, tinh tấn và có tuệ — một người không có lòng tin, nhiều bệnh, xảo quyệt, dối trá, biếng nhác, thiếu tuệ lại có thể đạt được điều ấy: điều đó không thể xảy ra."

"Bạch Ngài, Đức Thế Tôn nói thật có lý; bạch Ngài, Đức Thế Tôn nói thật có căn cứ.

Bạch Ngài, có bốn giai cấp:

vua chúa, bà-la-môn, thương nhân, nô lệ.

Nếu họ có đủ năm yếu tố tinh tấn này và họ tinh tấn đúng đắn,

thì bạch Ngài, giữa họ có sự khác biệt nào, có sự phân biệt nào không?"

"Này đại vương, ở đây ta không nói có sự khác biệt nào, ấy là giữa sự giải thoát và sự giải thoát.

Ví như, này đại vương, một người lấy gỗ cây sāka khô, cọ xát tạo ra lửa, làm hiện ra sức nóng;

rồi một người khác lấy gỗ cây sāla khô, cọ xát tạo ra lửa, làm hiện ra sức nóng;

rồi một người khác nữa lấy gỗ cây xoài khô, cọ xát tạo ra lửa, làm hiện ra sức nóng;

rồi một người khác nữa lấy gỗ cây sung khô, cọ xát tạo ra lửa, làm hiện ra sức nóng.

Này đại vương, ngài nghĩ sao,

những ngọn lửa ấy được tạo ra từ những loại củi khác nhau, liệu giữa chúng có sự khác biệt nào về ngọn lửa, về màu sắc, về ánh sáng không?"

"Thưa không, bạch Thế Tôn."

"Cũng vậy, này đại vương, ngọn lửa do sự tinh tấn chà xát, do sự nỗ lực tạo ra — ở đó ta không nói có sự khác biệt nào, ấy là giữa sự giải thoát và sự giải thoát."

[Chú thích: Nimmathita nói đến cách người ta cọ xát hai thanh gỗ với nhau để lấy lửa. Cách tạo lửa ấy đã được nhắc trong thánh điển Vệ-đà, chẳng hạn Rig Veda 3.23.1.]

"Bạch Ngài, Đức Thế Tôn nói thật có lý; bạch Ngài, Đức Thế Tôn nói thật có căn cứ.

Nhưng bạch Ngài, có chư thiên không?"

[Chú thích: Câu hỏi "có chư thiên không" ở đây không nhằm hỏi chư thiên có tồn tại hay không, mà hỏi chư thiên có còn tiếp tục hiện hữu ở đời sau hay không. Trong những câu như vậy, động từ "có" mang nghĩa tiếp tục hiện hữu.]

"Nhưng này đại vương, ngài nói như thế này là ý gì:

'Có chư thiên không, bạch Ngài?'"

[Chú thích: Những câu hỏi dùng chữ "có" để hỏi về tự ngã và tái sinh thường được trả lời một cách gián tiếp. Ở đây Đức Thế Tôn hỏi lại cho rõ ý; trong SN 44.10 Ngài không trả lời, còn trong MN 100:42.5 Ngài trả lời một cách vòng vo. Lý do có lẽ là chữ "có" mang theo hàm ý về một sự tồn tại thường hằng; nhà vua nói rõ là ông muốn biết điều gì xảy ra khi một vị trời qua đời, tức là hỏi về tái sinh chứ không phải về sự tồn tại vĩnh viễn.]

"Phải chăng là: những chư thiên ấy có trở lại cõi này hay không trở lại cõi này?"

"Này đại vương, những chư thiên nào còn bị tổn hại thì trở lại cõi này; những chư thiên nào không còn bị tổn hại thì không trở lại cõi này."

[Chú thích: Điều này nối tiếp cuộc đàm đạo với vua Pasenadi trong MN 88:10.6, nơi hành vi gây tổn hại được nói là dẫn đến khổ đau; ở những chỗ khác, quả của nó được mô tả là tái sinh vào một cõi đầy tổn hại.]

Khi Ngài nói như vậy, tướng quân Viḍūḍabha bạch Đức Thế Tôn:

"Bạch Ngài, những chư thiên còn bị tổn hại, những vị sẽ trở lại cõi này — liệu họ có thể đuổi hay trục xuất những chư thiên không còn bị tổn hại, những vị không trở lại cõi này, ra khỏi chỗ của họ không?"

[Chú thích: Chỉ mấy lời ấy cũng đủ cho thấy Viḍūḍabha tự xem mình là ai: ông ta coi mình là một vị trời còn bị tổn hại.]

Rồi tôn giả Ānanda suy nghĩ:

"Tướng quân Viḍūḍabha này là con trai của vua Pasenadi xứ Kosala;

còn ta là con của Đức Thế Tôn.

Đây chính là lúc con trai nên bàn bạc với con trai."

Rồi tôn giả Ānanda nói với tướng quân Viḍūḍabha:

"Vậy thì, này tướng quân, tôi sẽ hỏi lại ông về điều này; ông hãy trả lời theo ý ông thấy thích hợp.

Này tướng quân, ông nghĩ sao,

trong phạm vi lãnh thổ của vua Pasenadi xứ Kosala, nơi vua ấy cai trị với quyền tối thượng, vua Pasenadi xứ Kosala có thể đuổi hay trục xuất ra khỏi chỗ ấy một sa-môn hay bà-la-môn nào — dù người ấy có phước hay không có phước, sống phạm hạnh hay không sống phạm hạnh — không?"

"Thưa Ngài, trong phạm vi lãnh thổ của vua Pasenadi xứ Kosala, nơi vua ấy cai trị với quyền tối thượng, vua Pasenadi xứ Kosala có thể đuổi hay trục xuất ra khỏi chỗ ấy một sa-môn hay bà-la-môn nào — dù người ấy có phước hay không có phước, sống phạm hạnh hay không sống phạm hạnh."

[Chú thích: Các bà-la-môn thường dùng tiếng gọi bho; Viḍūḍabha cũng dùng tiếng ấy khi nói về nhà vua ở dưới.]

"Này tướng quân, ông nghĩ sao,

ở những nơi nằm ngoài lãnh thổ của vua Pasenadi xứ Kosala, nơi vua ấy không cai trị với quyền tối thượng, vua Pasenadi xứ Kosala có thể đuổi hay trục xuất ra khỏi chỗ ấy một sa-môn hay bà-la-môn nào — dù người ấy có phước hay không có phước, sống phạm hạnh hay không sống phạm hạnh — không?"

"Thưa Ngài, ở những nơi nằm ngoài lãnh thổ của vua Pasenadi xứ Kosala, nơi vua ấy không cai trị với quyền tối thượng, vua Pasenadi xứ Kosala không thể đuổi hay trục xuất ra khỏi chỗ ấy một sa-môn hay bà-la-môn nào — dù người ấy có phước hay không có phước, sống phạm hạnh hay không sống phạm hạnh."

"Này tướng quân, ông nghĩ sao,

ông có từng nghe nói đến chư thiên cõi Ba Mươi Ba chưa?"

"Thưa Ngài, có.

Tôi có nghe nói đến chư thiên cõi Ba Mươi Ba.

Ở đây, vua Pasenadi xứ Kosala cũng có nghe nói đến chư thiên cõi Ba Mươi Ba."

"Này tướng quân, ông nghĩ sao,

vua Pasenadi xứ Kosala có thể đuổi hay trục xuất chư thiên cõi Ba Mươi Ba ra khỏi chỗ của họ không?"

"Thưa Ngài, vua Pasenadi xứ Kosala còn không thể thấy được chư thiên cõi Ba Mươi Ba, huống gì có thể đuổi hay trục xuất họ ra khỏi chỗ của họ?"

"Cũng vậy, này tướng quân, những chư thiên còn bị tổn hại, những vị trở lại cõi này, còn không thể thấy được những chư thiên không còn bị tổn hại, những vị không trở lại cõi này, huống gì có thể đuổi hay trục xuất họ ra khỏi chỗ của họ?"

[Chú thích: Có thể so sánh với đoạn đối thoại trong kinh Viyāhapaṇṇatti 6.9.144 của đạo Jain, nơi các vị trời trong sạch được nói là nằm ngoài tầm với của các vị trời không trong sạch.]

Rồi vua Pasenadi xứ Kosala bạch Đức Thế Tôn:

"Bạch Ngài, vị tỳ-kheo này tên là gì?"

[Chú thích: Nếu vua Pasenadi không biết Ānanda thì đây hẳn là một cuộc gặp rất sớm, có lẽ là lần đầu tiên.]

"Thưa đại vương, vị ấy tên là Ānanda."

"Ānanda thật là niềm vui, và dáng vẻ cũng thật là niềm vui!"

[Chú thích của người dịch: Tên Ānanda nghĩa là niềm vui, nên đây là một lối chơi chữ: vị ấy tên là Niềm Vui, và trông cũng ra dáng Niềm Vui.]

"Bạch Ngài, tôn giả Ānanda nói thật có lý; bạch Ngài, tôn giả Ānanda nói thật có căn cứ.

Nhưng bạch Ngài, có Phạm Thiên không?"

"Nhưng này đại vương, ngài nói như thế này là ý gì:

'Có Phạm Thiên không, bạch Ngài?'"

"Phải chăng là: vị Phạm Thiên ấy có trở lại cõi này hay không trở lại cõi này?"

"Này đại vương, vị Phạm Thiên nào còn bị tổn hại thì trở lại cõi này; vị Phạm Thiên nào không còn bị tổn hại thì không trở lại cõi này."

Rồi một người nói với vua Pasenadi xứ Kosala:

"Thưa đại vương, bà-la-môn Sañjaya thuộc dòng Ākāsa đã đến."

Rồi vua Pasenadi xứ Kosala hỏi bà-la-môn Sañjaya thuộc dòng Ākāsa:

"Này bà-la-môn, ai đã đem câu chuyện này vào cung vua?"

"Thưa đại vương, chính tướng quân Viḍūḍabha."

Còn tướng quân Viḍūḍabha thì đã nói:

"Thưa đại vương, đó là bà-la-môn Sañjaya thuộc dòng Ākāsa."

[Chú thích: Viḍūḍabha không chỉ cho thấy mình là người lãnh đạo kém khi đổ lỗi cho cấp dưới, mà rõ ràng còn nói dối về chuyện ấy.]

Rồi một người nói với vua Pasenadi xứ Kosala:

"Thưa đại vương, đã đến lúc khởi hành."

Rồi vua Pasenadi xứ Kosala bạch Đức Thế Tôn:

"Bạch Ngài, chúng tôi đã hỏi Đức Thế Tôn về sự biết hết, và Đức Thế Tôn đã trả lời về sự biết hết.

Điều ấy chúng tôi ưa thích, chấp nhận và lấy làm hoan hỷ.

Chúng tôi đã hỏi Đức Thế Tôn về sự thanh tịnh của bốn giai cấp, và Đức Thế Tôn đã trả lời về sự thanh tịnh của bốn giai cấp.

Điều ấy chúng tôi ưa thích, chấp nhận và lấy làm hoan hỷ.

Chúng tôi đã hỏi Đức Thế Tôn về chư thiên, và Đức Thế Tôn đã trả lời về chư thiên.

Điều ấy chúng tôi ưa thích, chấp nhận và lấy làm hoan hỷ.

Chúng tôi đã hỏi Đức Thế Tôn về Phạm Thiên, và Đức Thế Tôn đã trả lời về Phạm Thiên.

Điều ấy chúng tôi ưa thích, chấp nhận và lấy làm hoan hỷ.

Điều gì chúng tôi hỏi Đức Thế Tôn, Đức Thế Tôn đều trả lời đúng điều ấy;

điều ấy chúng tôi ưa thích, chấp nhận và lấy làm hoan hỷ.

Vậy bạch Ngài, nay chúng tôi xin đi;

chúng tôi có nhiều việc, nhiều bổn phận phải làm."

"Này đại vương, ngài hãy đi khi ngài thấy đã đến lúc."

Rồi vua Pasenadi xứ Kosala hoan hỷ, tán thán lời Đức Thế Tôn dạy, đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ Đức Thế Tôn, đi nhiễu bên phải rồi ra về.

Kinh Kaṇṇakatthala, bài thứ mười, đã hoàn thành.

[Chú thích của người dịch: "Bài thứ mười" là vị trí của bài này trong phẩm Vua (Rājavagga), không phải số 90 của Trung Bộ Kinh.]

Phẩm Vua (Rājavagga), phẩm thứ tư, đã hoàn thành.


19. Kệ tóm tắt phẩm

[Chú thích của người dịch: Đây là bài kệ tóm tắt phẩm Vua (Rājavagga), phẩm gồm mười bài từ bài 81 đến bài 90. Mỗi cụm từ là một từ khóa để nhớ tên bài, nên các tên riêng được giữ nguyên dạng Pali: Bodhi là bài Kinh Bodhirājakumāra, Piyajāta là bài Kinh Sinh Từ Người Thương.]

Ghaṭikāra, Raṭṭhapāla,

Makhādeva, Madhurā;

Bodhi, Aṅgulimāla nữa,

Piyajāta, Bāhitika;

Kinh Dhammacetiya,

và bài thứ mười là Kaṇṇakatthala.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →