Trung Bộ Kinh · bài 91/152
Kinh Brahmāyu
Brahmāyusutta
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài kinh này kể một cuộc gặp gỡ giữa Đức Thế Tôn và một trong những vị thầy bà-la-môn kỳ cựu nhất của thời ấy. Đức Thế Tôn đang du hành ở xứ Videha cùng khoảng năm trăm vị tỳ-kheo. Ở Mithilā, thủ đô của xứ ấy, có bà-la-môn Brahmāyu, một người đã một trăm hai mươi tuổi, thông suốt ba bộ Vệ-đà, lại là chuyên gia về ba mươi hai tướng của bậc đại nhân. Ông là người có học vấn, có của cải, có tuổi thọ và có danh vọng bậc nhất trong vùng. Nghe tiếng lành về vị sa-môn dòng dõi Sakya, ông không vội tin.
Thay vì tự mình đi ngay, Brahmāyu sai người học trò giỏi nhất là Uttara đến tận nơi để kiểm chứng. Ông trao cho Uttara một danh sách ba mươi hai tướng mà theo truyền thống bà-la-môn, một bậc đại nhân phải có đủ; ai có đủ những tướng ấy thì chỉ có hai con đường, hoặc ở nhà làm vị vua cai trị thiên hạ, hoặc xuất gia và trở thành bậc giác ngộ. Uttara đến, quan sát thân Đức Thế Tôn, thấy được tất cả các tướng trừ hai tướng kín đáo nhất. Đức Thế Tôn biết ý, dùng thần lực cho anh thấy tướng thứ nhất, rồi thè lưỡi dài che kín cả vầng trán để chứng minh tướng thứ hai. Uttara tin, nhưng vẫn ở lại theo Ngài suốt bảy tháng để xem cách Ngài đi, đứng, ngồi, ăn, nói năng. Trở về, anh thuật lại từng chi tiết, từ bước chân đầu tiên cho đến cách rửa bát.
Phần giữa bài kinh là một cuộc đối đáp bằng kệ. Brahmāyu đích thân đến, đảnh lễ, hỏi về hai tướng còn nghi, rồi hỏi những câu hỏi lớn của truyền thống bà-la-môn: thế nào là một bà-la-môn, thế nào là bậc thông hiểu Vệ-đà, bậc có ba minh, bậc học rộng, bậc A-la-hán, bậc viên mãn, bậc hiền triết, và thế nào được gọi là bậc Giác ngộ. Đức Thế Tôn không trả lời theo lối định nghĩa nghi lễ của giới bà-la-môn, mà trả lời bằng chính con đường tu tập: biết đời trước, thấy cõi trời và cõi khổ, chấm dứt sinh tử, tâm hoàn toàn thanh tịnh, không còn tham ái.
Nghe xong, vị thầy già đứng dậy, vắt y áo lên một vai, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Đức Thế Tôn và xưng tên mình. Cả hội chúng kinh ngạc, vì một người nổi tiếng như ông mà lại hạ mình đến thế. Đức Thế Tôn bảo ông đứng dậy, ngồi lại chỗ của mình, rồi giảng cho ông bài pháp tuần tự về bố thí, giới, cõi trời, sự nguy hại của các dục, và bốn sự thật cao quý. Ngay tại chỗ ngồi ấy, Brahmāyu chứng ngộ Pháp, xin quy y và thỉnh Đức Thế Tôn cùng Tăng đoàn về nhà thọ trai bảy ngày.
Bài kinh khép lại bằng một việc nhỏ nhưng đáng nhớ. Sau khi Đức Thế Tôn ra đi, Brahmāyu qua đời. Các tỳ-kheo hỏi ông đã tái sinh về đâu, và Đức Thế Tôn trả lời rằng vị ấy đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, sẽ nhập Niết-bàn tại cõi hóa sinh và không còn trở lại. Với người đọc hôm nay, bài kinh là một câu chuyện về sự kiểm chứng: một người ở đỉnh cao hiểu biết của thời mình không chịu tin theo tiếng đồn, sai học trò đi xem tận mắt, theo dõi suốt bảy tháng, và chỉ sau khi tự mình đối chiếu mới đặt lòng tin. Cái kết ấy cũng nhắc rằng một đời người dù đã gần đất xa trời vẫn có thể đổi hướng, nếu gặp được điều đáng tin.
Brahmāyusutta — bài kinh về bà-la-môn Brahmāyu ở Mithilā, một vị thầy trăm hai mươi tuổi thông suốt ba bộ Vệ-đà, người đã sai học trò Uttara đi kiểm chứng ba mươi hai tướng của bậc đại nhân nơi Đức Thế Tôn, rồi đích thân đến nghe Pháp, quy y và sau khi qua đời được Đức Thế Tôn xác nhận đã đắc quả Bất hoàn
Tôi nghe như vầy.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn đang du hành ở xứ Videha (Tỳ-đề-ha) cùng với một Tăng đoàn tỳ-kheo đông đảo gồm khoảng năm trăm vị.
[Chú thích: Xứ Videha nổi tiếng trong Bṛhadāraṇyaka Upaniṣad là nơi diễn ra những cuộc đàm luận triết học, nhất là giữa Yājñavalkya và vua Janaka. Có lẽ bài kinh này được dựng lại để cho thấy Đức Thế Tôn đã đưa một vị bà-la-môn lão thành thuộc truyền thống ấy về với giáo pháp, có thể chính là học trò trực tiếp của Yājñavalkya.]
Lúc bấy giờ, bà-la-môn Brahmāyu đang sống ở Mithilā. Ông đã già, tuổi cao, lớn tuổi, đã đi hết chặng đường đời, đã đến giai đoạn cuối của tuổi thọ, năm nay một trăm hai mươi tuổi. Ông đã thông suốt ba bộ Vệ-đà cùng với các bảng từ vựng và phần nghi lễ, phần ngữ âm và phần phân loại từ, cùng với phần sử thi là phần thứ năm; ông thuộc từng câu từng chữ và thông thạo ngữ pháp; ông cũng tinh thông khoa luận giải về thế gian lẫn tướng của bậc đại nhân.
[Chú thích: Vị bà-la-môn này hình như chỉ xuất hiện trong bài kinh này. Tuổi một trăm hai mươi là tuổi thọ hiếm, cũng được nhắc cho vài người khác trong kinh điển. Những từ như nighaṇḍu, keṭubha, akkhara, pabheda, padaka, itihāsa là tên các bộ môn học Vệ-đà: từ vựng, nghi lễ, ngữ âm, phân loại từ, cách đọc tách từng chữ và sử thi.]
Bà-la-môn Brahmāyu nghe rằng:
"Thưa ngài, sa-môn Gotama, dòng dõi Sakya, xuất gia từ gia tộc Sakya, đang du hành ở xứ Videha cùng với một Tăng đoàn tỳ-kheo đông đảo gồm khoảng năm trăm vị.
Về ngài Gotama ấy, một tiếng lành tốt đẹp như vầy đã được truyền lên:
'Vị ấy là bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đầy đủ minh và hạnh, bậc Thiện thệ, bậc thấu hiểu thế gian, bậc tối thượng dẫn dắt những người cần được điều ngự, bậc thầy của trời và người, bậc Giác ngộ, bậc Thế Tôn.'
Vị ấy đã tự mình chứng ngộ bằng thắng trí và công bố cho thế gian này, tức thế gian cùng với chư thiên, Ma vương và Phạm Thiên, cùng với dân chúng gồm sa-môn, bà-la-môn, chư thiên và loài người.
Vị ấy thuyết Pháp tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, tốt đẹp ở đoạn cuối, có nghĩa lý và văn cú, và trình bày đời sống phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh.
Thật tốt lành thay khi được gặp những bậc A-la-hán như vậy."
Lúc bấy giờ, bà-la-môn Brahmāyu có một thanh niên học trò tên là Uttara (Ưu-đa-la). Uttara cũng đã thông suốt ba bộ Vệ-đà cùng với các bảng từ vựng và phần nghi lễ, phần ngữ âm và phần phân loại từ, cùng với phần sử thi là phần thứ năm; anh thuộc từng câu từng chữ và thông thạo ngữ pháp; anh cũng tinh thông khoa luận giải về thế gian lẫn tướng của bậc đại nhân.
[Chú thích: Uttara là một tên phổ biến, không rõ vị này có phải là một trong những người cùng tên được nhắc ở chỗ khác hay không.]
Rồi bà-la-môn Brahmāyu gọi thanh niên Uttara:
"Này Uttara thân mến, sa-môn Gotama, dòng dõi Sakya, xuất gia từ gia tộc Sakya, đang du hành ở xứ Videha cùng với một Tăng đoàn tỳ-kheo đông đảo gồm khoảng năm trăm vị.
Về ngài Gotama ấy, một tiếng lành tốt đẹp như vầy đã được truyền lên:
'Vị ấy là bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đầy đủ minh và hạnh, bậc Thiện thệ, bậc thấu hiểu thế gian, bậc tối thượng dẫn dắt những người cần được điều ngự, bậc thầy của trời và người, bậc Giác ngộ, bậc Thế Tôn.' Vị ấy đã tự mình chứng ngộ bằng thắng trí và công bố cho thế gian này, tức thế gian cùng với chư thiên, Ma vương và Phạm Thiên, cùng với dân chúng gồm sa-môn, bà-la-môn, chư thiên và loài người. Vị ấy thuyết Pháp tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, tốt đẹp ở đoạn cuối, có nghĩa lý và văn cú, và trình bày đời sống phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh.
Thật tốt lành thay khi được gặp những bậc A-la-hán như vậy."
"Này Uttara thân mến, con hãy đến chỗ sa-môn Gotama. Đến rồi, con hãy tìm hiểu xem tiếng lành về ngài Gotama ấy có đúng như thật hay không;
[Chú thích: Những cuộc sai đi tương tự cũng được Pokkharasāti giao cho Ambaṭṭha (DN 3:1.4.8), và bà-la-môn già Bāvari giao cho mười sáu học trò của mình (Snp 5.1:22.1).]
xem ngài Gotama ấy có đúng là người như vậy hay không.
Nhờ con, chúng ta sẽ biết được ngài Gotama ấy."
[Chú thích: Bản PTS và bản BJT đọc là tayā thay cho tathā, nghĩa là "nhờ con".]
"Nhưng thưa ngài, con biết được ngài Gotama ấy bằng cách nào, để xem tiếng lành về ngài ấy có đúng như thật hay không;
và ngài Gotama ấy có đúng là người như vậy hay không?"
"Này Uttara thân mến, ba mươi hai tướng của bậc đại nhân đã được truyền lại trong các bài tụng của chúng ta. Một bậc đại nhân có đủ những tướng ấy chỉ có hai con đường, không có đường nào khác.
[Chú thích: Trong kinh điển Phật giáo, các tướng này được trình bày như sự ứng nghiệm lời tiên tri của giới bà-la-môn, nhưng chúng không có trong các văn bản bà-la-môn thời Đức Thế Tôn; về sau, các sách chiêm tinh như Gārgīyajyotiṣa và Bṛhatsaṁhitā mới nhắc đến nhiều tướng trong số đó. Ý niệm về hai con đường của bậc đại nhân, một hướng về đời và một hướng về đạo, có thể truy xa đến tận sử thi Gilgamesh.]
Nếu người ấy sống tại gia, người ấy trở thành vua, một Chuyển luân vương, một vị vua theo Pháp, vị vua của Pháp, bậc chinh phục bốn phương, đạt được sự vững vàng cho đất nước, và có đủ bảy báu vật.
[Chú thích: Hình ảnh Chuyển luân vương bắt nguồn từ lễ tế ngựa của Vệ-đà, vốn xác lập quyền uy của vua từ biển này đến biển kia; bản Phật giáo đã bỏ hết những yếu tố thô bạo. Bánh xe, vốn cũng mang nghĩa mặt trời, tượng trưng cho quyền lực không gì cản nổi.]
Người ấy có bảy báu vật này, đó là:
[Chú thích: Các báu vật của một vị vua cũng được bàn trong những văn bản như Śatapatha Brāhmaṇa 5.3.1; chúng được miêu tả chi tiết ở MN 129.]
báu vật bánh xe, báu vật voi, báu vật ngựa, báu vật ngọc, báu vật nữ, báu vật gia chủ, và vị tướng chỉ huy là báu vật thứ bảy.
Người ấy có hơn một ngàn người con trai, dũng cảm, anh hùng, thân hình như các bậc anh hùng, nghiền nát đội quân của kẻ thù.
[Chú thích: Con ngựa tế lễ khi đi khắp cõi được một trăm người con trai hộ vệ.]
Sau khi chinh phục cõi đất này, nơi lấy biển làm ranh giới, bằng cách không dùng gậy, không dùng gươm, mà bằng Pháp, người ấy trị vì.
Nhưng nếu người ấy xuất gia, rời nhà sống không nhà, người ấy trở thành bậc A-la-hán, bậc Chánh đẳng giác, bậc đã vén bức màn che phủ thế gian.
Này Uttara thân mến, chính ta là người trao truyền các bài tụng,
và con là người lãnh nhận các bài tụng."
"Thưa vâng, thưa ngài", thanh niên Uttara đáp lời bà-la-môn Brahmāyu. Rồi anh đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ bà-la-môn Brahmāyu, đi nhiễu phía bên phải ông, rồi lên đường đi về xứ Videha, nơi Đức Thế Tôn đang ở.
Đi dần từng chặng, anh đến chỗ Đức Thế Tôn; đến nơi, anh chào hỏi thân thiện với Ngài.
Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện và những câu chuyện lễ độ, anh ngồi xuống một bên.
Ngồi một bên, thanh niên Uttara quan sát thân Đức Thế Tôn để tìm ba mươi hai tướng của bậc đại nhân.
Thanh niên Uttara thấy được ba mươi hai tướng của bậc đại nhân nơi thân Đức Thế Tôn, trừ hai tướng ra thì thấy được những tướng còn lại.
Về hai tướng của bậc đại nhân, anh còn do dự, nghi ngờ, chưa quyết đoán, chưa tin hẳn:
tướng nam căn ẩn kín trong bao, và tướng lưỡi rộng lớn.
Rồi Đức Thế Tôn khởi ý rằng:
"Thanh niên Uttara này thấy được ba mươi hai tướng của bậc đại nhân nơi ta, trừ hai tướng ra thì thấy được những tướng còn lại.
Về hai tướng của bậc đại nhân, anh còn do dự, nghi ngờ, chưa quyết đoán, chưa tin hẳn:
tướng nam căn ẩn kín trong bao, và tướng lưỡi rộng lớn."
Rồi Đức Thế Tôn thực hiện một loại thần lực như vậy, khiến thanh niên Uttara thấy được tướng nam căn ẩn kín trong bao của Ngài.
Rồi Đức Thế Tôn thè lưỡi ra, liếm qua cả hai lỗ tai, liếm lên liếm xuống; liếm qua cả hai lỗ mũi, liếm lên liếm xuống; và dùng lưỡi che kín cả vầng trán.
Rồi thanh niên Uttara khởi ý rằng:
"Sa-môn Gotama có đủ ba mươi hai tướng của bậc đại nhân.
Vậy ta hãy đi theo sa-môn Gotama để quan sát cách đi đứng của Ngài."
Rồi thanh niên Uttara đi theo Đức Thế Tôn suốt bảy tháng, như bóng với hình không rời.
[Chú thích: Trong AN 4.192, Đức Thế Tôn nói rằng chỉ có thể thật sự biết tính cách một người khi đã sống lâu với người ấy.]
Sau khi bảy tháng trôi qua, thanh niên Uttara lên đường đi về phía Mithilā, trong xứ Videha.
Đi dần từng chặng, anh đến chỗ bà-la-môn Brahmāyu ở Mithilā; đến nơi, anh đảnh lễ bà-la-môn Brahmāyu rồi ngồi xuống một bên. Khi thanh niên Uttara đã ngồi một bên, bà-la-môn Brahmāyu nói với anh:
"Này Uttara thân mến, thế nào, tiếng lành về ngài Gotama ấy có đúng như thật, chứ không phải khác?"
"Ngài Gotama ấy có đúng là người như vậy, chứ không phải khác chứ?"
"Thưa ngài, tiếng lành về ngài Gotama ấy đúng như thật, chứ không phải khác.
Ngài Gotama ấy đúng là như vậy, chứ không phải khác.
Ngài Gotama ấy có đủ ba mươi hai tướng của bậc đại nhân."
[Chú thích: Các tướng cũng được liệt kê ở DN 14 và được phân tích theo nghiệp ở DN 30. Ở đây, những tướng tương ứng trong Bṛhatsaṁhitā được dẫn theo bản khảo cứu của Nathan McGovern về nguồn gốc ba mươi hai tướng.]
Thưa ngài, ngài Gotama có bàn chân đặt vững chắc.
[Chú thích: Tướng này nhắc lại tư thế của vị Bồ-tát khi mới sinh, với cùng ý nghĩa: Ngài sẽ giác ngộ nhờ đứng vững trên đôi chân của chính mình.]
Đây cũng là một tướng của bậc đại nhân nơi ngài Gotama đáng kính.
Dưới lòng bàn chân của ngài Gotama đáng kính có những bánh xe, mỗi bánh có một ngàn căm, có vành, có trục, đầy đủ mọi chi tiết. Đây cũng là một tướng của bậc đại nhân nơi ngài Gotama đáng kính.
[Chú thích: Bánh xe là biểu tượng mặt trời, gợi hình ảnh mặt trời như bánh xe mười hai căm của chân lý trong Rig Veda. Dấu bánh xe này được Doṇa nhìn thấy, và thường được khắc vẽ trong nghệ thuật Phật giáo.]
Ngài Gotama có gót chân dài. Đây cũng là một tướng của bậc đại nhân nơi ngài Gotama đáng kính.
[Chú thích: DN 30 miêu tả gót chân ấy là dài một cách đầy đặn.]
Ngài Gotama có những ngón tay dài. Đây cũng là một tướng của bậc đại nhân nơi ngài Gotama đáng kính.
[Chú thích: Bṛhatsaṁhitā cũng ghi tướng này.]
Bàn tay và bàn chân của ngài Gotama mềm mại và non mịn. Đây cũng là một tướng của bậc đại nhân nơi ngài Gotama đáng kính.
[Chú thích: Bṛhatsaṁhitā cũng nhắc đến bàn chân mềm mại.]
Bàn tay và bàn chân của ngài Gotama có các ngón khép sát nhau như lưới. Đây cũng là một tướng của bậc đại nhân nơi ngài Gotama đáng kính.
[Chú thích: Bṛhatsaṁhitā nói đến các ngón tay khép sát. Chú giải phủ nhận rằng jāla ở đây có nghĩa là màng thịt thật sự; ý nói các ngón thường khép lại với nhau chứ không xòe ra.]
Mu bàn chân của ngài Gotama cong cao như vỏ ốc. Đây cũng là một tướng của bậc đại nhân nơi ngài Gotama đáng kính.
[Chú thích: Ussaṅkha nghĩa là cong lên như vỏ ốc, còn Bṛhatsaṁhitā ví như mai rùa. Câu kệ miêu tả ở DN 30 cho thấy tướng này nói về mu bàn chân.]
Bắp chân của ngài Gotama giống bắp chân con linh dương. Đây cũng là một tướng của bậc đại nhân nơi ngài Gotama đáng kính.
[Chú thích: Đây là bắp chân sau dài và thanh của loài linh dương đen Ấn Độ.]
Khi đứng thẳng, không cúi người, ngài Gotama dùng cả hai lòng bàn tay sờ và xoa đầu gối. Đây cũng là một tướng của bậc đại nhân nơi ngài Gotama đáng kính.
[Chú thích: Điều này khớp với Bṛhatsaṁhitā.]
Ngài Gotama có tướng nam căn ẩn kín trong bao. Đây cũng là một tướng của bậc đại nhân nơi ngài Gotama đáng kính.
[Chú thích: Bṛhatsaṁhitā cũng ghi tướng này.]
Ngài Gotama có màu da vàng; da Ngài sáng như vàng ròng. Đây cũng là một tướng của bậc đại nhân nơi ngài Gotama đáng kính.
[Chú thích: Bṛhatsaṁhitā nói các vị vua có nước da sáng.]
Ngài Gotama có làn da mịn màng; vì da mịn màng nên bụi bẩn không dính vào thân Ngài. Đây cũng là một tướng của bậc đại nhân nơi ngài Gotama đáng kính.
[Chú thích: Bṛhatsaṁhitā nhắc đến nước da trong sạch.]
Ngài Gotama có mỗi lỗ chân lông mọc một sợi lông; mỗi sợi lông mọc ra từ một lỗ chân lông. Đây cũng là một tướng của bậc đại nhân nơi ngài Gotama đáng kính.
[Chú thích: Bṛhatsaṁhitā cũng ghi tướng này.]
Lông của ngài Gotama mọc ngược lên; lông mọc ngược lên, màu xanh đen, màu như thuốc xức mắt, xoăn tròn, xoay về phía bên phải. Đây cũng là một tướng của bậc đại nhân nơi ngài Gotama đáng kính.
[Chú thích: Bṛhatsaṁhitā nói người có lông xoay về bên phải sẽ làm vua.]
Thân ngài Gotama thẳng tắp như thân của Phạm Thiên. Đây cũng là một tướng của bậc đại nhân nơi ngài Gotama đáng kính.
[Chú thích: Ở đây brahm- là tính từ, nghĩa là lớn lên, dài ra, chứ không phải danh từ Phạm Thiên.]
Ngài Gotama có bảy chỗ trên thân đầy đặn, nở nang. Đây cũng là một tướng của bậc đại nhân nơi ngài Gotama đáng kính.
[Chú thích: Bảy chỗ ấy là hai bàn tay, hai bàn chân, hai vai và ngực.]
Nửa thân trước của ngài Gotama giống như nửa thân trước của sư tử. Đây cũng là một tướng của bậc đại nhân nơi ngài Gotama đáng kính.
[Chú thích: Bṛhatsaṁhitā lại so sánh phần hông với sư tử, chứ không phải phần ngực.]
Giữa hai vai của ngài Gotama đầy đặn. Đây cũng là một tướng của bậc đại nhân nơi ngài Gotama đáng kính.
[Chú thích: Bṛhatsaṁhitā nói phần tim nhô cao và có thịt.]
Thân ngài Gotama cân đối như cây đa: thân cao bao nhiêu thì sải tay dài bấy nhiêu, sải tay dài bao nhiêu thì thân cao bấy nhiêu. Đây cũng là một tướng của bậc đại nhân nơi ngài Gotama đáng kính.
[Chú thích: Bṛhatsaṁhitā cũng ghi tỉ lệ ấy mà không dùng hình ảnh cây đa. Đây là tỉ lệ bình thường của người, nhưng muốn chạm được đầu gối mà không cúi thì tay phải dài thêm và phần chân dưới đầu gối cũng phải dài thêm, đúng như các tướng khác trong bài mô tả.]
Vai của ngài Gotama tròn đều. Đây cũng là một tướng của bậc đại nhân nơi ngài Gotama đáng kính.
Ngài Gotama có những gai vị giác nổi cao trên lưỡi. Đây cũng là một tướng của bậc đại nhân nơi ngài Gotama đáng kính.
[Chú thích: Rasaggasaggī là các gai vị giác nổi rõ trên lưỡi, giúp hấp thụ dưỡng chất và tiêu hóa. Chữ agga ở đây nghĩa là đỉnh, ngọn, chứ không phải là tốt nhất.]
Hàm của ngài Gotama như hàm sư tử. Đây cũng là một tướng của bậc đại nhân nơi ngài Gotama đáng kính.
Ngài Gotama có bốn mươi cái răng. Đây cũng là một tướng của bậc đại nhân nơi ngài Gotama đáng kính.
Răng của ngài Gotama đều nhau. Đây cũng là một tướng của bậc đại nhân nơi ngài Gotama đáng kính.
[Chú thích: Bṛhatsaṁhitā cũng nói đến răng đều, không hở và trắng.]
Răng của ngài Gotama không có khe hở. Đây cũng là một tướng của bậc đại nhân nơi ngài Gotama đáng kính.
Răng của ngài Gotama trắng tinh. Đây cũng là một tướng của bậc đại nhân nơi ngài Gotama đáng kính.
Ngài Gotama có lưỡi rộng lớn. Đây cũng là một tướng của bậc đại nhân nơi ngài Gotama đáng kính.
[Chú thích: Bṛhatsaṁhitā cũng ghi tướng này.]
Ngài Gotama có giọng nói như giọng Phạm Thiên, nói năng như tiếng chim karavīka. Đây cũng là một tướng của bậc đại nhân nơi ngài Gotama đáng kính.
Mắt ngài Gotama màu xanh thẫm. Đây cũng là một tướng của bậc đại nhân nơi ngài Gotama đáng kính.
[Chú thích: Trong Thig 13.1, Ambapālī miêu tả mắt mình là abhinīla. Có lẽ đây là màu đen sẫm đến mức trông như xanh.]
Lông mi của ngài Gotama như lông mi của bò cái. Đây cũng là một tướng của bậc đại nhân nơi ngài Gotama đáng kính.
[Chú thích: Bò có lông mi dài và thanh.]
Giữa hai lông mày của ngài Gotama đáng kính mọc một sợi lông trắng, mềm như bông. Đây cũng là một tướng của bậc đại nhân nơi ngài Gotama đáng kính.
Đỉnh đầu ngài Gotama nhô cao như khăn quấn. Đây cũng là một tướng của bậc đại nhân nơi ngài Gotama đáng kính.
[Chú thích: Uṇhīsa được hình dung như một khối nhô lên trên đỉnh đầu.]
Thưa ngài, ngài Gotama có đủ ba mươi hai tướng của bậc đại nhân này.
Khi đi, ngài Gotama bước bước đầu tiên bằng chân phải.
[Chú thích: Từ đây, Uttara miêu tả cách Đức Thế Tôn đi đứng, cho thấy ông quan sát rất kỹ từng chi tiết.]
Ngài không nhấc chân quá xa, cũng không đặt chân quá gần.
Ngài không đi quá nhanh, cũng không đi quá chậm.
Ngài đi mà không để đầu gối này chạm vào đầu gối kia, không để mắt cá này chạm vào mắt cá kia.
[Chú thích: Theo chú giải, adduva nghĩa là đầu gối.]
Khi đi, Ngài không duỗi đùi quá mức, không gập đùi quá mức; không co đùi lại, không vung đùi ra.
Khi ngài Gotama đi, chỉ nửa thân dưới chuyển động, và Ngài không cần dùng sức của thân để đi.
Khi nhìn lại, ngài Gotama nhìn lại bằng cả thân mình.
[Chú thích: Đây là cách nhìn được gọi là cách nhìn của voi, như trong DN 16.]
Ngài không nhìn thẳng lên trên, không nhìn xuống dưới.
Ngài không đi mà nhìn quanh quất, chỉ nhìn xa chừng một thước cày; vượt khỏi khoảng ấy, Ngài có tri kiến không bị che khuất.
[Chú thích: Câu này cũng có trong Snp 3.1.]
Khi vào trong xóm nhà, Ngài không ưỡn thân lên, không cúi thân xuống; không co thân lại, không vung thân ra.
Ngài xoay người ngồi xuống chỗ ngồi, không quá xa cũng không quá gần. Ngài không dùng tay chống để ngồi xuống chỗ ngồi, và không thả cả thân mình xuống chỗ ngồi.
Khi ngồi trong xóm nhà, Ngài không có những động tác thừa của tay, của chân.
Ngài không ngồi với đầu gối này gác lên đầu gối kia, không ngồi với mắt cá này gác lên mắt cá kia.
Ngài không ngồi chống tay lên cằm.
Khi ngồi trong xóm nhà, Ngài không run, không rung, không lẩy bẩy, không hốt hoảng. Ngài không run, không rung, không lẩy bẩy, không hốt hoảng, và không còn nổi da gà vì sợ.
Khi ngồi trong xóm nhà, ngài Gotama vẫn giữ được nếp sống tách ly.
Khi nhận nước rửa bát, Ngài không nghiêng bát lên, không nghiêng bát xuống; không xoay bát, không vung bát.
Ngài nhận nước rửa bát không quá ít, không quá nhiều.
Ngài rửa bát không gây tiếng sột soạt, không xoay tròn bát; Ngài không đặt bát xuống đất rồi rửa tay: khi tay được rửa thì bát cũng được rửa, khi bát được rửa thì tay cũng được rửa.
Ngài đổ nước rửa bát không quá xa, không quá gần, và không vung vãi.
Khi nhận cơm, Ngài không nghiêng bát lên, không nghiêng bát xuống; không xoay bát, không vung bát.
Ngài nhận cơm không quá ít, không quá nhiều.
Ngài dùng món ăn kèm vừa đúng mức, và không để món ăn kèm nhiều hơn miếng cơm.
Ngài nhai mỗi miếng trong miệng hai ba lần rồi mới nuốt.
Không một hạt cơm nào chưa được nhai vỡ mà vào trong thân Ngài, và không một hạt cơm nào còn lại trong miệng Ngài.
Chỉ sau đó Ngài mới đưa miếng kế tiếp lên.
Ngài ăn với sự cảm nhận vị, nhưng không ăn với sự cảm nhận lòng tham đối với vị.
Ngài ăn cơm với đủ tám yếu tố:
không phải để vui chơi, không phải để say đắm, không phải để làm đẹp, không phải để trang sức, mà chỉ để duy trì thân này, để giữ cho nó sống, để tránh khổ hại, để hỗ trợ đời sống phạm hạnh: 'Như vậy ta sẽ chấm dứt cảm thọ cũ và không làm phát sinh cảm thọ mới; ta sẽ sống được, không có lỗi lầm, và có được an trú thoải mái.'
[Chú thích: Đây là lời quán tưởng truyền thống trước bữa ăn, như trong MN 2.]
Sau khi ăn xong, khi nhận nước rửa bát, Ngài không nghiêng bát lên, không nghiêng bát xuống; không xoay bát, không vung bát.
Ngài nhận nước rửa bát không quá ít, không quá nhiều.
Ngài rửa bát không gây tiếng sột soạt, không xoay tròn bát; Ngài không đặt bát xuống đất rồi rửa tay: khi tay được rửa thì bát cũng được rửa, khi bát được rửa thì tay cũng được rửa.
Ngài đổ nước rửa bát không quá xa, không quá gần, và không vung vãi.
Sau khi ăn xong, Ngài không đặt bát xuống đất quá xa cũng không quá gần; Ngài không coi nhẹ cái bát, cũng không giữ gìn cái bát quá mức.
Sau khi ăn xong, Ngài ngồi yên lặng một lát, nhưng không để quá lâu mà bỏ mất thời điểm nói lời cảm tạ.
Sau khi ăn xong, Ngài nói lời cảm tạ, không chê bữa ăn ấy, không mong một bữa ăn khác.
[Chú thích: Đây là lời anumodanā tụng sau khi thọ trai, ví dụ có trong DN 16, Snp 3.7, SN 55.26 và Luật tạng. Đáng chú ý là không bài anumodanā cổ nào dùng động từ mệnh lệnh để ban phước, mà dùng lối nói chỉ nguyên nhân và kết quả.]
Khác hẳn thế, Ngài dùng lời Pháp để chỉ dạy, khuyến khích, khích lệ và làm hoan hỷ hội chúng ấy.
Sau khi dùng lời Pháp chỉ dạy, khuyến khích, khích lệ và làm hoan hỷ hội chúng ấy, Ngài đứng dậy khỏi chỗ ngồi và ra đi.
Ngài đi không quá nhanh, không quá chậm, và không đi với ý muốn thoát khỏi nơi ấy.
Y áo trên thân ngài Gotama không quá cao, không quá thấp, không dính sát vào thân, không rời xa thân.
Gió không thổi bay y áo khỏi thân ngài Gotama.
Bụi bẩn không dính vào thân ngài Gotama.
Khi đã vào tu viện, Ngài ngồi xuống chỗ ngồi đã được sắp đặt. Ngồi xong, Ngài rửa chân.
Ngài Gotama không chuyên tâm vào việc chăm chút, làm đẹp đôi chân.
Sau khi rửa chân, Ngài ngồi xuống, xếp chân lại, giữ thân thẳng, và đặt chánh niệm trước mặt.
Ngài không nghĩ đến việc làm khổ mình, không nghĩ đến việc làm khổ người khác, không nghĩ đến việc làm khổ cả hai.
Ngài Gotama ngồi đó chỉ để suy nghĩ đến lợi ích của mình, lợi ích của người khác, lợi ích của cả hai, và lợi ích của cả thế gian.
Khi đã vào tu viện, Ngài thuyết Pháp cho hội chúng, không tâng bốc hội chúng ấy, không chê bai hội chúng ấy.
Khác hẳn thế, Ngài dùng lời Pháp để chỉ dạy, khuyến khích, khích lệ và làm hoan hỷ hội chúng ấy.
Giọng nói từ miệng ngài Gotama phát ra có đủ tám yếu tố:
rõ ràng, dễ hiểu, êm tai, dễ nghe, trong sáng, không lan man, sâu lắng, và ngân vang.
Ngài Gotama dùng giọng nói làm cho hội chúng ấy hiểu được, và tiếng của Ngài không phát ra ngoài hội chúng ấy.
Sau khi được ngài Gotama dùng lời Pháp chỉ dạy, khuyến khích, khích lệ và làm hoan hỷ, họ đứng dậy khỏi chỗ ngồi và ra về, vẫn còn ngoái nhìn lại, không rời mắt khỏi Ngài.
Thưa ngài, chúng con đã thấy ngài Gotama ấy khi đi, đã thấy khi đứng, đã thấy khi vào xóm nhà, đã thấy khi ngồi yên lặng trong xóm nhà, đã thấy khi dùng bữa trong xóm nhà, đã thấy khi ăn xong ngồi yên lặng, đã thấy khi ăn xong nói lời cảm tạ, đã thấy khi đi đến tu viện, đã thấy khi đến tu viện ngồi yên lặng, đã thấy khi đến tu viện thuyết Pháp cho hội chúng.
Ngài Gotama ấy là như vậy, như vậy, và còn hơn thế nữa.
Khi nghe nói vậy, bà-la-môn Brahmāyu đứng dậy khỏi chỗ ngồi, vắt y áo lên một bên vai, chắp hai tay hướng về Đức Thế Tôn, và ba lần thốt lên lời cảm thán:
"Nam mô Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh đẳng giác.
Nam mô Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh đẳng giác.
Nam mô Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh đẳng giác.
Ước gì một ngày nào đó, lúc nào đó, chúng con được gặp ngài Gotama ấy. Ước gì có được một cuộc trò chuyện với Ngài."
Rồi Đức Thế Tôn, du hành dần dần trong xứ Videha, đã đến Mithilā.
Tại đó, Đức Thế Tôn ngụ ở vườn xoài Maghadeva (Ma-khư-đề-bà) trong thành Mithilā.
[Chú thích: Câu chuyện về Maghadeva được kể trong MN 83.]
Các bà-la-môn và gia chủ ở Mithilā nghe rằng:
"Thưa ngài, sa-môn Gotama, dòng dõi Sakya, xuất gia từ gia tộc Sakya, đang du hành ở xứ Videha cùng với một Tăng đoàn tỳ-kheo đông đảo gồm khoảng năm trăm vị, nay đã đến Mithilā, đang ngụ ở vườn xoài Maghadeva trong thành Mithilā.
Về ngài Gotama ấy, một tiếng lành tốt đẹp như vầy đã được truyền lên:
'Vị ấy là bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đầy đủ minh và hạnh, bậc Thiện thệ, bậc thấu hiểu thế gian, bậc tối thượng dẫn dắt những người cần được điều ngự, bậc thầy của trời và người, bậc Giác ngộ, bậc Thế Tôn.'
Vị ấy đã tự mình chứng ngộ bằng thắng trí và công bố cho thế gian này, tức thế gian cùng với chư thiên, Ma vương và Phạm Thiên, cùng với dân chúng gồm sa-môn, bà-la-môn, chư thiên và loài người.
Vị ấy thuyết Pháp tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, tốt đẹp ở đoạn cuối, có nghĩa lý và văn cú, và trình bày đời sống phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh.
Thật tốt lành thay khi được gặp những bậc A-la-hán như vậy."
Rồi các bà-la-môn và gia chủ ở Mithilā đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến nơi, một số người đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số người chào hỏi thân thiện với Đức Thế Tôn, sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện và những câu chuyện lễ độ thì ngồi xuống một bên; một số người chắp tay hướng về Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số người xưng tên họ trước Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số người chỉ ngồi yên lặng sang một bên.
Bà-la-môn Brahmāyu cũng nghe rằng: "Thưa ngài, sa-môn Gotama, dòng dõi Sakya, xuất gia từ gia tộc Sakya, đã đến Mithilā, đang ngụ ở vườn xoài Maghadeva trong thành Mithilā."
Rồi bà-la-môn Brahmāyu cùng với một hội chúng học trò đông đảo đi đến vườn xoài Maghadeva.
Khi còn cách vườn xoài không xa, bà-la-môn Brahmāyu khởi ý rằng:
"Ta đường đột đến gặp sa-môn Gotama mà không cho ông ấy biết trước thì thật không phải lẽ."
[Chú thích: Điều này cho thấy lòng kính trọng và phép lịch sự sâu sắc của ông.]
Rồi bà-la-môn Brahmāyu gọi một thanh niên học trò:
"Này thanh niên, con hãy đến chỗ sa-môn Gotama; đến rồi, nhân danh ta, con hãy hỏi thăm ngài Gotama có khỏe không, ít bệnh không, đi lại nhẹ nhàng không, có sức không, sống có thoải mái không.
'Bà-la-môn Brahmāyu, thưa ngài Gotama, hỏi thăm ngài Gotama có khỏe không, ít bệnh không, đi lại nhẹ nhàng không, có sức không, sống có thoải mái không.'
Và con hãy nói thêm:
'Bà-la-môn Brahmāyu, thưa ngài Gotama, đã già, tuổi cao, lớn tuổi, đã đi hết chặng đường đời, đã đến giai đoạn cuối của tuổi thọ, năm nay một trăm hai mươi tuổi. Ông đã thông suốt ba bộ Vệ-đà cùng với các bảng từ vựng và phần nghi lễ, phần ngữ âm và phần phân loại từ, cùng với phần sử thi là phần thứ năm; ông thuộc từng câu từng chữ và thông thạo ngữ pháp; ông cũng tinh thông khoa luận giải về thế gian lẫn tướng của bậc đại nhân.
Thưa ngài, trong số các bà-la-môn và gia chủ sống ở Mithilā, bà-la-môn Brahmāyu được nói là bậc nhất
về của cải;
bà-la-môn Brahmāyu được nói là bậc nhất về
các bài tụng;
bà-la-môn Brahmāyu được nói là bậc nhất về
tuổi thọ và danh tiếng.
Ông ấy muốn được gặp ngài Gotama.'"
"Thưa vâng, thưa ngài", thanh niên ấy đáp lời bà-la-môn Brahmāyu, rồi đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến nơi, anh chào hỏi thân thiện với Ngài.
Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện và những câu chuyện lễ độ, anh đứng sang một bên. Đứng một bên, thanh niên ấy nói với Đức Thế Tôn:
"Bà-la-môn Brahmāyu, thưa ngài Gotama, hỏi thăm ngài Gotama có khỏe không, ít bệnh không, đi lại nhẹ nhàng không, có sức không, sống có thoải mái không;
và ông ấy nói rằng:
'Bà-la-môn Brahmāyu, thưa ngài Gotama, đã già, tuổi cao, lớn tuổi, đã đi hết chặng đường đời, đã đến giai đoạn cuối của tuổi thọ, năm nay một trăm hai mươi tuổi. Ông đã thông suốt ba bộ Vệ-đà cùng với các bảng từ vựng và phần nghi lễ, phần ngữ âm và phần phân loại từ, cùng với phần sử thi là phần thứ năm; ông thuộc từng câu từng chữ và thông thạo ngữ pháp; ông cũng tinh thông khoa luận giải về thế gian lẫn tướng của bậc đại nhân.
Thưa ngài, trong số các bà-la-môn và gia chủ sống ở Mithilā, bà-la-môn Brahmāyu được nói là bậc nhất
về của cải;
bà-la-môn Brahmāyu được nói là bậc nhất về
các bài tụng;
bà-la-môn Brahmāyu được nói là bậc nhất về
tuổi thọ và danh tiếng.
Ông ấy muốn được gặp ngài Gotama.'"
"Này thanh niên, bà-la-môn Brahmāyu cứ đến khi ông ấy thấy thuận tiện."
Rồi thanh niên ấy trở lại chỗ bà-la-môn Brahmāyu; đến nơi, anh nói với bà-la-môn Brahmāyu:
"Con đã được sa-môn Gotama cho phép.
Ngài hãy đi lúc nào ngài thấy thuận tiện."
Rồi bà-la-môn Brahmāyu đi đến chỗ Đức Thế Tôn.
Hội chúng ấy thấy bà-la-môn Brahmāyu từ xa đi đến,
thấy vậy bèn dẹp lối cho ông, vì ông là người quen biết và nổi tiếng.
Rồi bà-la-môn Brahmāyu nói với hội chúng ấy:
"Thôi đủ rồi, thưa quý vị.
Quý vị hãy ngồi lại chỗ của mình.
Ta sẽ ngồi đây, bên cạnh sa-môn Gotama."
Rồi bà-la-môn Brahmāyu đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến nơi, ông chào hỏi thân thiện với Ngài.
Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện và những câu chuyện lễ độ, ông ngồi xuống một bên.
Ngồi một bên, bà-la-môn Brahmāyu quan sát thân Đức Thế Tôn để tìm ba mươi hai tướng của bậc đại nhân.
Bà-la-môn Brahmāyu thấy được ba mươi hai tướng của bậc đại nhân nơi thân Đức Thế Tôn, trừ hai tướng ra thì thấy được những tướng còn lại.
Về hai tướng của bậc đại nhân, ông còn do dự, nghi ngờ, chưa quyết đoán, chưa tin hẳn:
tướng nam căn ẩn kín trong bao, và tướng lưỡi rộng lớn.
Rồi bà-la-môn Brahmāyu nói với Đức Thế Tôn bằng những bài kệ:
"Ba mươi hai tướng ấy, con đã nghe nói,
là những tướng của bậc đại nhân;
trong đó có hai tướng con không thấy
trên thân ngài Gotama đáng kính.
Không biết tướng nam căn ẩn kín trong bao của ngài,
hỡi bậc tối thượng trong loài người, có đúng như vậy chăng?
Lưỡi vốn mang tên gọi giống cái,
[Chú thích: Trong tiếng Pali, chữ jivhā (lưỡi) thuộc giống cái.]
không biết lưỡi ấy có phải là lưỡi của bậc nam nhi?
[Chú thích: Bản Pali nên đọc là narassikā, nghĩa là lưỡi của đàn ông.]
Không biết ngài có tướng lưỡi rộng lớn,
đúng như chúng con đã được biết chăng;
xin ngài thè lưỡi rộng lớn ấy ra,
và gỡ mối nghi cho chúng con, hỡi bậc hiền triết.
Vì lợi ích trong đời này,
và vì hạnh phúc trong đời sau;
chúng con đã được phép, xin hỏi ngài
bất cứ điều gì chúng con mong muốn."
Rồi Đức Thế Tôn khởi ý rằng:
"Bà-la-môn Brahmāyu này thấy được ba mươi hai tướng của bậc đại nhân nơi ta, trừ hai tướng ra thì thấy được những tướng còn lại.
Về hai tướng của bậc đại nhân, ông còn do dự, nghi ngờ, chưa quyết đoán, chưa tin hẳn:
tướng nam căn ẩn kín trong bao, và tướng lưỡi rộng lớn."
Rồi Đức Thế Tôn thực hiện một loại thần lực như vậy, khiến bà-la-môn Brahmāyu thấy được tướng nam căn ẩn kín trong bao của Ngài.
Rồi Đức Thế Tôn thè lưỡi ra, liếm qua cả hai lỗ tai, liếm lên liếm xuống; liếm qua cả hai lỗ mũi, liếm lên liếm xuống; và dùng lưỡi che kín cả vầng trán.
Rồi Đức Thế Tôn đáp lại bà-la-môn Brahmāyu bằng những bài kệ:
"Ba mươi hai tướng ấy, ngài đã nghe nói,
là những tướng của bậc đại nhân;
tất cả đều có trên thân ta:
này bà-la-môn, chớ còn nghi ngờ.
Điều cần biết thì ta đã biết,
[Chú thích: Bài kệ bốn dòng này bao trùm bốn sự thật cao quý cùng với việc phải làm đối với chúng: khổ cần được biết, nguồn gốc của khổ cần được đoạn trừ, đường đi cần được tu tập; sự thật thứ ba là chứng ngộ Niết-bàn được ngụ ý ở dòng cuối.]
điều cần tu tập thì ta đã tu tập;
điều cần đoạn trừ thì ta đã đoạn trừ:
vì vậy, này bà-la-môn, ta là bậc Giác ngộ.
Vì lợi ích trong đời này,
và vì hạnh phúc trong đời sau:
ta cho phép ngài, hãy hỏi đi,
bất cứ điều gì ngài mong muốn."
Rồi bà-la-môn Brahmāyu khởi ý rằng:
"Ta đã được sa-môn Gotama cho phép.
Vậy ta nên hỏi sa-môn Gotama điều gì đây:
điều lợi ích trong đời này, hay điều lợi ích trong đời sau?"
Rồi bà-la-môn Brahmāyu lại khởi ý rằng:
"Ta vốn sành về những lợi ích trong đời này.
Người khác cũng hỏi ta về lợi ích trong đời này.
Vậy ta hãy hỏi sa-môn Gotama về lợi ích thuộc đời sau."
Rồi bà-la-môn Brahmāyu nói với Đức Thế Tôn bằng những bài kệ:
"Thế nào thì trở thành bà-la-môn?
[Chú thích: Không rõ vì sao Đức Thế Tôn không trả lời trực tiếp các câu hỏi này, trừ hai câu cuối về bậc hiền triết và bậc Giác ngộ. Phần lớn những từ kia là thuật ngữ của bà-la-môn giáo, và ở chỗ khác Đức Thế Tôn có định nghĩa chúng theo cách của Ngài. Các bản Hán tương ứng có ít mục hơn bản Pali nhưng ghép câu hỏi với câu trả lời khớp hơn.]
Thế nào thì thành bậc thông hiểu Vệ-đà?"
"Thế nào thì thành bậc có ba minh?
Và thế nào được gọi là bậc học rộng?
Thế nào thì thành bậc A-la-hán?
Thế nào thì thành bậc viên mãn?
Thế nào thì thành bậc hiền triết?
Và thế nào được gọi là bậc Giác ngộ?"
Rồi Đức Thế Tôn đáp lại bà-la-môn Brahmāyu bằng những bài kệ:
"Ai biết được đời sống trước đây của mình,
thấy được cõi trời và cõi khổ,
và đã đạt đến sự chấm dứt sinh tử,
vị hiền triết ấy đã viên mãn nhờ thắng trí.
Vị ấy biết tâm mình đã thanh tịnh,
hoàn toàn giải thoát khỏi mọi tham ái;
đã đoạn trừ sinh và tử,
đã viên mãn đời sống phạm hạnh;
đã đi đến bờ bên kia của mọi pháp,
bậc như vậy được gọi là bậc Giác ngộ."
Khi nghe nói vậy, bà-la-môn Brahmāyu đứng dậy khỏi chỗ ngồi, vắt y áo lên một bên vai, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Đức Thế Tôn, dùng miệng hôn chân Ngài, dùng tay xoa chân Ngài, và xưng tên mình:
"Thưa ngài Gotama, con là bà-la-môn Brahmāyu;
thưa ngài Gotama, con là bà-la-môn Brahmāyu."
Rồi hội chúng ấy khởi lòng kinh ngạc và lạ lùng:
"Thật là kỳ diệu thay, thưa các ngài, thật là hiếm lạ thay, thưa các ngài!
Bà-la-môn Brahmāyu đây là người quen biết và nổi tiếng, vậy mà lại làm một cách đảnh lễ tột độ như thế đối với Đức Thế Tôn."
Rồi Đức Thế Tôn nói với bà-la-môn Brahmāyu:
"Thôi đủ rồi, này bà-la-môn. Hãy đứng dậy, ngồi lại chỗ của mình, vì tâm ông đã có lòng tin nơi ta."
Rồi bà-la-môn Brahmāyu đứng dậy và ngồi lại chỗ của mình.
Rồi Đức Thế Tôn giảng cho bà-la-môn Brahmāyu một bài pháp tuần tự, đó là:
bài nói về bố thí, bài nói về giới, bài nói về cõi trời;
Ngài trình bày những nguy hại, sự thấp hèn và sự ô nhiễm của các dục, và lợi ích của sự xuất ly.
Khi Đức Thế Tôn biết tâm bà-la-môn Brahmāyu đã sẵn sàng, mềm mại, không còn chướng ngại, phấn khởi và trong sạch, Ngài liền trình bày bài pháp đặc biệt của chư Phật:
khổ, nguồn gốc của khổ, sự chấm dứt của khổ, và con đường.
Ví như một tấm vải sạch, không còn vết bẩn, thấm nhận thuốc nhuộm đúng cách;
cũng vậy, ngay tại chỗ ngồi ấy, pháp nhãn không bụi, không cấu uế khởi lên nơi bà-la-môn Brahmāyu:
"Điều gì có tính chất sinh khởi, tất cả đều có tính chất chấm dứt."
Rồi bà-la-môn Brahmāyu đã thấy Pháp, đạt được Pháp, hiểu rõ Pháp, thấu nhập Pháp, vượt qua nghi ngờ, dứt hết do dự, đạt được sự tự tin, không còn lệ thuộc người khác trong lời dạy của bậc Đạo sư, bèn thưa với Đức Thế Tôn:
"Thật tuyệt vời, thưa ngài Gotama, thật tuyệt vời, thưa ngài Gotama!
Ví như người ta dựng lại vật đã bị lật úp, mở ra vật đã bị che kín, chỉ đường cho người lạc lối, đem đèn dầu vào chỗ tối để những người có mắt thấy được các sắc; cũng vậy, ngài Gotama đã trình bày Pháp bằng nhiều cách khác nhau.
Con xin quy y ngài Gotama, quy y Pháp, và quy y Tăng đoàn tỳ-kheo.
Xin ngài Gotama nhận con làm người cư sĩ, từ hôm nay cho đến trọn đời, con xin quy y.
Xin ngài Gotama nhận lời bữa ăn ngày mai của con, cùng với Tăng đoàn tỳ-kheo."
Đức Thế Tôn nhận lời bằng cách im lặng.
Rồi bà-la-môn Brahmāyu, biết Đức Thế Tôn đã nhận lời, đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ Đức Thế Tôn, đi nhiễu phía bên phải Ngài rồi ra về.
Rồi bà-la-môn Brahmāyu, khi đêm ấy qua đi, cho sửa soạn các món ăn ngon để nhai và để nuốt tại nhà mình, rồi cho người báo giờ cho Đức Thế Tôn:
"Thưa ngài Gotama, đã đến giờ, bữa ăn đã sẵn."
Rồi Đức Thế Tôn vào buổi sáng, sau khi mặc y, cầm bát và y áo, đi đến nhà bà-la-môn Brahmāyu; đến nơi, Ngài ngồi xuống chỗ ngồi đã sắp đặt, cùng với Tăng đoàn tỳ-kheo.
Rồi bà-la-môn Brahmāyu tự tay dâng và làm hoan hỷ Tăng đoàn tỳ-kheo đứng đầu là Đức Thế Tôn suốt bảy ngày bằng các món ăn ngon để nhai và để nuốt.
Rồi Đức Thế Tôn, sau khi bảy ngày ấy qua đi, lên đường du hành trong xứ Videha.
Rồi bà-la-môn Brahmāyu, không lâu sau khi Đức Thế Tôn ra đi, đã qua đời.
Rồi nhiều tỳ-kheo đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến nơi, các vị đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, các tỳ-kheo ấy thưa với Đức Thế Tôn:
"Bạch Thế Tôn, bà-la-môn Brahmāyu đã qua đời."
Ông ấy sẽ đi về đâu, đời sau sẽ thế nào?
"Này các tỳ-kheo, bà-la-môn Brahmāyu là người sáng suốt. Ông ấy đã thực hành Pháp theo đúng Pháp, và không làm khó ta về chuyện Pháp.
Này các tỳ-kheo, bà-la-môn Brahmāyu, do đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, đã tái sinh vào cõi hóa sinh, sẽ nhập Niết-bàn ngay tại đó, không còn trở lại từ thế giới ấy."
Đức Thế Tôn nói như vậy.
Các tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tán thán lời Ngài dạy.
Kinh Brahmāyu, bài thứ nhất, đã kết thúc.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.