buppou

Trung Bộ Kinh · bài 60/152

Kinh Không Thể Tranh Cãi

Apaṇṇaka Sutta — bài kinh về pháp không thể tranh cãi

52 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Không Thể Tranh Cãi (Apaṇṇaka Sutta) là bài kinh thứ 60 trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), bộ kinh gồm 152 bài cỡ vừa trong Kinh tạng Pali. Bối cảnh là một làng của người bà-la-môn tên Sālā, trong xứ Kosala, nơi Đức Thế Tôn đang du hành cùng đại chúng tỳ-kheo. Các bà-la-môn và gia chủ trong làng kéo đến gặp Ngài, và câu hỏi đầu tiên của Ngài rất giản dị: các ông đã có vị thầy nào mình thật sự hài lòng chưa? Họ thưa là chưa có.

Tên bài kinh lấy từ chữ apaṇṇaka, một thuật ngữ đánh bạc thời cổ. Bộ xúc xắc dùng trong trò chơi ấy có bốn hạt được xem là "trọn vẹn", còn hạt thứ năm là hạt thua: chỉ cần thêm một hạt ấy là mất tất cả. Một canh bạc apaṇṇaka là canh bạc không có hạt thua, tức một lựa chọn chắc ăn, không thể thất bại. Đức Thế Tôn mượn đúng hình ảnh ấy để nói về một cách sống: khi chưa biết chắc những câu hỏi lớn về đời sau, về quả báo của việc thiện ác, về nhân duyên của khổ vui, người ta vẫn có thể chọn một thế đứng mà mình không thể lỗ.

Cách lập luận của bài kinh rất đều. Mỗi lần, Đức Thế Tôn nêu hai quan điểm trái ngược hẳn nhau: một bên nói không có đời sau, không có quả của việc bố thí, không có mẹ cha, không có các bậc tu hành đã tự mình chứng ngộ; bên kia nói có tất cả những điều ấy. Rồi Ngài cho thấy người theo quan điểm phủ nhận sẽ sống buông thả, bị người có trí chê ngay trong đời này, và nếu quả thật có đời sau thì mất cả phần đời này lẫn phần đời sau. Ngược lại, người theo quan điểm khẳng định sống có giới, được người có trí khen, và nếu quả thật có đời sau thì được cả hai phần. Cùng một lối ấy được lặp lại với hai cặp quan điểm nữa: hành động có quả hay không có quả, và mọi sự có nhân duyên hay không có nhân duyên.

Điều đáng chú ý là bài kinh không đòi người nghe tin ngay vào một kết luận siêu hình. Nó nói theo ngôn ngữ của sự khôn ngoan thực tế: nếu phải sống mà chưa biết chắc, hãy chọn phía mà dù kết quả thế nào mình cũng không thiệt. Hai cặp quan điểm cuối bài đẩy cách lập luận lên một tầng sâu hơn, bàn về các tầng vô sắc và về sự chấm dứt của hữu, và ở đó Đức Thế Tôn không còn nói đến phần thưởng bên ngoài mà chỉ ra chỗ người trí thấy tâm mình đang gần với tham hay gần với sự ly tham.

Nửa sau bài kinh chuyển sang một câu hỏi khác: thế nào là hạng người tốt nhất. Đức Thế Tôn kể bốn hạng người: hạng tự hành hạ mình bằng các phép khổ hạnh, hạng hành hạ người khác bằng nghề tàn ác, hạng làm cả hai như một vị vua mở đại lễ tế, và hạng thứ tư là hạng không hành hạ mình cũng không hành hạ ai. Hạng thứ tư được mô tả bằng cả con đường tu tập: xuất gia, sống đầy đủ giới, hộ trì các cửa căn, có chánh niệm và tỉnh giác, rồi bốn tầng thiền-na, rồi ba loại trí là nhớ lại các đời sống quá khứ, thấy sự chết và tái sinh của chúng sinh, và biết mình đã đoạn tận các lậu hoặc. Cuối cùng, các bà-la-môn và gia chủ xứ Sālā xin nương tựa nơi Đức Thế Tôn, Pháp và Tăng đoàn, nhận mình là người cư sĩ.

Với người mới tìm hiểu, bài kinh này đáng đọc vì nó dạy cách nghĩ về lựa chọn trong sự không chắc chắn, và vì nó đưa ra một tiêu chuẩn rất thực tế để đánh giá một lối sống: lối sống ấy có làm mình và người khác bớt khổ hay không. Bài kinh cũng cho thấy lý lẽ chỉ có sức nặng khi người nói sống đúng theo điều mình nói, nên phần cuối không phải lời tuyên bố suông mà là một con đường được mô tả từng bước.

[Chú thích của người dịch: Apaṇṇaka là thuật ngữ đánh bạc, ghép a (không) với paṇṇa (số năm): bộ xúc xắc bốn hạt là "trọn vẹn", thêm hạt thứ năm là hạt thua thì mất tất cả. Vì vậy apaṇṇaka hiểu là "canh bạc chắc ăn", một lựa chọn không thể thất bại.]


Tôi nghe như vầy.

[Chú thích: Bài kinh mượn hình ảnh cờ bạc để dẫn tới một kết luận chắc chắn, giữa một thế giới của những may rủi tưởng như ngẫu nhiên. Cờ bạc là nét nổi bật của văn hoá Vệ-đà: thần linh được cầu khấn để thắng cuộc, cả vua cũng cúi đầu trước xúc xắc, và nhiều truyện kể vua thua cả vương quốc trong một canh bạc. Vì thế sức mạnh và mối nguy của cờ bạc ở đây không chỉ là hình tượng.]

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn đang du hành trong xứ Kosala cùng với đại chúng tỳ-kheo, Ngài đi đến một làng bà-la-môn của người Kosala tên là Sālā và dừng chân tại đó.

[Chú thích: Khung truyện này được dùng lại trong bài MN 41, nơi chủ đề tái sinh cũng là điều đang bàn.]

Các bà-la-môn và gia chủ xứ Sālā nghe tin:

"Nghe nói sa-môn Gotama, dòng dõi Sakya, xuất gia từ gia tộc Sakya, đang du hành trong xứ Kosala cùng với đại chúng tỳ-kheo, đã đến Sālā.

Tiếng lành về Tôn giả Gotama ấy đã lan xa như vầy:

'Đức Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đầy đủ minh và hạnh, bậc Thiện thệ, bậc thấu hiểu thế gian, bậc tối thượng dẫn dắt những người cần được điều ngự, bậc thầy của trời và người, bậc Giác ngộ, bậc Thế Tôn.'

Ngài đã tự mình chứng biết bằng thắng trí về thế giới này — thế giới có chư thiên, có Ma vương, có Phạm Thiên, có cả đám chúng sinh gồm sa-môn, bà-la-môn, chư thiên và loài người — rồi tuyên bố cho người khác biết.

Ngài thuyết Pháp tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, tốt đẹp ở đoạn cuối, có nghĩa lý và văn cú; Ngài nêu rõ đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và trong sạch.

Thật tốt lành thay khi được gặp những bậc A-la-hán như vậy."

Rồi các bà-la-môn và gia chủ xứ Sālā đi đến chỗ Đức Thế Tôn. Đến nơi, một số người đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Một số người chào hỏi thân thiện, nói với nhau những lời chào hỏi xã giao rồi ngồi xuống một bên. Một số người chắp tay hướng về Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Một số người nói tên họ và dòng dõi mình trước Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Một số người im lặng ngồi xuống một bên. Khi các bà-la-môn và gia chủ xứ Sālā đã ngồi xuống một bên, Đức Thế Tôn nói với họ:

"Này các gia chủ, các ông có vị thầy nào vừa ý, mà nơi vị ấy các ông đã có được đức tin có căn cứ chăng?"

[Chú thích: Cộng đồng bà-la-môn lúc bấy giờ đang trong thời kỳ hoài nghi và chuyển biến, với nhiều quan điểm khác nhau do cả bà-la-môn và sa-môn đưa ra.]

"Bạch Thế Tôn, chúng con không có vị thầy nào vừa ý, mà nơi vị ấy chúng con đã có được đức tin có căn cứ."

Này các gia chủ, vì các ông chưa tìm được vị thầy vừa ý, nên hãy thọ trì và thực hành pháp không thể tranh cãi này.

[Chú thích: Nghĩa của apaṇṇaka trong ngữ cảnh thì rõ, là "canh bạc chắc ăn", nhưng gốc từ của nó vẫn còn là một câu đố. Có ý kiến cho rằng đây là thuật ngữ đánh bạc: bộ bốn hạt xúc xắc là "trọn vẹn", còn hạt thứ năm là hạt "thua" có sức mạnh tuyệt đối, vì chỉ thêm một hạt là mất tất cả. Vậy apaṇṇaka hiểu đen là "bộ không có hạt thứ năm", hiểu bóng là "canh bạc chắc ăn", một lựa chọn không thể thất bại.]

Này các gia chủ, pháp không thể tranh cãi ấy khi được thọ trì trọn vẹn thì sẽ đem lại cho các ông sự lợi ích và sự an vui lâu dài.

Này các gia chủ, pháp không thể tranh cãi ấy là gì?

Này các gia chủ, có những sa-môn và bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy:

'Không có quả của việc bố thí, không có quả của việc tế lễ, không có quả của việc cúng tế; không có quả báo của các nghiệp đã làm tốt hay đã làm xấu; không có đời này, không có đời sau; không có mẹ, không có cha; không có các loài hữu tình hóa sinh; không có những sa-môn và bà-la-môn trong đời đã đi đúng đường, đã thực hành đúng, đã tự mình chứng biết bằng thắng trí về đời này và đời sau mà tuyên bố ra.'

[Chú thích: Trong bài DN 2, đây là quan điểm đạo đức của Ajita Kesakambala, người biện minh cho nó bằng một thuyết duy vật.]

Này các gia chủ, đối với chính những sa-môn và bà-la-môn ấy, lại có những sa-môn và bà-la-môn khác có thuyết trái ngược trực tiếp.

Họ nói như vầy:

'Có quả của việc bố thí, có quả của việc tế lễ, có quả của việc cúng tế; có quả báo của các nghiệp đã làm tốt hay đã làm xấu; có đời này, có đời sau; có mẹ, có cha; có các loài hữu tình hóa sinh; có những sa-môn và bà-la-môn trong đời đã đi đúng đường, đã thực hành đúng, đã tự mình chứng biết bằng thắng trí về đời này và đời sau mà tuyên bố ra.'

[Chú thích: Mặt khẳng định này dĩ nhiên là quan điểm của Đức Thế Tôn.]

"Này các gia chủ, các ông nghĩ sao:

những sa-môn và bà-la-môn ấy có phải là những người có thuyết trái ngược trực tiếp với nhau chăng?"

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn."

Này các gia chủ, trong trường hợp ấy, đối với những sa-môn và bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy:

'Không có quả của việc bố thí, không có quả của việc tế lễ, không có quả của việc cúng tế; không có quả báo của các nghiệp đã làm tốt hay đã làm xấu; không có đời này, không có đời sau; không có mẹ, không có cha; không có các loài hữu tình hóa sinh; không có những sa-môn và bà-la-môn trong đời đã đi đúng đường, đã thực hành đúng, đã tự mình chứng biết bằng thắng trí về đời này và đời sau mà tuyên bố ra'

thì có thể chờ đợi rằng họ sẽ từ bỏ ba pháp thiện này, tức hạnh lành nơi thân, hạnh lành nơi lời, hạnh lành nơi ý, và sẽ thọ trì ba pháp bất thiện này, tức hạnh xấu ác nơi thân, hạnh xấu ác nơi lời, hạnh xấu ác nơi ý, mà thực hành.

Vì sao vậy?

Vì các Tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy không thấy sự nguy hại, sự hèn hạ, sự ô nhiễm của các pháp bất thiện, cũng không thấy lợi ích và phần trong sạch mà sự xuất ly đem lại cho các pháp thiện.

Nhưng vì quả thật có đời sau, nên kiến 'không có đời sau' nơi họ là tà kiến.

Vì quả thật có đời sau, nên tư duy 'không có đời sau' nơi họ là tà tư duy.

Vì quả thật có đời sau, nên lời nói 'không có đời sau' nơi họ là tà ngữ.

Vì quả thật có đời sau, nên khi nói 'không có đời sau', họ đã làm trái ngược với các bậc A-la-hán biết được đời sau.

Vì quả thật có đời sau, nên khi thuyết phục người khác rằng 'không có đời sau', đó là sự thuyết phục bằng phi chánh pháp nơi họ.

Và chính vì sự thuyết phục bằng phi chánh pháp ấy, họ tự khen mình và chê người.

Như vậy, từ trước họ đã từ bỏ hạnh tốt, và hạnh xấu đã có mặt nơi họ —

và chính tà kiến này, tà tư duy này, tà ngữ này, sự chống trái các bậc thánh này, sự thuyết phục bằng phi chánh pháp này, sự tự khen mình và chê người này — như vậy là nhiều pháp xấu ác, bất thiện sinh khởi nơi họ do duyên tà kiến.

Này các gia chủ, ở đây một người có trí suy xét như vầy:

"Nếu quả thật không có đời sau, thì khi thân này tan rã, người ấy sẽ tự làm cho mình được an toàn.

[Chú thích: Nếu đã không còn tồn tại thì an toàn nghĩa là gì? Bản dịch ở đây theo cách hiểu thông thường rằng người ấy được yên ổn trong chính đời này, dù câu Pali có thể đã bị hỏng và các bản chú giải cũng không giải thích.]

Còn nếu quả thật có đời sau, thì khi thân này tan rã, sau khi chết, người ấy sẽ sinh vào cõi khổ, vào đường dữ, vào nơi đoạ lạc, vào địa ngục.

Cứ cho là không có đời sau, và lời nói của các Tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy là lời đúng đi chăng nữa;

[Chú thích: Câu này khó đọc vì kāmaṁ nghĩa là "tuỳ ý", ở đây hiểu là "cứ cho là", còn māhu là dạng rút gọn của mā ahu, một lối phủ định đơn thuần chứ không phải lời cấm.]

thì ngay trong đời này, người ấy vẫn bị những người có trí chê trách, rằng: 'Kẻ ấy là người ác giới, có tà kiến, chủ trương rằng không có gì cả.'

[Chú thích: Natthikavāda nghĩa đen là "thuyết cho rằng không có gì", tức chủ trương hư vô. Trong kinh tạng, từ này còn được dùng cho hai người ở xứ Ukkalā là Vassa và Bhañña.]

Còn nếu quả thật có đời sau, thì người ấy thua cả hai mặt —

[Chú thích: Kaliggāha là "tay bài thua", một thuật ngữ của trò chơi xúc xắc thời cổ.]

vì ngay trong đời này đã bị người có trí chê trách, và khi thân tan rã, sau khi chết, sẽ sinh vào cõi khổ, vào đường dữ, vào nơi đoạ lạc, vào địa ngục.

Như vậy là người ấy đã thọ trì pháp không thể tranh cãi này một cách sai lệch: nó chỉ phủ được một phía, còn bỏ mất phần nền tảng thiện."

[Chú thích: Kusala vừa nghĩa là "thiện", vừa nghĩa là "khéo léo", và ở đây cả hai nghĩa đều còn sống: lựa chọn khéo léo chính là lựa chọn biết gắn nhân với quả cho lợi ích của chính mình.]

Này các gia chủ, trong trường hợp ấy, đối với những sa-môn và bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy:

'Có quả của việc bố thí, có quả của việc tế lễ, có quả của việc cúng tế; có quả báo của các nghiệp đã làm tốt hay đã làm xấu; có đời này, có đời sau; có mẹ, có cha; có các loài hữu tình hóa sinh; có những sa-môn và bà-la-môn trong đời đã đi đúng đường, đã thực hành đúng, đã tự mình chứng biết bằng thắng trí về đời này và đời sau mà tuyên bố ra'

thì có thể chờ đợi rằng họ sẽ từ bỏ ba pháp bất thiện này, tức hạnh xấu ác nơi thân, hạnh xấu ác nơi lời, hạnh xấu ác nơi ý, và sẽ thọ trì ba pháp thiện này, tức hạnh lành nơi thân, hạnh lành nơi lời, hạnh lành nơi ý, mà thực hành.

Vì sao vậy?

Vì các Tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy thấy được sự nguy hại, sự hèn hạ, sự ô nhiễm của các pháp bất thiện, và thấy được lợi ích cùng phần trong sạch mà sự xuất ly đem lại cho các pháp thiện.

Hơn nữa, vì quả thật có đời sau, nên kiến 'có đời sau' nơi họ là chánh kiến.

Vì quả thật có đời sau, nên tư duy 'có đời sau' nơi họ là chánh tư duy.

Vì quả thật có đời sau, nên lời nói 'có đời sau' nơi họ là chánh ngữ.

Vì quả thật có đời sau, nên khi nói 'có đời sau', họ không làm trái ngược với các bậc A-la-hán biết được đời sau.

Vì quả thật có đời sau, nên khi thuyết phục người khác rằng 'có đời sau', đó là sự thuyết phục bằng chánh pháp.

Và chính nhờ sự thuyết phục bằng chánh pháp ấy, họ không tự khen mình, không chê người.

Như vậy, từ trước họ đã từ bỏ hạnh xấu, và hạnh tốt đã có mặt nơi họ —

và chính chánh kiến này, chánh tư duy này, chánh ngữ này, sự không chống trái các bậc thánh này, sự thuyết phục bằng chánh pháp này, sự không tự khen mình và không chê người này — như vậy là nhiều pháp thiện sinh khởi nơi họ do duyên chánh kiến.

Này các gia chủ, ở đây một người có trí suy xét như vầy:

"Nếu quả thật có đời sau, thì khi thân này tan rã, sau khi chết, người ấy sẽ sinh vào cõi lành, vào thiên giới, vào thế giới chư thiên.

Cứ cho là không có đời sau, và lời nói của các Tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy là lời đúng đi chăng nữa;

thì ngay trong đời này, người ấy vẫn được những người có trí khen ngợi, rằng: 'Người này có giới, có chánh kiến, chủ trương rằng có.'

Vậy nếu quả thật có đời sau, thì người ấy thắng cả hai mặt —

[Chú thích: Kaṭaggāha là "tay bài thắng" trong trò chơi may rủi cổ của người Vệ-đà: người chơi bốc một nắm hạt, nếu số hạt chia hết cho bốn thì gọi là "trọn vẹn", tức thắng cuộc. Apaṇṇaka và kaṭaggāha cũng đi với nhau trong SN 42.13.]

vì ngay trong đời này đã được người có trí khen ngợi, và khi thân tan rã, sau khi chết, sẽ sinh vào cõi lành, vào thiên giới, vào thế giới chư thiên.

Như vậy là người ấy đã thọ trì pháp không thể tranh cãi này một cách đúng đắn: nó phủ được cả hai phía, và bỏ mất phần nền tảng bất thiện."

Này các gia chủ, lại có những sa-môn và bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy:

'Kẻ tự tay làm hay sai người làm, kẻ chặt hay sai người chặt, kẻ nấu hay sai người nấu, kẻ làm cho đau khổ hay sai người làm cho đau khổ, kẻ làm cho kiệt sức hay sai người làm cho kiệt sức, kẻ làm cho run sợ hay sai người làm cho run sợ, kẻ giết hại sinh mạng, kẻ lấy của không cho, kẻ đào tường khoét vách, kẻ cướp bóc, kẻ trộm nhà vắng vẻ, kẻ chặn đường cướp của, kẻ ngoại tình, kẻ nói dối — với kẻ làm như vậy, không có điều ác nào được tạo ra.

[Chú thích: Trong DN 2, thuyết phủ nhận nghiệp này được gán cho Pūraṇa Kassapa, người có thể theo thuyết định mệnh cứng, cho rằng mình không có lựa chọn nào trong việc làm. Có thể ông cũng cho rằng nên giữ các giới luật như một khế ước xã hội, nhưng việc ấy không ảnh hưởng gì đến đời sau.]

Dẫu có dùng một bánh xe có vành sắc như dao cạo mà biến mọi sinh vật trên trái đất này thành một khối thịt, một đống thịt, thì cũng không có điều ác nào từ đó, không có quả của điều ác.

Dẫu có đi dọc bờ nam sông Gaṅgā mà giết, chém, chặt, sai người chặt, nấu, sai người nấu, thì cũng không có điều ác nào từ đó, không có quả của điều ác.

Dẫu có đi dọc bờ bắc sông Gaṅgā mà bố thí, sai người bố thí, tế lễ, sai người tế lễ, thì cũng không có phước nào từ đó, không có quả của phước.

Trong việc bố thí, việc tự chế, việc thu thúc, việc nói lời chân thật, không có phước, không có quả của phước.'

Này các gia chủ, đối với chính những sa-môn và bà-la-môn ấy, lại có những sa-môn và bà-la-môn khác có thuyết trái ngược trực tiếp. Họ nói như vầy:

'Kẻ tự tay làm hay sai người làm, kẻ chặt hay sai người chặt, kẻ nấu hay sai người nấu, kẻ làm cho đau khổ hay sai người làm cho đau khổ, kẻ làm cho kiệt sức hay sai người làm cho kiệt sức, kẻ làm cho run sợ hay sai người làm cho run sợ, kẻ giết hại sinh mạng, kẻ lấy của không cho, kẻ đào tường khoét vách, kẻ cướp bóc, kẻ trộm nhà vắng vẻ, kẻ chặn đường cướp của, kẻ ngoại tình, kẻ nói dối — với kẻ làm như vậy, có điều ác được tạo ra.

Dẫu có dùng một bánh xe có vành sắc như dao cạo mà biến mọi sinh vật trên trái đất này thành một khối thịt, một đống thịt, thì có điều ác từ đó, có quả của điều ác.

Dẫu có đi dọc bờ nam sông Gaṅgā mà giết, chém, chặt, sai người chặt, nấu, sai người nấu, thì có điều ác từ đó, có quả của điều ác.

Dẫu có đi dọc bờ bắc sông Gaṅgā mà bố thí, sai người bố thí, tế lễ, sai người tế lễ, thì có phước từ đó, có quả của phước.

Trong việc bố thí, việc tự chế, việc thu thúc, việc nói lời chân thật, có phước, có quả của phước.'

"Này các gia chủ, các ông nghĩ sao:

những sa-môn và bà-la-môn ấy có phải là những người có thuyết trái ngược trực tiếp với nhau chăng?"

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn."

Này các gia chủ, trong trường hợp ấy, đối với những sa-môn và bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy:

'Kẻ tự tay làm hay sai người làm, kẻ chặt hay sai người chặt, kẻ nấu hay sai người nấu, kẻ làm cho đau khổ hay sai người làm cho đau khổ, kẻ làm cho kiệt sức hay sai người làm cho kiệt sức, kẻ làm cho run sợ hay sai người làm cho run sợ, kẻ giết hại sinh mạng, kẻ lấy của không cho, kẻ đào tường khoét vách, kẻ cướp bóc, kẻ trộm nhà vắng vẻ, kẻ chặn đường cướp của, kẻ ngoại tình, kẻ nói dối — với kẻ làm như vậy, không có điều ác nào được tạo ra.

Dẫu có dùng một bánh xe có vành sắc như dao cạo mà biến mọi sinh vật trên trái đất này thành một khối thịt, một đống thịt, thì cũng không có điều ác nào từ đó, không có quả của điều ác.

Dẫu có đi dọc bờ nam sông Gaṅgā mà giết, chém, chặt, sai người chặt, nấu, sai người nấu, thì cũng không có điều ác nào từ đó, không có quả của điều ác. Dẫu có đi dọc bờ bắc sông Gaṅgā mà bố thí, sai người bố thí, tế lễ, sai người tế lễ, thì cũng không có phước nào từ đó, không có quả của phước. Trong việc bố thí, việc tự chế, việc thu thúc, việc nói lời chân thật, không có phước, không có quả của phước.'

thì có thể chờ đợi rằng họ sẽ từ bỏ ba pháp thiện này, tức hạnh lành nơi thân, hạnh lành nơi lời, hạnh lành nơi ý, và sẽ thọ trì ba pháp bất thiện này, tức hạnh xấu ác nơi thân, hạnh xấu ác nơi lời, hạnh xấu ác nơi ý, mà thực hành.

Vì sao vậy?

Vì các Tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy không thấy sự nguy hại, sự hèn hạ, sự ô nhiễm của các pháp bất thiện, cũng không thấy lợi ích và phần trong sạch mà sự xuất ly đem lại cho các pháp thiện.

Nhưng vì quả thật hành động có quả, nên kiến 'hành động không có quả' nơi họ là tà kiến.

Vì quả thật hành động có quả, nên tư duy 'hành động không có quả' nơi họ là tà tư duy.

Vì quả thật hành động có quả, nên lời nói 'hành động không có quả' nơi họ là tà ngữ.

Vì quả thật hành động có quả, nên khi nói 'hành động không có quả', họ đã làm trái ngược với các bậc A-la-hán chủ trương hành động có quả.

Vì quả thật hành động có quả, nên khi thuyết phục người khác rằng 'hành động không có quả', đó là sự thuyết phục bằng phi chánh pháp nơi họ.

Và chính vì sự thuyết phục bằng phi chánh pháp ấy, họ tự khen mình và chê người.

Như vậy, từ trước họ đã từ bỏ hạnh tốt, và hạnh xấu đã có mặt nơi họ —

và chính tà kiến này, tà tư duy này, tà ngữ này, sự chống trái các bậc thánh này, sự thuyết phục bằng phi chánh pháp này, sự tự khen mình và chê người này — như vậy là nhiều pháp xấu ác, bất thiện sinh khởi nơi họ do duyên tà kiến.

Này các gia chủ, ở đây một người có trí suy xét như vầy:

"Nếu quả thật hành động không có quả, thì khi thân này tan rã, người ấy sẽ tự làm cho mình được an toàn;

còn nếu quả thật hành động có quả, thì khi thân này tan rã, sau khi chết, người ấy sẽ sinh vào cõi khổ, vào đường dữ, vào nơi đoạ lạc, vào địa ngục.

Cứ cho là hành động không có quả, và lời nói của các Tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy là lời đúng đi chăng nữa;

thì ngay trong đời này, người ấy vẫn bị những người có trí chê trách, rằng: 'Kẻ ấy là người ác giới, có tà kiến, chủ trương hành động không có quả.'

[Chú thích: Akiriyavāda là thuyết cho rằng hành động không đưa đến kết quả, nên việc thiện hay việc ác đều không có quả báo.]

Còn nếu quả thật hành động có quả, thì người ấy thua cả hai mặt —

vì ngay trong đời này đã bị người có trí chê trách, và khi thân tan rã, sau khi chết, sẽ sinh vào cõi khổ, vào đường dữ, vào nơi đoạ lạc, vào địa ngục.

Như vậy là người ấy đã thọ trì pháp không thể tranh cãi này một cách sai lệch: nó chỉ phủ được một phía, còn bỏ mất phần nền tảng thiện."

Này các gia chủ, trong trường hợp ấy, đối với những sa-môn và bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy:

'Kẻ tự tay làm hay sai người làm, kẻ chặt hay sai người chặt, kẻ nấu hay sai người nấu, kẻ làm cho đau khổ hay sai người làm cho đau khổ, kẻ làm cho kiệt sức hay sai người làm cho kiệt sức, kẻ làm cho run sợ hay sai người làm cho run sợ, kẻ giết hại sinh mạng, kẻ lấy của không cho, kẻ đào tường khoét vách, kẻ cướp bóc, kẻ trộm nhà vắng vẻ, kẻ chặn đường cướp của, kẻ ngoại tình, kẻ nói dối — với kẻ làm như vậy, có điều ác được tạo ra.

Dẫu có dùng một bánh xe có vành sắc như dao cạo mà biến mọi sinh vật trên trái đất này thành một khối thịt, một đống thịt, thì có điều ác từ đó, có quả của điều ác.

Dẫu có đi dọc bờ nam sông Gaṅgā mà giết, chém, chặt, sai người chặt, nấu, sai người nấu, thì có điều ác từ đó, có quả của điều ác.

Dẫu có đi dọc bờ bắc sông Gaṅgā mà bố thí, sai người bố thí, tế lễ, sai người tế lễ, thì có phước từ đó, có quả của phước. Trong việc bố thí, việc tự chế, việc thu thúc, việc nói lời chân thật, có phước, có quả của phước.'

thì có thể chờ đợi rằng họ sẽ từ bỏ ba pháp bất thiện này, tức hạnh xấu ác nơi thân, hạnh xấu ác nơi lời, hạnh xấu ác nơi ý, và sẽ thọ trì ba pháp thiện này, tức hạnh lành nơi thân, hạnh lành nơi lời, hạnh lành nơi ý, mà thực hành.

Vì sao vậy?

Vì các Tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy thấy được sự nguy hại, sự hèn hạ, sự ô nhiễm của các pháp bất thiện, và thấy được lợi ích cùng phần trong sạch mà sự xuất ly đem lại cho các pháp thiện.

Hơn nữa, vì quả thật hành động có quả, nên kiến 'hành động có quả' nơi họ là chánh kiến.

Vì quả thật hành động có quả, nên tư duy 'hành động có quả' nơi họ là chánh tư duy.

Vì quả thật hành động có quả, nên lời nói 'hành động có quả' nơi họ là chánh ngữ.

Vì quả thật hành động có quả, nên khi nói 'hành động có quả', họ không làm trái ngược với các bậc A-la-hán chủ trương hành động có quả.

Vì quả thật hành động có quả, nên khi thuyết phục người khác rằng 'hành động có quả', đó là sự thuyết phục bằng chánh pháp.

Và chính nhờ sự thuyết phục bằng chánh pháp ấy, họ không tự khen mình, không chê người.

Như vậy, từ trước họ đã từ bỏ hạnh xấu, và hạnh tốt đã có mặt nơi họ —

và chính chánh kiến này, chánh tư duy này, chánh ngữ này, sự không chống trái các bậc thánh này, sự thuyết phục bằng chánh pháp này, sự không tự khen mình và không chê người này — như vậy là nhiều pháp thiện sinh khởi nơi họ do duyên chánh kiến.

Này các gia chủ, ở đây một người có trí suy xét như vầy:

"Nếu quả thật hành động có quả, thì khi thân này tan rã, sau khi chết, người ấy sẽ sinh vào cõi lành, vào thiên giới, vào thế giới chư thiên.

Cứ cho là hành động không có quả, và lời nói của các Tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy là lời đúng đi chăng nữa;

thì ngay trong đời này, người ấy vẫn được những người có trí khen ngợi, rằng: 'Người này có giới, có chánh kiến, chủ trương hành động có quả.'

Vậy nếu quả thật hành động có quả, thì người ấy thắng cả hai mặt —

vì ngay trong đời này đã được người có trí khen ngợi, và khi thân tan rã, sau khi chết, sẽ sinh vào cõi lành, vào thiên giới, vào thế giới chư thiên.

Như vậy là người ấy đã thọ trì pháp không thể tranh cãi này một cách đúng đắn: nó phủ được cả hai phía, và bỏ mất phần nền tảng bất thiện."

Này các gia chủ, lại có những sa-môn và bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy:

'Không có nhân, không có duyên cho sự ô nhiễm của chúng sinh;

[Chú thích: Trong DN 2, thuyết này được gán cho du sĩ Makkhali Gosāla, người sáng lập phái Ājīvika và là thầy của thuyết định mệnh; còn trong SN 22.60 thì lại gán cho Pūraṇa Kassapa.]

do không có nhân, không có duyên, nên chúng sinh bị ô nhiễm.

Không có nhân, không có duyên cho sự thanh tịnh của chúng sinh;

do không có nhân, không có duyên, nên chúng sinh được thanh tịnh.

Không có sức mạnh, không có tinh tấn, không có sức lực của con người, không có sự nỗ lực của con người;

mọi chúng sinh, mọi sinh vật, mọi loài hữu tình, mọi sinh mạng đều không có tự chủ, không có sức mạnh, không có tinh tấn, bị định mệnh, sự kết hợp và bản chất nặn thành, và cảm thọ khổ vui trong sáu loại tái sinh.'

Này các gia chủ, đối với chính những sa-môn và bà-la-môn ấy, lại có những sa-môn và bà-la-môn khác có thuyết trái ngược trực tiếp.

Họ nói như vầy:

'Có nhân, có duyên cho sự ô nhiễm của chúng sinh;

do có nhân, có duyên, nên chúng sinh bị ô nhiễm.

Có nhân, có duyên cho sự thanh tịnh của chúng sinh;

do có nhân, có duyên, nên chúng sinh được thanh tịnh.

Có sức mạnh, có tinh tấn, có sức lực của con người, có sự nỗ lực của con người;

không phải mọi chúng sinh, mọi sinh vật, mọi loài hữu tình, mọi sinh mạng đều không có tự chủ, không có sức mạnh, không có tinh tấn, bị định mệnh, sự kết hợp và bản chất nặn thành, mà cảm thọ khổ vui trong sáu loại tái sinh.'

"Này các gia chủ, các ông nghĩ sao:

những sa-môn và bà-la-môn ấy có phải là những người có thuyết trái ngược trực tiếp với nhau chăng?"

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn."

Này các gia chủ, trong trường hợp ấy, đối với những sa-môn và bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy:

'Không có nhân, không có duyên cho sự ô nhiễm của chúng sinh;

do không có nhân, không có duyên, nên chúng sinh bị ô nhiễm.

Không có nhân, không có duyên cho sự thanh tịnh của chúng sinh;

do không có nhân, không có duyên, nên chúng sinh được thanh tịnh.

Không có sức mạnh, không có tinh tấn, không có sức lực của con người, không có sự nỗ lực của con người; mọi chúng sinh, mọi sinh vật, mọi loài hữu tình, mọi sinh mạng đều không có tự chủ, không có sức mạnh, không có tinh tấn, bị định mệnh, sự kết hợp và bản chất nặn thành, và cảm thọ khổ vui trong sáu loại tái sinh'

thì có thể chờ đợi rằng họ sẽ từ bỏ ba pháp thiện này, tức hạnh lành nơi thân, hạnh lành nơi lời, hạnh lành nơi ý, và sẽ thọ trì ba pháp bất thiện này, tức hạnh xấu ác nơi thân, hạnh xấu ác nơi lời, hạnh xấu ác nơi ý, mà thực hành.

Vì sao vậy?

Vì các Tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy không thấy sự nguy hại, sự hèn hạ, sự ô nhiễm của các pháp bất thiện, cũng không thấy lợi ích và phần trong sạch mà sự xuất ly đem lại cho các pháp thiện.

Nhưng vì quả thật có nhân, nên kiến 'không có nhân' nơi họ là tà kiến.

Vì quả thật có nhân, nên tư duy 'không có nhân' nơi họ là tà tư duy.

Vì quả thật có nhân, nên lời nói 'không có nhân' nơi họ là tà ngữ.

Vì quả thật có nhân, nên khi nói 'không có nhân', họ đã làm trái ngược với các bậc A-la-hán chủ trương có nhân.

Vì quả thật có nhân, nên khi thuyết phục người khác rằng 'không có nhân', đó là sự thuyết phục bằng phi chánh pháp nơi họ.

Và chính vì sự thuyết phục bằng phi chánh pháp ấy, họ tự khen mình và chê người.

Như vậy, từ trước họ đã từ bỏ hạnh tốt, và hạnh xấu đã có mặt nơi họ —

và chính tà kiến này, tà tư duy này, tà ngữ này, sự chống trái các bậc thánh này, sự thuyết phục bằng phi chánh pháp này, sự tự khen mình và chê người này — như vậy là nhiều pháp xấu ác, bất thiện sinh khởi nơi họ do duyên tà kiến.

Này các gia chủ, ở đây một người có trí suy xét như vầy:

"Nếu quả thật không có nhân, thì khi thân này tan rã, sau khi chết, người ấy sẽ tự làm cho mình được an toàn;

còn nếu quả thật có nhân, thì khi thân này tan rã, sau khi chết, người ấy sẽ sinh vào cõi khổ, vào đường dữ, vào nơi đoạ lạc, vào địa ngục.

Cứ cho là không có nhân, và lời nói của các Tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy là lời đúng đi chăng nữa;

thì ngay trong đời này, người ấy vẫn bị những người có trí chê trách, rằng: 'Kẻ ấy là người ác giới, có tà kiến, chủ trương không có nhân.'

[Chú thích: Ahetukavāda là thuyết cho rằng mọi sự không có nhân, không có duyên, nên không có gì là nguyên nhân của khổ hay vui.]

Còn nếu quả thật có nhân, thì người ấy thua cả hai mặt —

vì ngay trong đời này đã bị người có trí chê trách, và khi thân tan rã, sau khi chết, sẽ sinh vào cõi khổ, vào đường dữ, vào nơi đoạ lạc, vào địa ngục.

Như vậy là người ấy đã thọ trì pháp không thể tranh cãi này một cách sai lệch: nó chỉ phủ được một phía, còn bỏ mất phần nền tảng thiện."

Này các gia chủ, trong trường hợp ấy, đối với những sa-môn và bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy:

'Có nhân, có duyên cho sự ô nhiễm của chúng sinh;

do có nhân, có duyên, nên chúng sinh bị ô nhiễm.

Có nhân, có duyên cho sự thanh tịnh của chúng sinh;

do có nhân, có duyên, nên chúng sinh được thanh tịnh.

Có sức mạnh, có tinh tấn, có sức lực của con người, có sự nỗ lực của con người; không phải mọi chúng sinh, mọi sinh vật, mọi loài hữu tình, mọi sinh mạng đều không có tự chủ, không có sức mạnh, không có tinh tấn, bị định mệnh, sự kết hợp và bản chất nặn thành, mà cảm thọ khổ vui trong sáu loại tái sinh'

thì có thể chờ đợi rằng họ sẽ từ bỏ ba pháp bất thiện này, tức hạnh xấu ác nơi thân, hạnh xấu ác nơi lời, hạnh xấu ác nơi ý, và sẽ thọ trì ba pháp thiện này, tức hạnh lành nơi thân, hạnh lành nơi lời, hạnh lành nơi ý, mà thực hành.

Vì sao vậy?

Vì các Tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy thấy được sự nguy hại, sự hèn hạ, sự ô nhiễm của các pháp bất thiện, và thấy được lợi ích cùng phần trong sạch mà sự xuất ly đem lại cho các pháp thiện.

Hơn nữa, vì quả thật có nhân, nên kiến 'có nhân' nơi họ là chánh kiến.

Vì quả thật có nhân, nên tư duy 'có nhân' nơi họ là chánh tư duy.

Vì quả thật có nhân, nên lời nói 'có nhân' nơi họ là chánh ngữ.

Vì quả thật có nhân, nên khi nói 'có nhân', họ không làm trái ngược với các bậc A-la-hán chủ trương có nhân.

Vì quả thật có nhân, nên khi thuyết phục người khác rằng 'có nhân', đó là sự thuyết phục bằng chánh pháp.

Và chính nhờ sự thuyết phục bằng chánh pháp ấy, họ không tự khen mình, không chê người.

Như vậy, từ trước họ đã từ bỏ hạnh xấu, và hạnh tốt đã có mặt nơi họ —

và chính chánh kiến này, chánh tư duy này, chánh ngữ này, sự không chống trái các bậc thánh này, sự thuyết phục bằng chánh pháp này, sự không tự khen mình và không chê người này — như vậy là nhiều pháp thiện sinh khởi nơi họ do duyên chánh kiến.

Này các gia chủ, ở đây một người có trí suy xét như vầy: "Nếu quả thật có nhân, thì khi thân này tan rã, sau khi chết, người ấy sẽ sinh vào cõi lành, vào thiên giới, vào thế giới chư thiên.

Cứ cho là không có nhân, và lời nói của các Tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy là lời đúng đi chăng nữa;

thì ngay trong đời này, người ấy vẫn được những người có trí khen ngợi, rằng: 'Người này có giới, có chánh kiến, chủ trương có nhân.'

Vậy nếu quả thật có nhân, thì người ấy thắng cả hai mặt —

vì ngay trong đời này đã được người có trí khen ngợi, và khi thân tan rã, sau khi chết, sẽ sinh vào cõi lành, vào thiên giới, vào thế giới chư thiên.

Như vậy là người ấy đã thọ trì pháp không thể tranh cãi này một cách đúng đắn: nó phủ được cả hai phía, và bỏ mất phần nền tảng bất thiện."

Này các gia chủ, lại có những sa-môn và bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy:

'Không hề có các tầng vô sắc.'

[Chú thích: Bốn "tầng vô sắc" đạt được khi vượt qua sắc một cách hoàn toàn. Nếu các quan điểm trước thuộc những trào lưu tu hành nổi bật, thì quan điểm cuối này liên quan đến các tầng thiền vô sắc, giáo lý chủ chốt của giới tu hành bà-la-môn xứ Kosala, với những đại diện như Āḷāra Kālāma và Uddaka Rāmaputta. Đức Thế Tôn nâng giáo pháp của mình lên bằng cách bàn thẳng tới thực hành cao nhất và tốt nhất của bà-la-môn đương thời.]

Này các gia chủ, đối với chính những sa-môn và bà-la-môn ấy, lại có những sa-môn và bà-la-môn khác có thuyết trái ngược trực tiếp.

Họ nói như vầy:

'Có các tầng vô sắc.'

"Này các gia chủ, các ông nghĩ sao:

những sa-môn và bà-la-môn ấy có phải là những người có thuyết trái ngược trực tiếp với nhau chăng?"

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn."

Này các gia chủ, ở đây một người có trí suy xét như vầy —

những sa-môn và bà-la-môn nào có thuyết như vầy, có kiến như vầy:

'không hề có các tầng vô sắc', thì điều ấy tôi chưa thấy;

còn những sa-môn và bà-la-môn nào có thuyết như vầy, có kiến như vầy:

'có các tầng vô sắc', thì điều ấy tôi chưa biết.

Nếu tôi không biết, không thấy mà lại nắm lấy một phía mà tuyên bố:

'chỉ điều này là đúng, ngoài ra đều là hư dối' — thì điều ấy không thích hợp với tôi.

Những sa-môn và bà-la-môn nào có thuyết như vầy, có kiến như vầy:

'không hề có các tầng vô sắc', nếu lời của các Tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy là đúng, thì có thể xảy ra rằng

tôi sẽ sinh vào hàng chư thiên có sắc, do ý tạo thành — đó là điều chắc ăn đối với tôi.

Còn những sa-môn và bà-la-môn nào có thuyết như vầy, có kiến như vầy:

'có các tầng vô sắc', nếu lời của các Tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy là đúng, thì có thể xảy ra rằng

tôi sẽ sinh vào hàng chư thiên không có sắc, do tưởng tạo thành — đó là điều chắc ăn đối với tôi.

Song, chính vì duyên nơi sắc mà người ta thấy có những điều như cầm gậy, cầm dao, cãi vã, tranh chấp, kiện tụng, đôi co, nói lời chia rẽ đôi bên, nói lời dối trá.

'Nhưng ở nơi hoàn toàn không có sắc thì những điều ấy không xuất hiện.'

Sau khi suy xét như vậy, người ấy thực hành để nhàm chán, để ly tham, để đoạn diệt đối với các sắc.

Này các gia chủ, lại có những sa-môn và bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy:

'Không hề có sự chấm dứt hoàn toàn của hữu.'

[Chú thích: Đây là phủ nhận giáo lý duyên khởi. Bhava là "hữu", tức sự tiếp tục tồn tại, thường mang nghĩa những đời sống sau; với người bà-la-môn, vì vũ trụ là biểu hiện của thần linh nên tồn tại hẳn phải là điều tốt, còn sự chấm dứt tồn tại là điều đáng ghê tởm.]

Này các gia chủ, đối với chính những sa-môn và bà-la-môn ấy, lại có những sa-môn và bà-la-môn khác có thuyết trái ngược trực tiếp.

Họ nói như vầy:

'Có sự chấm dứt hoàn toàn của hữu.'

"Này các gia chủ, các ông nghĩ sao:

những sa-môn và bà-la-môn ấy có phải là những người có thuyết trái ngược trực tiếp với nhau chăng?"

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn."

Này các gia chủ, ở đây một người có trí suy xét như vầy —

những sa-môn và bà-la-môn nào có thuyết như vầy, có kiến như vầy:

'không hề có sự chấm dứt hoàn toàn của hữu', thì điều ấy tôi chưa thấy;

còn những sa-môn và bà-la-môn nào có thuyết như vầy, có kiến như vầy:

'có sự chấm dứt hoàn toàn của hữu', thì điều ấy tôi chưa biết.

Nếu tôi không biết, không thấy mà lại nắm lấy một phía mà tuyên bố:

'chỉ điều này là đúng, ngoài ra đều là hư dối' — thì điều ấy không thích hợp với tôi.

Những sa-môn và bà-la-môn nào có thuyết như vầy, có kiến như vầy:

'không hề có sự chấm dứt hoàn toàn của hữu', nếu lời của các Tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy là đúng, thì có thể xảy ra rằng

tôi sẽ sinh vào hàng chư thiên không có sắc, do tưởng tạo thành — đó là điều chắc ăn đối với tôi.

Còn những sa-môn và bà-la-môn nào có thuyết như vầy, có kiến như vầy:

'có sự chấm dứt hoàn toàn của hữu', nếu lời của các Tôn giả sa-môn và bà-la-môn ấy là đúng, thì có thể xảy ra rằng

tôi sẽ chứng Niết-bàn ngay trong đời này.

Còn kiến của những sa-môn và bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy:

'không hề có sự chấm dứt hoàn toàn của hữu' — kiến ấy gần với tham, gần với sự trói buộc, gần với sự ưa thích, gần với sự bám chặt, gần với sự thủ giữ.

Còn kiến của những sa-môn và bà-la-môn có thuyết như vầy, có kiến như vầy:

'có sự chấm dứt hoàn toàn của hữu' — kiến ấy gần với sự không tham, gần với sự không trói buộc, gần với sự không ưa thích, gần với sự không bám chặt, gần với sự không thủ giữ.'

Sau khi suy xét như vậy, người ấy thực hành để nhàm chán, để ly tham, để đoạn diệt đối với các hữu.

Này các gia chủ, có bốn hạng người này được thấy, đang hiện hữu trong đời.

Bốn là những gì?

Này các gia chủ, ở đây có một hạng người tự hành hạ mình, chuyên tâm vào việc tự hành hạ mình.

Này các gia chủ, ở đây có một hạng người hành hạ người khác, chuyên tâm vào việc hành hạ người khác.

[Chú thích: Xem MN 51:8.1.]

Này các gia chủ, ở đây có một hạng người vừa tự hành hạ mình, chuyên tâm vào việc tự hành hạ mình, vừa hành hạ người khác, chuyên tâm vào việc hành hạ người khác.

Này các gia chủ, ở đây có một hạng người không tự hành hạ mình, không chuyên tâm vào việc tự hành hạ mình, cũng không hành hạ người khác, không chuyên tâm vào việc hành hạ người khác;

vị ấy không tự hành hạ mình, không hành hạ người khác, ngay trong đời này sống không tham muốn, đã tịch tịnh, đã mát lạnh, cảm thọ an vui, sống với tự ngã đã thành Phạm Thiên.

Này các gia chủ, hạng người tự hành hạ mình, chuyên tâm vào việc tự hành hạ mình, là ai?

Này các gia chủ, ở đây có người ở trần, không giữ lề thói, liếm tay, không nhận lời mời "hãy đến, này hiền giả", không dừng lại khi được mời "hãy đứng lại, này hiền giả"; không nhận thức ăn người ta mang đến, không nhận thức ăn làm riêng cho mình, không nhận lời mời ăn; không nhận từ miệng nồi, không nhận từ miệng chén, không nhận từ nhà có nuôi cừu, không nhận từ nhà có cây gậy, không nhận từ nhà có chày giã, không nhận khi hai người đang ăn, không nhận từ người đàn bà có thai, không nhận từ người đàn bà đang cho con bú, không nhận từ người đàn bà đang ở với đàn ông, không nhận ở nơi có tin đồn, không nhận ở nơi có chó đứng chờ, không nhận ở nơi có ruồi bu từng bầy; không ăn cá, không ăn thịt, không uống rượu, không uống men, không uống nước cháo lên men; đi khất thực một nhà thì ăn một miếng, hai nhà thì ăn hai miếng, ba nhà thì ăn ba miếng, bốn nhà thì ăn bốn miếng, năm nhà thì ăn năm miếng, sáu nhà thì ăn sáu miếng, bảy nhà thì ăn bảy miếng; sống với một chén nhỏ, sống với hai chén nhỏ, ba chén nhỏ, bốn chén nhỏ, năm chén nhỏ, sáu chén nhỏ, bảy chén nhỏ; ăn mỗi ngày một lần, ăn hai ngày một lần, ba ngày một lần, bốn ngày một lần, năm ngày một lần, sáu ngày một lần, bảy ngày một lần, cho đến nửa tháng một lần, chuyên tâm vào việc ăn theo kỳ hạn; ăn rau cỏ, ăn kê, ăn lúa hoang, ăn gạo xấu, ăn bèo cái, ăn cám, ăn nước cháo, ăn bột mè, ăn cỏ, ăn phân bò; sống bằng rễ và trái trong rừng, hoặc ăn trái rụng; mặc vải gai, mặc vải gai pha, mặc vải liệm xác, mặc vải rách, mặc vỏ cây tirīṭa, mặc da linh dương, mặc da linh dương còn cả lông, mặc áo cỏ kusa, mặc áo vỏ cây, mặc áo bằng mảnh gỗ, mặc áo lông người, mặc áo lông đuôi ngựa, mặc áo cánh cú; nhổ râu tóc, chuyên tâm vào việc nhổ râu tóc; đứng thẳng, từ chối ngồi; ngồi xổm, chuyên tâm vào việc ngồi xổm; nằm trên giường gai, lấy bụi gai làm chỗ nằm; chuyên tâm vào việc tắm nước ba lần mỗi ngày, kể cả lúc chiều tối.

[Chú thích của người dịch: Pali ở đây lược đoạn bằng dấu peyyāla; bản dịch ghi đủ danh sách các phép khổ hạnh quen thuộc, trùng với MN 12:45.1–45.8.]

Như vậy, vị ấy sống chuyên tâm vào nhiều cách khác nhau để làm nóng và hành hạ thân này.

Này các gia chủ, đây gọi là hạng người tự hành hạ mình, chuyên tâm vào việc tự hành hạ mình.

Này các gia chủ, hạng người hành hạ người khác, chuyên tâm vào việc hành hạ người khác, là ai?

Này các gia chủ, ở đây có người làm nghề đồ tể cừu, nghề đồ tể heo, nghề bắt chim, nghề săn thú, nghề thợ săn, nghề đánh cá, nghề trộm cướp, nghề hành hình kẻ trộm, nghề cai ngục, hoặc bất cứ nghề nào khác tàn ác như vậy.

Này các gia chủ, đây gọi là hạng người hành hạ người khác, chuyên tâm vào việc hành hạ người khác.

Này các gia chủ, hạng người vừa tự hành hạ mình, chuyên tâm vào việc tự hành hạ mình, vừa hành hạ người khác, chuyên tâm vào việc hành hạ người khác, là ai?

Này các gia chủ, ở đây có người là vua, thuộc giai cấp vua chúa, đã được quán đảnh, hoặc là một bà-la-môn giàu có. Vị ấy cho xây một ngôi nhà hội mới ở phía đông kinh thành; cạo bỏ râu tóc, mặc áo da linh dương thô, thoa thân bằng bơ và dầu; vừa gãi lưng bằng sừng linh dương, vừa cùng với hoàng hậu và vị tế sư bước vào ngôi nhà ấy. Vị ấy nằm xuống trên nền đất trống, nơi ấy đã được phủ cỏ xanh. Từ một con bò cái có con bê cùng màu, sữa ở vú thứ nhất là phần của vua, sữa ở vú thứ hai là phần của hoàng hậu, sữa ở vú thứ ba là phần của vị tế sư, sữa ở vú thứ tư được dâng vào lửa tế, còn phần còn lại thì con bê bú. Rồi vị ấy nói: "Hãy giết bấy nhiêu bò đực để tế lễ, hãy giết bấy nhiêu bò tơ đực để tế lễ, hãy giết bấy nhiêu bò cái tơ để tế lễ, hãy giết bấy nhiêu dê để tế lễ, hãy giết bấy nhiêu cừu đực để tế lễ, hãy giết bấy nhiêu ngựa để tế lễ; hãy chặt bấy nhiêu cây để làm cột tế, hãy cắt bấy nhiêu cỏ darbha để làm thảm tế." Vị ấy có những người nô lệ, người hầu, người làm công.

[Chú thích: Pali ở đây lược đoạn bằng dấu peyyāla; bản dịch đã khai triển đủ khối lễ tế theo khuôn của MN 51:10.3–10.8.]

Chính những người ấy, bị đe doạ bằng gậy gộc, bị đe doạ bằng nỗi sợ, mặt đầm đìa nước mắt, khóc lóc, phải làm những việc phụ giúp cho lễ tế.

Này các gia chủ, đây gọi là hạng người vừa tự hành hạ mình, chuyên tâm vào việc tự hành hạ mình, vừa hành hạ người khác, chuyên tâm vào việc hành hạ người khác.

Này các gia chủ, hạng người không tự hành hạ mình, không chuyên tâm vào việc tự hành hạ mình, cũng không hành hạ người khác, không chuyên tâm vào việc hành hạ người khác, là ai,

vị ấy không tự hành hạ mình, không hành hạ người khác, ngay trong đời này sống không tham muốn, đã tịch tịnh, đã mát lạnh, cảm thọ an vui, sống với tự ngã đã thành Phạm Thiên?

Này các gia chủ, ở đây có Như Lai xuất hiện trong đời, là bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đầy đủ minh và hạnh, bậc Thiện thệ, bậc thấu hiểu thế gian, bậc tối thượng dẫn dắt những người cần được điều ngự, bậc thầy của trời và người, bậc Giác ngộ, bậc Thế Tôn. Ngài tự mình chứng biết bằng thắng trí về thế giới này cùng với chư thiên, Ma vương, Phạm Thiên, cùng với đám chúng sinh gồm sa-môn, bà-la-môn, chư thiên và loài người, rồi tuyên bố cho người khác biết. Ngài thuyết Pháp tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, tốt đẹp ở đoạn cuối, có nghĩa lý và văn cú; Ngài nêu rõ đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và trong sạch.

Một gia chủ, hay con của một gia chủ, hay một người sinh trong một gia đình tốt nghe Pháp ấy. Sau khi nghe, vị ấy có đức tin nơi Như Lai, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình; vị ấy sống thành tựu đầy đủ giới, hộ trì các cửa căn, có chánh niệm và tỉnh giác, biết đủ; rồi lui về một chỗ vắng vẻ, dưới gốc cây hay trong một căn nhà trống, ngồi kiết già, giữ thân ngay thẳng, đặt chánh niệm trước mặt.

[Chú thích của người dịch: Pali ở đây lược rất nhiều bằng dấu peyyāla: từ chỗ nghe Pháp, có đức tin, xuất gia, cho đến giới hạnh, hộ trì các căn, chánh niệm tỉnh giác và biết đủ, cả khối văn được tóm vào một dấu lược. Bản dịch giữ đủ các chặng ấy trong một đoạn tóm lược; bản đầy đủ của khối văn này có trong MN 27, MN 38 và MN 51.]

Vị ấy từ bỏ năm triền cái này, những cấu uế của tâm làm yếu ớt tuệ,

rồi ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng đạt và an trú tầng thiền-na thứ nhất, có tầm có tứ, có hỷ và lạc do sự ly dục sinh ra.

Khi tầm và tứ đã lặng xuống, vị ấy chứng đạt và an trú tầng thiền-na thứ hai, có sự an tịnh nội tâm, có sự nhất tâm, không tầm không tứ, có hỷ và lạc do định sinh ra.

Với sự ly hỷ, vị ấy trú xả, có chánh niệm và tỉnh giác, thân cảm thọ lạc, và chứng tầng thiền-na thứ ba, mà các bậc thánh nói là "người trú xả, có chánh niệm, sống an lạc".

Sau khi đoạn trừ lạc và khổ, sau khi diệt trừ hỷ và ưu có từ trước, vị ấy chứng đạt và an trú tầng thiền-na thứ tư, không khổ không lạc, có sự thanh tịnh của xả và chánh niệm.

Với tâm đã định như vậy, thanh tịnh, trong sáng, không cấu uế, đã lìa các ô nhiễm, đã trở nên mềm mại, dễ sử dụng, vững vàng, đạt đến bất động, vị ấy hướng tâm đến trí nhớ về các đời sống quá khứ.

Vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau, như là một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều kiếp thành hoại, nhiều kiếp thành, nhiều kiếp thành và hoại: "Ở đời ấy, ta có tên như vầy, dòng dõi như vầy, màu da như vầy, thức ăn như vầy, cảm thọ khổ vui như vầy, tuổi thọ như vầy; từ đó ta chết đi và sinh ra ở đời kia; ở đời kia, ta lại có tên như vầy, dòng dõi như vầy, màu da như vầy, thức ăn như vầy, cảm thọ khổ vui như vầy, tuổi thọ như vầy; từ đó ta chết đi và sinh ra ở đời này." Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ khác nhau với các đặc điểm và chi tiết.

Vị ấy hướng tâm đến trí biết sự chết và sự tái sinh của các chúng sinh.

Với thiên nhãn thanh tịnh, siêu hơn mắt người, vị ấy thấy các chúng sinh đang chết và đang tái sinh, kẻ hạ liệt, người cao quý, kẻ xấu sắc, người đẹp sắc, kẻ sinh vào cõi lành, kẻ sinh vào cõi dữ. Vị ấy biết các chúng sinh là những kẻ đi theo nghiệp: "Những chúng sinh này đã làm các việc xấu ác về thân, về lời, về ý; đã nói xấu các bậc thánh; có tà kiến, đã thọ trì nghiệp theo tà kiến. Sau khi thân tan rã, sau khi chết, chúng đã sinh vào cõi khổ, vào đường dữ, vào nơi đoạ lạc, vào địa ngục. Còn những chúng sinh kia đã làm các việc lành về thân, về lời, về ý; đã không nói xấu các bậc thánh; có chánh kiến, đã thọ trì nghiệp theo chánh kiến. Sau khi thân tan rã, sau khi chết, chúng đã sinh vào cõi lành, vào thiên giới, vào thế giới chư thiên." Như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh siêu hơn mắt người, vị ấy thấy các chúng sinh đang chết và đang tái sinh, và biết các chúng sinh là những kẻ đi theo nghiệp.

Với tâm đã định như vậy, thanh tịnh, trong sáng, không cấu uế, đã lìa các ô nhiễm, đã trở nên mềm mại, dễ sử dụng, vững vàng, đạt đến bất động, vị ấy hướng tâm đến trí đoạn tận các lậu hoặc.

Vị ấy biết như thật: "Đây là khổ"; biết như thật: "Đây là sự tập khởi của khổ"; biết như thật: "Đây là sự đoạn diệt của khổ"; biết như thật: "Đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt của khổ"; biết như thật: "Đây là các lậu hoặc"; biết như thật: "Đây là sự tập khởi của các lậu hoặc"; biết như thật: "Đây là sự đoạn diệt của các lậu hoặc";

vị ấy biết như thật: "Đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt của các lậu hoặc."

Với vị ấy biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu.

Khi đã giải thoát, vị ấy biết: "Ta đã giải thoát."

Vị ấy biết: 'Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa.'

Này các gia chủ, đây gọi là hạng người không tự hành hạ mình, không chuyên tâm vào việc tự hành hạ mình, cũng không hành hạ người khác, không chuyên tâm vào việc hành hạ người khác;

vị ấy không tự hành hạ mình, không hành hạ người khác, ngay trong đời này sống không tham muốn, đã tịch tịnh, đã mát lạnh, cảm thọ an vui, sống với tự ngã đã thành Phạm Thiên.

Khi Đức Thế Tôn nói như vậy, các bà-la-môn và gia chủ xứ Sālā thưa với Ngài:

"Thật tuyệt vời, thưa ngài Gotama, thật tuyệt vời, thưa ngài Gotama!

Ví như có người dựng lại vật đã bị lật úp, mở ra vật đã bị che kín, chỉ đường cho người lạc lối, đem đèn dầu vào chỗ tối để người có mắt thấy được những hình sắc — cũng vậy, ngài Gotama đã làm sáng tỏ Pháp bằng nhiều cách khác nhau.

Chúng con xin nương tựa ngài Gotama, nương tựa Pháp và Tăng đoàn tỳ-kheo.

[Chú thích: Theo MN 41:44.4, những người này về sau đã xuất gia.]

Xin ngài Gotama nhận chúng con làm người cư sĩ, từ hôm nay cho đến trọn đời, đã nương tựa."

Kinh Không Thể Tranh Cãi đã hoàn thành, bài thứ mười.

Phẩm Gia Chủ đã hoàn thành, phẩm thứ nhất.


Tóm tắt phẩm Gia Chủ

Kandara, Nāgara và Sekha,

Potaliya, rồi Jīvaka với người cháu;

Upāli, Damatha, Kukkura và Abhaya,

Bahuvedanīya và Apaṇṇaka là bài thứ mười.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →