buppou

Trung Bộ Kinh · bài 68/152

Kinh Naḷakapāna

Naḷakapānasutta

25 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Naḷakapāna (Naḷakapānasutta) là bài thứ sáu mươi tám trong Trung Bộ Kinh, bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Bài kinh diễn ra tại Naḷakapāna, một địa điểm trong xứ Kosala, trong một rừng cây palāsa. Người nghe hôm ấy không phải một vị vua hay một giáo sĩ ngoại đạo, mà là Tăng đoàn tỳ-kheo cùng một nhóm thanh niên con nhà danh giá vừa mới xuất gia. Chính nhóm người ấy là tâm điểm của bài kinh.

Đức Thế Tôn — danh hiệu dùng trong bản dịch này để chỉ bậc đã giác ngộ, cũng là vị thầy của Tăng đoàn — ngồi giữa trời, chung quanh là các tỳ-kheo. Ngài hỏi một câu tưởng như đơn giản: những thiện nam tử đã vì lòng tin nơi Ngài mà rời nhà đi tu, họ có đang hoan hỷ trong đời sống phạm hạnh không? Không ai trả lời. Ngài hỏi lần thứ hai, rồi lần thứ ba, vẫn chỉ có im lặng. Sự im lặng ấy không phải bất kính; nó cho thấy câu hỏi chạm vào điều riêng tư, và không ai muốn nói thay cho người khác. Cuối cùng Ngài quay sang hỏi thẳng Anuruddha và nhóm bạn của ông.

Anuruddha đáp rằng cả nhóm đều hoan hỷ. Đức Thế Tôn bèn nhắc lại điều Ngài biết về họ: họ còn trẻ, tóc còn đen, đang độ sung sức, và đã có thể sống một đời hưởng thụ. Họ không xuất gia vì bị vua truy bắt, vì mắc nợ, vì sợ hãi hay vì đường sinh nhai bế tắc. Họ ra đi vì tự thấy mình đang chìm trong sinh, già, chết, trong sầu, bi, khổ, ưu, não, và hy vọng chấm dứt được khối khổ ấy. Từ đó Ngài đặt câu hỏi tiếp: một người đã xuất gia như vậy thì phải làm gì? Câu trả lời là phải đạt được niềm vui và sự an lạc phát sinh từ việc xa lìa các dục lạc và các pháp bất thiện — tức thiền-na thứ nhất. Nếu chưa đạt được, tâm còn bị tham dục, sân, hôn trầm thụy miên, trạo cử hối quá, hoài nghi, bất mãn và biếng nhác chiếm giữ.

Đoạn kế tiếp tinh tế hơn. Đức Thế Tôn hỏi các vị ấy có nghĩ rằng Ngài vẫn còn lậu hoặc, nên phải sau khi suy xét mới dùng một số thứ, chịu đựng một số thứ, tránh một số thứ và trừ bỏ một số thứ hay không. Các vị đáp: không, các vị nghĩ những lậu hoặc ấy đã bị đoạn trừ tận gốc, như cây thốt nốt bị chặt ngọn thì không thể mọc lại. Câu hỏi này chạm đến một thắc mắc rất người: vì sao một vị thầy đã giác ngộ vẫn ăn uống, vẫn nghỉ ngơi, vẫn tránh chỗ nguy hiểm? Bài kinh cho thấy hành vi bên ngoài có thể giống nhau, nhưng động cơ bên trong thì khác hẳn.

Phần lớn nửa sau bài kinh là một chuỗi dài những lời tuyên bố về người đã mất. Đức Thế Tôn giải thích vì sao Ngài nói một đệ tử tái sinh ở chỗ này, một vị khác ở chỗ kia: không phải để được lợi dưỡng, cung kính hay danh tiếng, cũng không phải để người đời biết đến Ngài. Ngài nói vì có những người có lòng tin, nghe được tin ấy thì hướng tâm về mục đích cao thượng, và điều đó đem lại lợi ích lâu dài cho họ. Tiếp theo là bốn nhóm người — tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ — mỗi nhóm được nhắc lại theo cùng một khuôn, với những mức chứng đắc khác nhau: đã chứng ngộ ngay trong đời này; đã hóa sinh và nhập Niết-bàn tại cõi ấy, không trở lại; còn trở lại thế giới này một lần nữa; và đã vào dòng Thánh, không còn khả năng đọa vào ác xứ.

Cuối bài, Đức Thế Tôn tóm lại một lần nữa động cơ ấy, rồi Tôn giả Anuruddha hoan hỷ tán thán lời Ngài. Với người đọc hôm nay, Kinh Naḷakapāna không phải một bản danh sách người chết. Đó là bài học về sự trung thực của động cơ: người tu phải tự hỏi mình đang tìm gì, và người thầy không dùng đời sống tâm linh để đổi lấy sự ngưỡng mộ. Những đoạn lặp dài trong bài không phải chỗ văn bản bị hỏng; chúng là cách ghi nhớ và an ủi của một cộng đồng vừa mất đi những người thân quen.

[Chú thích của người dịch: Naḷakapāna là tên riêng của một khu rừng và ngôi làng, nên được giữ nguyên dạng Pali. Palāsa là một loài cây gỗ có hoa đỏ rực; palāsavana là rừng cây ấy.]

Naḷakapānasutta — bài kinh thuyết tại Naḷakapāna, nơi Đức Thế Tôn hỏi các đệ tử trẻ tuổi vừa xuất gia xem họ có hoan hỷ trong đời sống phạm hạnh


Tôi nghe như vầy.

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại xứ Kosala (Kiều-tát-la), ở Naḷakapāna, trong rừng cây palāsa.

[Chú thích: Đức Thế Tôn cũng được ghi nhận đến khu rừng này trong hai bài kinh khác có cùng mạch chuyện, là Tăng Chi Bộ Kinh 10.67 và 10.68; cả hai đều nói về sự lớn mạnh của các phẩm chất tâm linh.]

Lúc bấy giờ, nhiều thiện nam tử nổi tiếng khắp nơi, đã vì lòng tin nơi Đức Thế Tôn mà xuất gia, rời đời sống tại gia để sống không nhà—

[Chú thích: Cách nói này cho thấy họ xuất gia chưa lâu, nên bài kinh có lẽ thuộc những năm đầu của thời kỳ hoằng pháp.]

Đó là Tôn giả Anuruddha (A-na-luật), Tôn giả Bhaddiya (Bạt-đề), Tôn giả Kimila (Kim-tỳ-la), Tôn giả Bhagu, Tôn giả Koṇḍañña (Kiều-trần-như), Tôn giả Revata (Ly-bà-đa), Tôn giả Ānanda (A-nan), cùng nhiều thiện nam tử nổi tiếng khác.

[Chú thích: Các bản Pali chép danh sách này hơi khác nhau. Bản Mahāsaṅgīti ghi Koṇḍañña, nhưng nếu đó là vị đệ tử đầu tiên nổi tiếng thì khó có thể nằm trong danh sách những người mới xuất gia; các bản khác ghi Kuṇḍadhāna, một vị tỳ-kheo ít được biết đến. Mạch chuyện cho thấy vị này, như phần lớn những người trong danh sách, thuộc dòng họ Sakya.]

Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn đang ngồi giữa trời, được Tăng đoàn tỳ-kheo vây quanh.

Rồi Đức Thế Tôn nhắc đến những thiện nam tử ấy và bảo các tỳ-kheo:

"Này các tỳ-kheo, những thiện nam tử ấy đã vì lòng tin nơi Ta mà xuất gia, rời đời sống tại gia để sống không nhà. Này các tỳ-kheo, các vị tỳ-kheo ấy có hoan hỷ trong phạm hạnh không?"

Khi Ngài nói vậy, các tỳ-kheo ấy đều im lặng.

Lần thứ hai, Đức Thế Tôn lại nhắc đến những thiện nam tử ấy và bảo các tỳ-kheo:

"Này các tỳ-kheo, những thiện nam tử ấy đã vì lòng tin nơi Ta mà xuất gia, rời đời sống tại gia để sống không nhà. Này các tỳ-kheo, các vị tỳ-kheo ấy có hoan hỷ trong phạm hạnh không?"

Lần thứ hai, các tỳ-kheo ấy vẫn im lặng.

Lần thứ ba, Đức Thế Tôn lại nhắc đến những thiện nam tử ấy và bảo các tỳ-kheo:

"Này các tỳ-kheo, những thiện nam tử ấy đã vì lòng tin nơi Ta mà xuất gia, rời đời sống tại gia để sống không nhà. Này các tỳ-kheo, các vị tỳ-kheo ấy có hoan hỷ trong phạm hạnh không?"

Lần thứ ba, các tỳ-kheo ấy vẫn im lặng.

Rồi Đức Thế Tôn nghĩ:

"Chi bằng Ta hỏi chính những thiện nam tử ấy."

[Chú thích: Ở đây Đức Thế Tôn chuyển từ nói với toàn thể các tỳ-kheo sang chỉ nói với Anuruddha và nhóm bạn của ông.]

Rồi Đức Thế Tôn bảo Tôn giả Anuruddha:

"Này Anuruddha và các ông, các ông có hoan hỷ trong phạm hạnh không?"

"Bạch Thế Tôn, đúng vậy, chúng con hoan hỷ trong phạm hạnh."

"Lành thay, lành thay, này Anuruddha và các ông.

Điều ấy thật xứng hợp với các ông, này Anuruddha và các ông: những thiện nam tử đã vì lòng tin mà xuất gia, rời đời sống tại gia để sống không nhà thì nên hoan hỷ trong phạm hạnh.

Các ông đang có tuổi trẻ tốt đẹp, đang ở tuổi đầu đời, tóc còn đen nhánh; với tuổi trẻ ấy, các ông đã có thể hưởng thụ các dục lạc. Thế mà chính với tuổi trẻ tốt đẹp ấy, ở tuổi đầu đời ấy, tóc còn đen nhánh ấy, các ông đã xuất gia, rời đời sống tại gia để sống không nhà.

Nhưng này Anuruddha và các ông, các ông không phải vì bị vua truy bắt mà xuất gia, rời đời sống tại gia để sống không nhà; không phải vì bị truy nã tội trộm cướp mà xuất gia; không phải vì mắc nợ mà xuất gia; không phải vì sợ hãi mà xuất gia; không phải vì kế sinh nhai bị phá sản mà xuất gia.

[Chú thích: Cùng một danh sách này xuất hiện ở Tương Ưng Bộ Kinh 22.80 và Itivuttaka 91. Theo Luật tạng, người bị vua gọi, người phạm tội trộm cướp, người mắc nợ và người sợ hãi không nên được cho xuất gia; nếu vẫn cho xuất gia thì người làm lễ phạm một tội nhẹ phải sám hối. Riêng mục "vì sợ hãi" không khớp thẳng với trình tự trong Luật, nơi vị trí ấy là việc xuất gia của người nô lệ.]

Trái lại, các ông đã xuất gia với ý nghĩ: 'Ta đang chìm đắm trong sinh, già, chết, trong sầu, bi, khổ, ưu, não; ta đang chìm trong khổ, bị khổ vây hãm.

Mong rằng sự chấm dứt của toàn bộ khối khổ này có thể được nhận ra'—

chẳng phải các ông đã vì lòng tin mà xuất gia, rời đời sống tại gia để sống không nhà, đúng như vậy đó sao?"

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn."

"Này Anuruddha và các ông, một thiện nam tử đã xuất gia như vậy thì phải làm gì?

Này Anuruddha và các ông, có người không chứng đắc hỷ lạc do xa lìa các dục lạc, xa lìa các pháp bất thiện, cũng không chứng đắc điều gì an tịnh hơn thế. Với người ấy, tham dục vẫn chiếm giữ tâm, sân vẫn chiếm giữ tâm, hôn trầm thụy miên vẫn chiếm giữ tâm, trạo cử hối quá vẫn chiếm giữ tâm, hoài nghi vẫn chiếm giữ tâm, bất mãn vẫn chiếm giữ tâm, và biếng nhác vẫn chiếm giữ tâm.

[Chú thích: Đây là thiền-na thứ nhất; không có nó thì tâm còn bị năm triền cái cùng bất mãn và biếng nhác chi phối. Đức Thế Tôn đang chỉ cho Anuruddha thấy lợi ích của thiền-na, nên bài kinh này thuộc nhóm các bài nói về tiến trình tu tập của ông, cùng với Trung Bộ Kinh 128, Tăng Chi Bộ Kinh 3.130 và Trung Bộ Kinh 31.]

Ấy là người không chứng đắc hỷ lạc do xa lìa các dục lạc, xa lìa các pháp bất thiện, cũng không chứng đắc điều gì an tịnh hơn thế.

Này Anuruddha và các ông, có người chứng đắc hỷ lạc do xa lìa các dục lạc, xa lìa các pháp bất thiện, hoặc chứng đắc điều gì an tịnh hơn thế. Với người ấy, tham dục không chiếm giữ tâm, sân không chiếm giữ tâm, hôn trầm thụy miên không chiếm giữ tâm, trạo cử hối quá không chiếm giữ tâm, hoài nghi không chiếm giữ tâm, bất mãn không chiếm giữ tâm, và biếng nhác không chiếm giữ tâm.

Ấy là người chứng đắc hỷ lạc do xa lìa các dục lạc, xa lìa các pháp bất thiện, hoặc chứng đắc điều gì an tịnh hơn thế."

"Này Anuruddha và các ông, các ông có nghĩ về Ta như vầy không:

'Như Lai chưa đoạn trừ những lậu hoặc nhiễm ô, đưa đến tái sinh, phiền lụy, chín thành khổ quả, dẫn đến sinh, già, chết trong đời sau;

nên Như Lai sau khi suy xét mới dùng một số thứ, sau khi suy xét mới chịu đựng một số thứ, sau khi suy xét mới tránh một số thứ, sau khi suy xét mới trừ bỏ một số thứ'?"

[Chú thích: So với bảy cách được nêu ở Trung Bộ Kinh 2, đoạn này bỏ ba cách là nhìn, phòng hộ và tu tập, chỉ giữ lại bốn cách. Đức Thế Tôn hỏi xem cách Ngài dùng bốn phương pháp ấy có khiến người ta nghĩ rằng Ngài đang lén lút hành động vì lậu hoặc hay không. Câu hỏi dường như nhắm đến khuynh hướng của những người tu trẻ nhiệt thành, thường mong vị thầy phải vượt hẳn mọi sinh hoạt đời thường, rồi ngạc nhiên khi thấy Ngài vẫn ăn uống hay tránh chỗ nguy hiểm.]

"Bạch Thế Tôn, chúng con không nghĩ về Ngài như vậy:

'Như Lai chưa đoạn trừ những lậu hoặc nhiễm ô, đưa đến tái sinh, phiền lụy, chín thành khổ quả, dẫn đến sinh, già, chết trong đời sau;

nên Như Lai sau khi suy xét mới dùng một số thứ, sau khi suy xét mới chịu đựng một số thứ, sau khi suy xét mới tránh một số thứ, sau khi suy xét mới trừ bỏ một số thứ.'

Bạch Thế Tôn, chúng con nghĩ về Ngài như vầy:

'Như Lai đã đoạn trừ những lậu hoặc nhiễm ô, đưa đến tái sinh, phiền lụy, chín thành khổ quả, dẫn đến sinh, già, chết trong đời sau;

nên Như Lai sau khi suy xét mới dùng một số thứ, sau khi suy xét mới chịu đựng một số thứ, sau khi suy xét mới tránh một số thứ, sau khi suy xét mới trừ bỏ một số thứ.'"

"Lành thay, lành thay, này Anuruddha và các ông.

Này Anuruddha và các ông, với Như Lai, những lậu hoặc nhiễm ô ấy đã được đoạn trừ, bị chặt tận gốc, làm cho như thân cây thốt nốt đã bị chặt ngọn, bị tiêu diệt, không còn khả năng sinh khởi trong tương lai.

Ví như, này Anuruddha và các ông, một cây thốt nốt đã bị chặt ngọn thì không có khả năng mọc lại;

cũng vậy, này Anuruddha và các ông, với Như Lai, những lậu hoặc nhiễm ô ấy đã được đoạn trừ, bị chặt tận gốc, làm cho như thân cây thốt nốt đã bị chặt ngọn, bị tiêu diệt, không còn khả năng sinh khởi trong tương lai;

nên Như Lai sau khi suy xét mới dùng một số thứ, sau khi suy xét mới chịu đựng một số thứ, sau khi suy xét mới tránh một số thứ, sau khi suy xét mới trừ bỏ một số thứ."

"Này Anuruddha và các ông, các ông nghĩ sao:

Như Lai thấy lợi ích gì mà tuyên bố về sự tái sinh của các đệ tử đã qua đời, đã mệnh chung:

'vị này tái sinh ở chỗ này, vị kia tái sinh ở chỗ kia'?"

[Chú thích: Ở Tương Ưng Bộ Kinh 44.9, sáu vị đạo sư ngoại đạo đều tuyên bố như vậy, còn Đức Thế Tôn thì tuyên bố như vậy trong Trường Bộ Kinh 16 và 18. Có thể xem đây là lời dạy chuẩn bị cho Anuruddha, vị về sau thành tựu thiên nhãn; Đức Thế Tôn muốn ông biết rằng năng lực ấy chỉ nên dùng vì mục đích trong sạch.]

"Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Đức Thế Tôn làm gốc, lấy Đức Thế Tôn làm người dẫn đường, lấy Đức Thế Tôn làm chỗ nương tựa. Lành thay, bạch Thế Tôn, xin Đức Thế Tôn tự làm sáng tỏ ý nghĩa của lời ấy; các tỳ-kheo nghe xong sẽ ghi nhớ."


"Này Anuruddha và các ông, Như Lai không vì muốn lừa dối người, không vì muốn nịnh bợ người, không vì lợi dưỡng, cung kính và danh tiếng, không vì nghĩ 'để mọi người biết đến Ta' mà tuyên bố về sự tái sinh của các đệ tử đã qua đời, đã mệnh chung:

'vị này tái sinh ở chỗ này, vị kia tái sinh ở chỗ kia.'"

Nhưng này Anuruddha và các ông, có những thiện nam tử có lòng tin, có niềm vui lớn, có niềm hoan hỷ lớn.

Nghe được điều ấy, họ hướng tâm về mục đích ấy.

Này Anuruddha và các ông, điều ấy đem lại cho họ sự lợi ích và an lạc lâu dài.

Này Anuruddha và các ông, ở đây, một tỳ-kheo nghe rằng:

"Vị tỳ-kheo tên như vầy đã qua đời;

vị ấy đã được Đức Thế Tôn tuyên bố—

vị ấy đã chứng đạt và an trú."

Và vị tỳ-kheo ấy hoặc đã tự mình thấy vị Tôn giả kia, hoặc đã nghe người khác kể lại rằng:

"vị Tôn giả ấy đã có giới như thế, có phẩm chất như thế, có tuệ như thế, có cách sống như thế, có giải thoát như thế."

Vị ấy nhớ lại đức tin, giới, sự học, sự bố thí và tuệ của vị kia, rồi hướng tâm về mục đích ấy.

Này Anuruddha và các ông, như vậy cũng là một tỳ-kheo sống an lạc.

Này Anuruddha và các ông, ở đây, một tỳ-kheo nghe rằng:

"Vị tỳ-kheo tên như vầy đã qua đời;

vị ấy đã được Đức Thế Tôn tuyên bố—

do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy hóa sinh, ngay tại đó nhập Niết-bàn, không còn trở lại từ thế giới ấy."

Và vị tỳ-kheo ấy hoặc đã tự mình thấy vị Tôn giả kia, hoặc đã nghe người khác kể lại rằng:

"vị Tôn giả ấy đã có giới như thế, có phẩm chất như thế, có tuệ như thế, có cách sống như thế, có giải thoát như thế."

Vị ấy nhớ lại đức tin, giới, sự học, sự bố thí và tuệ của vị kia, rồi hướng tâm về mục đích ấy.

Này Anuruddha và các ông, như vậy cũng là một tỳ-kheo sống an lạc.

Này Anuruddha và các ông, ở đây, một tỳ-kheo nghe rằng:

"Vị tỳ-kheo tên như vầy đã qua đời;

vị ấy đã được Đức Thế Tôn tuyên bố—

do đoạn tận ba kiết sử, do tham, sân, si đã mỏng đi, vị ấy là bậc Nhất lai; chỉ còn trở lại thế giới này một lần nữa rồi sẽ chấm dứt khổ đau."

Và vị tỳ-kheo ấy hoặc đã tự mình thấy vị Tôn giả kia, hoặc đã nghe người khác kể lại rằng:

"vị Tôn giả ấy đã có giới như thế, có phẩm chất như thế, có tuệ như thế, có cách sống như thế, có giải thoát như thế."

Vị ấy nhớ lại đức tin, giới, sự học, sự bố thí và tuệ của vị kia, rồi hướng tâm về mục đích ấy.

Này Anuruddha và các ông, như vậy cũng là một tỳ-kheo sống an lạc.

Này Anuruddha và các ông, ở đây, một tỳ-kheo nghe rằng:

"Vị tỳ-kheo tên như vầy đã qua đời;

vị ấy đã được Đức Thế Tôn tuyên bố—

do đoạn tận ba kiết sử, vị ấy là bậc Dự lưu, không còn khả năng đọa vào ác xứ, nhất định hướng đến giác ngộ."

Và vị tỳ-kheo ấy hoặc đã tự mình thấy vị Tôn giả kia, hoặc đã nghe người khác kể lại rằng:

"vị Tôn giả ấy đã có giới như thế, có phẩm chất như thế, có tuệ như thế, có cách sống như thế, có giải thoát như thế."

Vị ấy nhớ lại đức tin, giới, sự học, sự bố thí và tuệ của vị kia, rồi hướng tâm về mục đích ấy.

Này Anuruddha và các ông, như vậy cũng là một tỳ-kheo sống an lạc.

Này Anuruddha và các ông, ở đây, một tỳ-kheo-ni nghe rằng:

"Vị tỳ-kheo-ni tên như vầy đã qua đời;

vị ấy đã được Đức Thế Tôn tuyên bố—

vị ấy đã chứng đạt và an trú."

Và vị tỳ-kheo-ni ấy hoặc đã tự mình thấy vị kia, hoặc đã nghe người khác kể lại rằng:

"vị ấy đã có giới như thế, có phẩm chất như thế, có tuệ như thế, có cách sống như thế, có giải thoát như thế."

Vị ấy nhớ lại đức tin, giới, sự học, sự bố thí và tuệ của vị kia, rồi hướng tâm về mục đích ấy.

Này Anuruddha và các ông, như vậy cũng là một tỳ-kheo-ni sống an lạc.

Này Anuruddha và các ông, ở đây, một tỳ-kheo-ni nghe rằng:

"Vị tỳ-kheo-ni tên như vầy đã qua đời;

vị ấy đã được Đức Thế Tôn tuyên bố—

do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy hóa sinh, ngay tại đó nhập Niết-bàn, không còn trở lại từ thế giới ấy."

Và vị tỳ-kheo-ni ấy hoặc đã tự mình thấy vị kia, hoặc đã nghe người khác kể lại rằng:


"vị ấy đã có giới như thế, có phẩm chất như thế, có tuệ như thế, có cách sống như thế, có giải thoát như thế."

Vị ấy nhớ lại đức tin, giới, sự học, sự bố thí và tuệ của vị kia, rồi hướng tâm về mục đích ấy.

Này Anuruddha và các ông, như vậy cũng là một tỳ-kheo-ni sống an lạc.

Này Anuruddha và các ông, ở đây, một tỳ-kheo-ni nghe rằng:

"Vị tỳ-kheo-ni tên như vầy đã qua đời;

vị ấy đã được Đức Thế Tôn tuyên bố—

do đoạn tận ba kiết sử, do tham, sân, si đã mỏng đi, vị ấy là bậc Nhất lai; chỉ còn trở lại thế giới này một lần nữa rồi sẽ chấm dứt khổ đau."

Và vị tỳ-kheo-ni ấy hoặc đã tự mình thấy vị kia, hoặc đã nghe người khác kể lại rằng:

"vị ấy đã có giới như thế, có phẩm chất như thế, có tuệ như thế, có cách sống như thế, có giải thoát như thế."

Vị ấy nhớ lại đức tin, giới, sự học, sự bố thí và tuệ của vị kia, rồi hướng tâm về mục đích ấy.

Này Anuruddha và các ông, như vậy cũng là một tỳ-kheo-ni sống an lạc.

Này Anuruddha và các ông, ở đây, một tỳ-kheo-ni nghe rằng:

"Vị tỳ-kheo-ni tên như vầy đã qua đời;

vị ấy đã được Đức Thế Tôn tuyên bố—

do đoạn tận ba kiết sử, vị ấy là bậc Dự lưu, không còn khả năng đọa vào ác xứ, nhất định hướng đến giác ngộ."

Và vị tỳ-kheo-ni ấy hoặc đã tự mình thấy vị kia, hoặc đã nghe người khác kể lại rằng:

"vị ấy đã có giới như thế, có phẩm chất như thế, có tuệ như thế, có cách sống như thế, có giải thoát như thế."

Vị ấy nhớ lại đức tin, giới, sự học, sự bố thí và tuệ của vị kia, rồi hướng tâm về mục đích ấy.

Này Anuruddha và các ông, như vậy cũng là một tỳ-kheo-ni sống an lạc.

Này Anuruddha và các ông, ở đây, một nam cư sĩ nghe rằng:

"Nam cư sĩ tên như vầy đã qua đời;

vị ấy đã được Đức Thế Tôn tuyên bố—

do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy hóa sinh, ngay tại đó nhập Niết-bàn, không còn trở lại từ thế giới ấy."

Và vị ấy hoặc đã tự mình thấy vị kia, hoặc đã nghe người khác kể lại rằng:

[Chú thích của người dịch: Nguyên văn Pali ở đây gọi vị nam cư sĩ đã mất là āyasmā, một danh xưng thường dành cho tỳ-kheo, nên bản dịch dùng vị ấy cho khỏi hiểu lầm. Ở các đoạn tương ứng về nữ cư sĩ, nguyên văn cũng dùng bhaginī, tiếng gọi thân mật thường dành cho nữ tu.]

"vị ấy đã có giới như thế, có phẩm chất như thế, có tuệ như thế, có cách sống như thế, có giải thoát như thế."

Vị ấy nhớ lại đức tin, sự học, sự bố thí và tuệ của vị kia, rồi hướng tâm về mục đích ấy.

Này Anuruddha và các ông, như vậy cũng là một nam cư sĩ sống an lạc.

Này Anuruddha và các ông, ở đây, một nam cư sĩ nghe rằng:

"Nam cư sĩ tên như vầy đã qua đời;

vị ấy đã được Đức Thế Tôn tuyên bố—

do đoạn tận ba kiết sử, do tham, sân, si đã mỏng đi, vị ấy là bậc Nhất lai; chỉ còn trở lại thế giới này một lần nữa rồi sẽ chấm dứt khổ đau."

Và vị ấy hoặc đã tự mình thấy vị kia, hoặc đã nghe người khác kể lại rằng:

"vị ấy đã có giới như thế, có phẩm chất như thế, có tuệ như thế, có cách sống như thế, có giải thoát như thế."

Vị ấy nhớ lại đức tin, giới, sự học, sự bố thí và tuệ của vị kia, rồi hướng tâm về mục đích ấy.

Này Anuruddha và các ông, như vậy cũng là một nam cư sĩ sống an lạc.

Này Anuruddha và các ông, ở đây, một nam cư sĩ nghe rằng:

"Nam cư sĩ tên như vầy đã qua đời;

vị ấy đã được Đức Thế Tôn tuyên bố—

do đoạn tận ba kiết sử, vị ấy là bậc Dự lưu, không còn khả năng đọa vào ác xứ, nhất định hướng đến giác ngộ."

Và vị ấy hoặc đã tự mình thấy vị kia, hoặc đã nghe người khác kể lại rằng:

"vị ấy đã có giới như thế, có phẩm chất như thế, có tuệ như thế, có cách sống như thế, có giải thoát như thế."

Vị ấy nhớ lại đức tin, giới, sự học, sự bố thí và tuệ của vị kia, rồi hướng tâm về mục đích ấy.

Này Anuruddha và các ông, như vậy cũng là một nam cư sĩ sống an lạc.

Này Anuruddha và các ông, ở đây, một nữ cư sĩ nghe rằng:

"Nữ cư sĩ tên như vầy đã qua đời;

vị ấy đã được Đức Thế Tôn tuyên bố—

do đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy hóa sinh, ngay tại đó nhập Niết-bàn, không còn trở lại từ thế giới ấy."

Và vị ấy hoặc đã tự mình thấy vị kia, hoặc đã nghe người khác kể lại rằng:

"vị ấy đã có giới như thế, có phẩm chất như thế, có tuệ như thế, có cách sống như thế, có giải thoát như thế."

Vị ấy nhớ lại đức tin, giới, sự học, sự bố thí và tuệ của vị kia, rồi hướng tâm về mục đích ấy.


Này Anuruddha và các ông, như vậy cũng là một nữ cư sĩ sống an lạc.

Này Anuruddha và các ông, ở đây, một nữ cư sĩ nghe rằng:

"Nữ cư sĩ tên như vầy đã qua đời;

vị ấy đã được Đức Thế Tôn tuyên bố—

do đoạn tận ba kiết sử, do tham, sân, si đã mỏng đi, vị ấy là bậc Nhất lai; chỉ còn trở lại thế giới này một lần nữa rồi sẽ chấm dứt khổ đau."

Và vị ấy hoặc đã tự mình thấy vị kia, hoặc đã nghe người khác kể lại rằng:

"vị ấy đã có giới như thế, có phẩm chất như thế, có tuệ như thế, có cách sống như thế, có giải thoát như thế."

Vị ấy nhớ lại đức tin, giới, sự học, sự bố thí và tuệ của vị kia, rồi hướng tâm về mục đích ấy.

Này Anuruddha và các ông, như vậy cũng là một nữ cư sĩ sống an lạc.

Này Anuruddha và các ông, ở đây, một nữ cư sĩ nghe rằng:

"Nữ cư sĩ tên như vầy đã qua đời;

vị ấy đã được Đức Thế Tôn tuyên bố—

do đoạn tận ba kiết sử, vị ấy là bậc Dự lưu, không còn khả năng đọa vào ác xứ, nhất định hướng đến giác ngộ."

Và vị ấy hoặc đã tự mình thấy vị kia, hoặc đã nghe người khác kể lại rằng:

"vị ấy đã có giới như thế, có phẩm chất như thế, có tuệ như thế, có cách sống như thế, có giải thoát như thế."

Vị ấy nhớ lại đức tin, giới, sự học, sự bố thí và tuệ của vị kia, rồi hướng tâm về mục đích ấy.

Này Anuruddha và các ông, như vậy cũng là một nữ cư sĩ sống an lạc.

"Này Anuruddha và các ông, như vậy, Như Lai không vì muốn lừa dối người, không vì muốn nịnh bợ người, không vì lợi dưỡng, cung kính và danh tiếng, không vì nghĩ 'để mọi người biết đến Ta' mà tuyên bố về sự tái sinh của các đệ tử đã qua đời, đã mệnh chung:

'vị này tái sinh ở chỗ này, vị kia tái sinh ở chỗ kia.'

Nhưng này Anuruddha và các ông, có những thiện nam tử có lòng tin, có niềm vui lớn, có niềm hoan hỷ lớn.

Nghe được điều ấy, họ hướng tâm về mục đích ấy.

Này Anuruddha và các ông, điều ấy đem lại cho họ sự lợi ích và an lạc lâu dài."

Đức Thế Tôn đã nói như vậy.

Tôn giả Anuruddha hoan hỷ, tán thán lời Đức Thế Tôn dạy.

Kinh Naḷakapāna, bài thứ tám, đến đây hoàn tất.

[Chú thích của người dịch: Đây là dòng ghi của truyền bản, cho biết bài này đứng thứ tám trong nhóm bài kinh ấy, không phải số 68 của Trung Bộ Kinh.]

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →