Trung Bộ Kinh · bài 142/152
Kinh Phân Biệt Cúng Dường
Dakkhiṇāvibhaṅga Sutta — bài phân tích về sự cúng dường
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Phân Biệt Cúng Dường (Dakkhiṇāvibhaṅga Sutta) là bài kinh thứ 142 trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), bài cuối của phẩm Phân Biệt. Bài kinh mở đầu bằng một câu chuyện rất đời: bà Mahāpajāpati Gotamī, dì và cũng là mẹ nuôi của Đức Thế Tôn, tự tay kéo sợi, dệt một đôi y phục mới để dâng riêng cho Ngài.
Đức Thế Tôn không nhận riêng. Ngài bảo bà dâng cho Tăng đoàn, tức cộng đồng những người xuất gia tu hành, và giải thích rằng khi dâng cho Tăng đoàn thì cả Tăng đoàn lẫn Ngài đều được kính trọng. Bà thỉnh đến ba lần, Ngài vẫn khuyên dâng cho Tăng đoàn. Lúc ấy Tôn giả Ānanda lên tiếng: bà đã nuôi nấng Đức Thế Tôn từ khi Ngài còn nhỏ, đã cho Ngài bú khi mẹ đẻ của Ngài qua đời; và cũng nhờ Đức Thế Tôn mà bà biết quy y Tam bảo, giữ năm giới, có lòng tin vững chắc. Đức Thế Tôn xác nhận những ân ấy và nói một điều cốt lõi: ân đưa người khác đến chỗ quy y, đến chỗ giữ giới, đến chỗ hiểu rõ khổ và con đường diệt khổ, thì không thể đền đáp bằng cách đảnh lễ, cúng y phục, đồ ăn, chỗ ở hay thuốc men.
Phần giáo lý chính chia sự cúng dường làm hai loại. Loại thứ nhất hướng đến từng cá nhân, gồm mười bốn bậc, từ Như Lai, bậc Độc giác Phật, các bậc thánh đệ tử, cho đến người ngoại đạo đã ly tham, phàm phu giữ giới, phàm phu phá giới, và cuối cùng là một con vật. Với mỗi bậc, quả được mong đợi lớn dần: gấp trăm, gấp ngàn, gấp trăm ngàn, gấp một ngàn tỷ, rồi đến mức không thể đếm, không thể lường. Loại thứ hai hướng đến Tăng đoàn, gồm bảy cách, và Đức Thế Tôn khẳng định không có cách nào để một món bố thí riêng cho cá nhân lại có quả lớn hơn sự cúng dường dâng lên Tăng đoàn.
Bài kinh còn đưa ra bốn cách thanh tịnh của một lễ cúng dường, tùy theo người cho và người nhận có giữ giới hay không. Đoạn kệ cuối tóm lại thành bốn trường hợp: người có giới cho kẻ phá giới thì lễ ấy thanh tịnh nhờ người cho; người phá giới cho người có giới thì thanh tịnh nhờ người nhận; cả hai đều phá giới thì lễ ấy không có quả lớn; cả hai đều có giới thì quả rộng lớn; và khi người đã ly tham cho người đã ly tham thì đó là món bố thí vật chất đứng đầu.
Điều đáng suy nghĩ là bài kinh không chỉ nói về số lượng hay giá trị vật chất. Nó đặt câu hỏi về tâm người cho và phẩm chất người nhận, rồi mở rộng phạm vi đến mức khó ngờ: ngay cả một con vật cũng là đối tượng của lòng thương, và một món quà dù nhỏ cũng không mất đi ý nghĩa thiêng liêng. Câu chuyện về bà Mahāpajāpati ở đầu bài làm cho phần giáo lý ấy có một khuôn mặt cụ thể: một người mẹ nuôi muốn dâng tấm vải do chính mình dệt, và một vị thầy muốn đưa món quà ấy ra khỏi vòng quyến luyến gia đình để đặt vào nơi rộng lớn hơn.
Tôi nghe như vầy.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn đang trú trong xứ Sakka (Thích-ca), tại tịnh xá Nigrodhārāma (vườn cây đa) ở Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ).
Rồi Mahāpajāpati Gotamī (Ma-ha-ba-xà-ba-đề Cồ-đàm-di) cầm một đôi y phục mới đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến rồi, bà đảnh lễ Đức Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Mahāpajāpati Gotamī bạch Đức Thế Tôn:
[Chú thích: Mahāpajāpati là mẹ nuôi của Đức Thế Tôn, em gái của bà Māyā, mẹ đẻ của Ngài. Bà được truyền thống tôn là vị tỳ-kheo-ni đầu tiên và là người sáng lập Tăng đoàn tỳ-kheo-ni, đồng thời là vị trưởng thượng trong hàng tỳ-kheo-ni. Tuy thường được nhớ đến với tư cách mẹ của Ngài, chính những bài kệ của bà lại phá tan ý niệm làm mẹ ấy, kể rằng bà từng là mẹ, con trai, cha, anh trai và bà nội, nhưng nay đã vượt qua mọi trạng thái ấy.]
Bạch Thế Tôn, đôi y phục mới này con đã tự kéo sợi, tự dệt, chỉ để dâng riêng Đức Thế Tôn.
[Chú thích: Ở đây Mahāpajāpati chỉ dâng cúng cho riêng con trai mình, trong khi các chỗ khác nói lễ vật được dâng riêng cho Đức Thế Tôn và Tăng đoàn tỳ-kheo.]
Bạch Thế Tôn, xin Đức Thế Tôn nhận lấy đôi y phục ấy của con vì lòng thương tưởng.
Khi bà nói như vậy, Đức Thế Tôn dạy Mahāpajāpati Gotamī:
Này Gotamī, hãy dâng cúng cho Tăng đoàn.
Khi con dâng cúng cho Tăng đoàn, thì cả Ta lẫn Tăng đoàn đều được kính trọng.
[Chú thích: Đức Thế Tôn nhẹ nhàng tìm cách chuyển hướng sự quyến luyến gia đình của Mahāpajāpati.]
Lần thứ hai, Mahāpajāpati Gotamī bạch Đức Thế Tôn:
Bạch Thế Tôn, đôi y phục mới này con đã tự kéo sợi, tự dệt, chỉ để dâng riêng Đức Thế Tôn.
Bạch Thế Tôn, xin Đức Thế Tôn nhận lấy đôi y phục ấy của con vì lòng thương tưởng.
Lần thứ hai, Đức Thế Tôn dạy Mahāpajāpati Gotamī:
Này Gotamī, hãy dâng cúng cho Tăng đoàn.
Khi con dâng cúng cho Tăng đoàn, thì cả Ta lẫn Tăng đoàn đều được kính trọng.
Lần thứ ba, Mahāpajāpati Gotamī bạch Đức Thế Tôn:
Bạch Thế Tôn, đôi y phục mới này con đã tự kéo sợi, tự dệt, chỉ để dâng riêng Đức Thế Tôn.
Bạch Thế Tôn, xin Đức Thế Tôn nhận lấy đôi y phục ấy của con vì lòng thương tưởng.
Lần thứ ba, Đức Thế Tôn dạy Mahāpajāpati Gotamī:
Này Gotamī, hãy dâng cúng cho Tăng đoàn.
Khi con dâng cúng cho Tăng đoàn, thì cả Ta lẫn Tăng đoàn đều được kính trọng.
Khi Đức Thế Tôn nói như vậy, Tôn giả Ānanda (A-nan) bạch Đức Thế Tôn:
Bạch Thế Tôn, xin Đức Thế Tôn nhận đôi y phục mới của Mahāpajāpati Gotamī.
Bạch Thế Tôn, Mahāpajāpati Gotamī đã giúp ích nhiều cho Đức Thế Tôn: bà là dì của Ngài, là người nuôi nấng, dưỡng dục và cho Ngài bú sữa.
Khi mẹ đẻ của Đức Thế Tôn qua đời, bà đã cho Ngài bú sữa của mình.
Và bạch Thế Tôn, Đức Thế Tôn cũng đã giúp ích nhiều cho Mahāpajāpati Gotamī.
Bạch Thế Tôn, nhờ Đức Thế Tôn mà Mahāpajāpati Gotamī đã quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng.
Bạch Thế Tôn, nhờ Đức Thế Tôn mà Mahāpajāpati Gotamī đã từ bỏ sát sinh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói dối, từ bỏ rượu và các chất say là nhân của phóng dật.
Bạch Thế Tôn, nhờ Đức Thế Tôn mà Mahāpajāpati Gotamī có lòng tin trong sạch không lay chuyển nơi Phật, nơi Pháp, nơi Tăng, và có được những giới mà các bậc thánh yêu mến.
Bạch Thế Tôn, nhờ Đức Thế Tôn mà Mahāpajāpati Gotamī không còn nghi ngờ gì về khổ, về sự tập khởi của khổ, về sự diệt tận khổ, và về con đường dẫn đến sự diệt tận khổ.
[Chú thích: Đoạn này đọc lên thì Mahāpajāpati giống một nữ cư sĩ sống có giới, đã chứng quả Dự lưu. Nhưng một bản tương ứng gọi bà là tỳ-kheo-ni; và tuy bà được cho là vị tỳ-kheo-ni đầu tiên, phần sau của bài kinh này lại nói đến Tăng đoàn tỳ-kheo-ni.]
Và bạch Thế Tôn, Đức Thế Tôn cũng đã giúp ích nhiều cho Mahāpajāpati Gotamī.
Đúng như vậy, này Ānanda.
Này Ānanda, khi một người nhờ một người khác mà quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, thì này Ānanda, Ta nói rằng người này khó có thể đền đáp người kia, cụ thể là—
bằng cách đảnh lễ, đứng dậy đón, chắp tay chào, làm những việc lễ độ, hoặc bằng cách dâng y phục, đồ ăn khất thực, chỗ ở, thuốc men và các vật dụng chữa bệnh.
Này Ānanda, khi một người nhờ một người khác mà từ bỏ sát sinh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói dối, từ bỏ rượu và các chất say là nhân của phóng dật, thì này Ānanda, Ta nói rằng người này khó có thể đền đáp người kia, cụ thể là—
bằng cách đảnh lễ, đứng dậy đón, chắp tay chào, làm những việc lễ độ, hoặc bằng cách dâng y phục, đồ ăn khất thực, chỗ ở, thuốc men và các vật dụng chữa bệnh.
Này Ānanda, khi một người nhờ một người khác mà có lòng tin trong sạch không lay chuyển nơi Phật, có lòng tin trong sạch không lay chuyển nơi Pháp, có lòng tin trong sạch không lay chuyển nơi Tăng, và có được những giới mà các bậc thánh yêu mến, thì này Ānanda, Ta nói rằng người này khó có thể đền đáp người kia, cụ thể là—
bằng cách đảnh lễ, đứng dậy đón, chắp tay chào, làm những việc lễ độ, hoặc bằng cách dâng y phục, đồ ăn khất thực, chỗ ở, thuốc men và các vật dụng chữa bệnh.
Này Ānanda, khi một người nhờ một người khác mà không còn nghi ngờ gì về khổ, về sự tập khởi của khổ, về sự diệt tận khổ, và về con đường dẫn đến sự diệt tận khổ, thì này Ānanda, Ta nói rằng người này khó có thể đền đáp người kia, cụ thể là—
bằng cách đảnh lễ, đứng dậy đón, chắp tay chào, làm những việc lễ độ, hoặc bằng cách dâng y phục, đồ ăn khất thực, chỗ ở, thuốc men và các vật dụng chữa bệnh.
Này Ānanda, có mười bốn sự cúng dường cho từng cá nhân.
[Chú thích: Dakkhiṇā là từ trong truyền thống Phệ-đà, chỉ thù lao phải trả cho vị tế sư bà-la-môn khi làm lễ; ban đầu lễ vật ấy là bò dâng trong lễ rạng đông, về sau vàng và các vật quý cũng được dùng thay, và dâng lễ vật ấy được cho là giải trừ tội giết hại của người tế lễ. Trong truyền thống Pali, dakkhiṇā được liên hệ với món quà trao bằng tay phải, tức bàn tay có khả năng. Trong Snp 3.4, một bà-la-môn dâng bánh cơm còn lại sau lễ thiêu làm dakkhiṇā.]
Mười bốn là những gì?
Bố thí cho Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác—
Đây là sự cúng dường cho từng cá nhân thứ nhất.
Bố thí cho một bậc Độc giác Phật—
Đây là sự cúng dường cho từng cá nhân thứ hai.
Bố thí cho một vị A-la-hán là đệ tử của Như Lai—
Đây là sự cúng dường cho từng cá nhân thứ ba.
Bố thí cho một người đang thực hành để chứng quả A-la-hán—
Đây là sự cúng dường cho từng cá nhân thứ tư.
Bố thí cho một bậc Bất hoàn—
Đây là sự cúng dường cho từng cá nhân thứ năm.
Bố thí cho một người đang thực hành để chứng quả Bất hoàn—
Đây là sự cúng dường cho từng cá nhân thứ sáu.
Bố thí cho một bậc Nhất lai—
Đây là sự cúng dường cho từng cá nhân thứ bảy.
Bố thí cho một người đang thực hành để chứng quả Nhất lai—
Đây là sự cúng dường cho từng cá nhân thứ tám.
Bố thí cho một bậc Dự lưu—
Đây là sự cúng dường cho từng cá nhân thứ chín.
Bố thí cho một người đang thực hành để chứng quả Dự lưu—
Đây là sự cúng dường cho từng cá nhân thứ mười.
Bố thí cho một người ngoại đạo đã ly tham nơi các dục—
Đây là sự cúng dường cho từng cá nhân thứ mười một.
Bố thí cho một phàm phu giữ giới—
Đây là sự cúng dường cho từng cá nhân thứ mười hai.
Bố thí cho một phàm phu phá giới—
Đây là sự cúng dường cho từng cá nhân thứ mười ba.
Bố thí cho một con vật—
Đây là sự cúng dường cho từng cá nhân thứ mười bốn.
[Chú thích: Trong truyền thống Phệ-đà, dakkhiṇā chỉ dành cho các bà-la-môn, nhưng Đức Thế Tôn định nghĩa lại để gồm mọi người, kể cả người có hạnh xấu, và cả loài vật. Mọi chúng sinh đều đáng được thương, và lòng thương ấy luôn là một việc thiêng liêng.]
Này Ānanda, ở đây, sau khi bố thí cho một con vật, có thể mong đợi sự cúng dường ấy đem lại gấp trăm lần; sau khi bố thí cho một phàm phu phá giới, có thể mong đợi gấp ngàn lần; sau khi bố thí cho một phàm phu giữ giới, có thể mong đợi gấp trăm ngàn lần; sau khi bố thí cho một người ngoại đạo đã ly tham nơi các dục, có thể mong đợi gấp một ngàn tỷ lần; sau khi bố thí cho một người đang thực hành để chứng quả Dự lưu, có thể mong đợi quả không thể đếm, không thể lường. Huống chi là bố thí cho một bậc Dự lưu, huống chi là cho một người đang thực hành để chứng quả Nhất lai, huống chi là cho một bậc Nhất lai, huống chi là cho một người đang thực hành để chứng quả Bất hoàn, huống chi là cho một bậc Bất hoàn, huống chi là cho một người đang thực hành để chứng quả A-la-hán, huống chi là cho một bậc A-la-hán, huống chi là cho một bậc Độc giác Phật, huống chi là cho Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác.
[Chú thích: Ý niệm về một thang bậc nhân lên như vậy đã có từ trước trong Bṛhadāraṇyaka Upaniṣad 4.3.33, chỗ nói về niềm vui tăng bội trong cõi người và cõi trời.]
Này Ānanda, lại có bảy sự cúng dường dâng lên Tăng đoàn.
Bảy là những gì?
Bố thí cho cả hai Tăng đoàn tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni, với Đức Thế Tôn đứng đầu—
Đây là sự cúng dường dâng lên Tăng đoàn thứ nhất.
Bố thí cho cả hai Tăng đoàn tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni sau khi Như Lai đã nhập Niết-bàn—
[Chú thích: Sau khi Đức Thế Tôn nhập diệt, một giáo pháp còn đầy đủ thì có cả tỳ-kheo lẫn tỳ-kheo-ni.]
Đây là sự cúng dường dâng lên Tăng đoàn thứ hai.
Bố thí cho Tăng đoàn tỳ-kheo—
Đây là sự cúng dường dâng lên Tăng đoàn thứ ba.
Bố thí cho Tăng đoàn tỳ-kheo-ni—
[Chú thích: Nếu lúc này Mahāpajāpati vẫn còn là cư sĩ, thì việc nhắc đến Tăng đoàn tỳ-kheo-ni ở đây có thể hiểu theo hai cách. Một là bà không phải vị tỳ-kheo-ni đầu tiên: những đoạn nói bà là người đầu tiên tuy được truyền thống lưu truyền rộng rãi nhưng có nhiều vấn đề văn bản cho thấy chúng được thêm vào khá muộn, và Therīgāthā, tập kệ của các tỳ-kheo-ni, không có vị ni nào nhắc bà là thầy hay người sáng lập. Hai là Đức Thế Tôn đã biết từ đầu sẽ lập Tăng đoàn tỳ-kheo-ni nên mới nhắc đến; dù thế nào, lời khen Tăng đoàn tỳ-kheo-ni ở đây cũng là một sự khích lệ, cân lại lời khiển trách nhẹ ở đầu bài.]
Đây là sự cúng dường dâng lên Tăng đoàn thứ tư.
Bố thí với ý nghĩ: "Xin chỉ định cho tôi chừng ấy tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni từ Tăng đoàn"—
Đây là sự cúng dường dâng lên Tăng đoàn thứ năm.
Bố thí với ý nghĩ: "Xin chỉ định cho tôi chừng ấy tỳ-kheo từ Tăng đoàn"—
Đây là sự cúng dường dâng lên Tăng đoàn thứ sáu.
Bố thí với ý nghĩ: "Xin chỉ định cho tôi chừng ấy tỳ-kheo-ni từ Tăng đoàn"—
Đây là sự cúng dường dâng lên Tăng đoàn thứ bảy.
Này Ānanda, trong thời gian sắp tới sẽ có những kẻ thuộc dòng dõi, chỉ quàng tấm vải màu vàng nơi cổ, phá giới, có phẩm hạnh xấu.
[Chú thích: Trong Pali sơ kỳ, gotrabhū luôn dùng để chỉ hạng thấp nhất trong những người xứng đáng nhận lễ vật, nên chỗ dùng theo nghĩa xấu ở đây là một ngoại lệ. Truyền thống Phật giáo về sau hiểu gotrabhū là người mới nhập vào dòng dõi, bước đầu tiên trên đường giác ngộ, nhưng trong văn bản sơ kỳ, từ ấy có lẽ không mang nghĩa này; rất có thể -bhū bắt nguồn từ bhūna, nghĩa là đứa bé hay bào thai, nên gotrabhū là những con non trong bầy. Còn kāsāvakaṇṭha, tấm vải vàng quàng nơi cổ, được bàn riêng trong chú thích ở Iti 48:4.1.]
Người ta sẽ bố thí cho những kẻ phá giới ấy, nhân danh Tăng đoàn.
Này Ānanda, ngay cả khi ấy, Ta cũng nói rằng sự cúng dường dâng lên Tăng đoàn là không thể đếm, không thể lường.
[Chú thích: Câu này có vẻ không ăn khớp với đoạn dưới, nơi nói lễ vật được thanh tịnh nhờ người nhận. Câu này không có trong hầu hết các bản tương ứng, nên có lẽ được thêm vào sau; nhưng nếu đứng nguyên văn thì có thể lý giải rằng vì lễ vật dâng cho cả cộng đồng, nên phước không bị hư hoại chỉ vì người nhận cụ thể là kẻ xấu.]
Nhưng này Ānanda, dù theo cách nào, Ta cũng không nói rằng một sự bố thí cho cá nhân lại có quả lớn hơn sự cúng dường dâng lên Tăng đoàn.
Này Ānanda, có bốn cách làm cho sự cúng dường được thanh tịnh.
[Chú thích: Đoạn này cũng có trong AN 4.78 và được gom vào DN 33:1.11.185.]
Bốn là những gì?
Này Ānanda, có sự cúng dường được thanh tịnh nhờ người cho, không phải nhờ người nhận.
Này Ānanda, có sự cúng dường được thanh tịnh nhờ người nhận, không phải nhờ người cho.
Này Ānanda, có sự cúng dường không được thanh tịnh nhờ người cho, cũng không nhờ người nhận.
Này Ānanda, có sự cúng dường được thanh tịnh cả nhờ người cho lẫn nhờ người nhận.
Này Ānanda, thế nào là sự cúng dường được thanh tịnh nhờ người cho, không phải nhờ người nhận?
Này Ānanda, ở đây, người cho có giới, có phẩm hạnh tốt, còn những người nhận thì phá giới, có phẩm hạnh xấu—
Này Ānanda, như vậy là sự cúng dường được thanh tịnh nhờ người cho, không phải nhờ người nhận.
Này Ānanda, thế nào là sự cúng dường được thanh tịnh nhờ người nhận, không phải nhờ người cho?
Này Ānanda, ở đây, người cho phá giới, có phẩm hạnh xấu, còn những người nhận thì có giới, có phẩm hạnh tốt—
Này Ānanda, như vậy là sự cúng dường được thanh tịnh nhờ người nhận, không phải nhờ người cho.
Này Ānanda, thế nào là sự cúng dường không được thanh tịnh nhờ người cho, cũng không nhờ người nhận?
Này Ānanda, ở đây, người cho phá giới, có phẩm hạnh xấu, và những người nhận cũng phá giới, có phẩm hạnh xấu—
Này Ānanda, như vậy là sự cúng dường không được thanh tịnh nhờ người cho, cũng không nhờ người nhận.
Này Ānanda, thế nào là sự cúng dường được thanh tịnh cả nhờ người cho lẫn nhờ người nhận?
Này Ānanda, ở đây, người cho có giới, có phẩm hạnh tốt, và những người nhận cũng có giới, có phẩm hạnh tốt—
Này Ānanda, như vậy là sự cúng dường được thanh tịnh cả nhờ người cho lẫn nhờ người nhận.
Này Ānanda, đó là bốn cách làm cho sự cúng dường được thanh tịnh.
Đức Thế Tôn nói như vậy.
Nói xong, bậc Thiện thệ, bậc Đạo sư, lại dạy tiếp:
[Chú thích: Một bản tương ứng kết thúc bài kinh trọn vẹn hơn: bản ấy bỏ các bài kệ này và thay vào đó là cảnh Mahāpajāpati dâng y phục cho Tăng đoàn.]
Người có giới bố thí cho kẻ phá giới,
với tâm rất trong sáng, vật có được một cách đúng pháp;
tin tưởng vào quả lớn lao của nghiệp,
sự cúng dường ấy được thanh tịnh nhờ người cho.
Người phá giới bố thí cho người có giới,
với tâm không trong sáng, vật có được bằng cách không đúng pháp;
không tin vào quả lớn lao của nghiệp,
sự cúng dường ấy được thanh tịnh nhờ người nhận.
Người phá giới bố thí cho kẻ phá giới,
với tâm không trong sáng, vật có được bằng cách không đúng pháp;
không tin vào quả lớn lao của nghiệp,
Ta nói rằng sự bố thí ấy không có quả rộng lớn.
Người có giới bố thí cho người có giới,
với tâm rất trong sáng, vật có được một cách đúng pháp;
tin tưởng vào quả lớn lao của nghiệp,
Ta nói rằng sự bố thí ấy thật có quả rộng lớn.
Người đã ly tham bố thí cho người đã ly tham,
với tâm rất trong sáng, vật có được một cách đúng pháp;
tin tưởng vào quả lớn lao của nghiệp,
Ta nói rằng sự bố thí ấy đứng đầu trong các món bố thí vật chất.
Kinh Phân Biệt Cúng Dường, bài thứ mười hai, đến đây là hết.
Phẩm Phân Biệt, phẩm thứ tư, đến đây là hết.
Tóm tắt phẩm
Bhaddekaratta, Ānanda, Kaccāna,
Lomasakaṅgiya và Subha;
Mahākammavibhaṅga và Saḷāyatanavibhaṅga,
Uddesa, Araṇā, Dhātu, Sacca;
và bài Kinh Phân Biệt Cúng Dường.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.