buppou

Trung Bộ Kinh · bài 137/152

Kinh Phân Biệt Sáu Xứ

Saḷāyatanavibhaṅga Sutta — bài phân tích sáu xứ, tức sáu giác quan và sáu loại đối tượng của chúng

30 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Phân Biệt Sáu Xứ (Saḷāyatanavibhaṅga Sutta) là bài kinh thứ 137 trong Trung Bộ Kinh, bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng Pali. Đức Thế Tôn giảng bài này tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), trước các tỳ-kheo. Nhan đề nghe có vẻ khô khan, nhưng nội dung rất gần với đời sống thường ngày: mỗi người tiếp xúc với thế giới qua sáu cửa — mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Bài kinh gọi đó là sáu xứ.

Đức Thế Tôn mở đầu bằng một bản tóm tắt ngắn, rồi lần lượt mổ xẻ từng mục: sáu xứ bên trong, sáu xứ bên ngoài, sáu nhóm thức, sáu nhóm xúc, mười tám sự hướng tâm, ba mươi sáu trạng thái của chúng sinh. Các con số nghe nhiều, nhưng tất cả đều quy về một việc: khi một giác quan gặp đối tượng của nó, tâm phản ứng thế nào.

Phần cốt lõi phân biệt hai loại phản ứng. Một niềm vui "gắn với đời sống tại gia" sinh ra khi ta có được thứ mình muốn, hoặc nhớ lại thứ mình từng có. Một niềm vui khác sinh ra khi ta thấy rõ mọi thứ mình thích đều vô thường, đang biến đổi và sẽ chấm dứt. Cái sau không làm ta bám víu, nên nó có thể thay thế cái trước. Bài kinh gọi đó là "nương vào cái này, từ bỏ cái kia": dùng cái tinh tế hơn để buông cái thô hơn, rồi lại dùng cái tinh tế hơn nữa để buông cái vừa được dùng.

Cùng một cách, nỗi buồn và sự bình thản cũng có hai tầng. Ngay cả nỗi buồn "gắn với sự xuất ly" — nỗi mong mỏi được tự do như các bậc Thánh — cũng là một cảm giác còn phải vượt qua. Cuối cùng, ngay cả sự bình thản đồng nhất của các tầng thiền định cao cũng được thay bằng một thái độ không còn đồng nhất mình với bất cứ thứ gì.

Nửa sau bài kinh chuyển sang hình ảnh người thầy. Ba trường hợp được nêu: học trò không nghe, nghe một nửa, nghe hết. Trong cả ba, vị thầy đều an trú chánh niệm, tỉnh giác và tâm không bị ô nhiễm — học trò không nghe thì không bực bội, nghe một nửa thì không vui cũng không buồn, nghe hết thì vui mà vẫn tỉnh giác. Rồi Đức Thế Tôn so sánh: người dạy voi, dạy ngựa, dạy bò chỉ dẫn con vật chạy về một hướng; còn Ngài dẫn người đi theo tám hướng — tám tầng giải thoát, từ cái thấy các sắc cho đến sự chấm dứt tưởng và cảm thọ.

Với người mới đọc kinh, bài này có thể đọc như một tấm bản đồ của tâm: ở đâu mình cũng có thể dừng lại, nhìn xem cái gì đang sinh khởi, và buông cái thô để đi tới cái tế hơn. Không cần thuộc thuật ngữ nào; chỉ cần theo dõi một câu hỏi rất đời — khi tai nghe, mắt thấy, ý nghĩ, mình đang vui, đang buồn, hay đang lặng yên?


Tôi nghe như vầy.

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).

Tại đó, Đức Thế Tôn gọi các tỳ-kheo:

"Này các tỳ-kheo!"

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ-kheo đáp lời Đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn nói như vầy:

"Này các tỳ-kheo, Ta sẽ dạy các ông bài phân tích sáu xứ.

[Chú thích: Ở đây và ở MN 139:2.1, Đức Thế Tôn chỉ nói sẽ dạy phần phân tích, nhưng rồi lại trình bày luôn phần tóm tắt. So với MN 133:6.2 và MN 138:4.2 thì khác.]

Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói."

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ-kheo ấy đáp lời Đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn nói như vầy:

"Sáu nội xứ cần được hiểu. Sáu ngoại xứ cần được hiểu. Sáu nhóm thức cần được hiểu. Sáu nhóm xúc cần được hiểu. Mười tám sự hướng tâm cần được hiểu. Ba mươi sáu trạng thái của chúng sinh cần được hiểu. Ở đó, nương vào cái này, các ông hãy từ bỏ cái kia. Ba niệm xứ mà bậc Thánh tu tập; nhờ tu tập ba niệm xứ ấy, vị ấy xứng đáng là bậc Đạo sư hướng dẫn một hội chúng. Trong các bậc thầy dạy tu tập, Ngài được gọi là bậc tối thượng dẫn dắt những người cần được điều ngự."

Đây là phần tóm tắt của bài phân tích sáu xứ.

"Sáu nội xứ cần được hiểu."

Đó là điều Ta đã nói. Nhưng vì lý do gì Ta nói điều ấy?

Đó là xứ của mắt, xứ của tai, xứ của mũi, xứ của lưỡi, xứ của thân và xứ của ý.

"Sáu nội xứ cần được hiểu."

Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do Ta nói điều ấy.

"Sáu ngoại xứ cần được hiểu."

Đó là điều Ta đã nói. Nhưng vì lý do gì Ta nói điều ấy?

Đó là xứ của sắc, xứ của âm thanh, xứ của mùi, xứ của vị, xứ của xúc và xứ của pháp.

"Sáu ngoại xứ cần được hiểu."

Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do Ta nói điều ấy.

"Sáu nhóm thức cần được hiểu."

Đó là điều Ta đã nói. Nhưng vì lý do gì Ta nói điều ấy?

Đó là thức của mắt, thức của tai, thức của mũi, thức của lưỡi, thức của thân và thức của ý.

"Sáu nhóm thức cần được hiểu."

Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do Ta nói điều ấy.

"Sáu nhóm xúc cần được hiểu."

Đó là điều Ta đã nói. Nhưng vì lý do gì Ta nói điều ấy?

Đó là xúc chạm qua mắt, xúc chạm qua tai, xúc chạm qua mũi, xúc chạm qua lưỡi, xúc chạm qua thân và xúc chạm qua ý.

"Sáu nhóm xúc cần được hiểu."

Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do Ta nói điều ấy.

"Mười tám sự hướng tâm cần được hiểu."

[Chú thích: Mười tám sự hướng tâm này cũng xuất hiện ở MN 140:10.1, SN 36.22:2.15 và AN 3.61:12.1. Ngoài ngữ cảnh ấy, từ upavicāra chỉ còn thấy ở AN 6.52, nơi người nữ được nói là "chăm chú" vào đồ trang sức và kẻ trộm "chăm chú" vào chỗ ẩn nấp.]

Đó là điều Ta đã nói. Nhưng vì lý do gì Ta nói điều ấy?

Khi thấy sắc bằng mắt, người ấy hướng tâm tới những sắc làm cơ sở cho hỷ, hướng tâm tới những sắc làm cơ sở cho ưu, hướng tâm tới những sắc làm cơ sở cho xả.

Khi nghe âm thanh bằng tai, người ấy hướng tâm tới những âm thanh làm cơ sở cho hỷ, hướng tâm tới những âm thanh làm cơ sở cho ưu, hướng tâm tới những âm thanh làm cơ sở cho xả.

Khi ngửi mùi bằng mũi, người ấy hướng tâm tới những mùi làm cơ sở cho hỷ, hướng tâm tới những mùi làm cơ sở cho ưu, hướng tâm tới những mùi làm cơ sở cho xả.

Khi nếm vị bằng lưỡi, người ấy hướng tâm tới những vị làm cơ sở cho hỷ, hướng tâm tới những vị làm cơ sở cho ưu, hướng tâm tới những vị làm cơ sở cho xả.

Khi chạm vào xúc bằng thân, người ấy hướng tâm tới những xúc làm cơ sở cho hỷ, hướng tâm tới những xúc làm cơ sở cho ưu, hướng tâm tới những xúc làm cơ sở cho xả.

Khi biết pháp bằng ý, người ấy hướng tâm tới những pháp làm cơ sở cho hỷ, hướng tâm tới những pháp làm cơ sở cho ưu, hướng tâm tới những pháp làm cơ sở cho xả.

Như vậy có sáu sự hướng tâm tới hỷ, sáu sự hướng tâm tới ưu, sáu sự hướng tâm tới xả. "Mười tám sự hướng tâm cần được hiểu."

Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do Ta nói điều ấy.

"Ba mươi sáu trạng thái của chúng sinh cần được hiểu."

Đó là điều Ta đã nói. Nhưng vì lý do gì Ta nói điều ấy?

Sáu hỷ gắn với đời sống tại gia, sáu hỷ gắn với sự xuất ly; sáu ưu gắn với đời sống tại gia, sáu ưu gắn với sự xuất ly; sáu xả gắn với đời sống tại gia, sáu xả gắn với sự xuất ly.

[Chú thích của người dịch: hỷ là cảm giác vui, ưu là cảm giác buồn, xả là cảm giác trung tính. Hỷ, ưu, xả gắn với đời sống tại gia nương vào những dục lạc của giác quan; còn gắn với sự xuất ly thì nương vào sự hiểu biết vô thường và sự rời bỏ dục.]

Ở đây, sáu hỷ gắn với đời sống tại gia là những gì?

Có những sắc được nhận biết bằng mắt — đáng ưa, đáng muốn, dễ chịu, đẹp lòng, gắn với dục lạc thế gian. Khi xem việc có được những sắc ấy là một mối lợi, hoặc khi nhớ lại những sắc mình từng có được, nay đã qua, đã diệt, đã biến đổi, thì hỷ sinh khởi.

Hỷ như vậy được gọi là hỷ gắn với đời sống tại gia.

Có những âm thanh được nhận biết bằng tai — đáng ưa, đáng muốn, dễ chịu, đẹp lòng, gắn với dục lạc thế gian. Khi xem việc có được những âm thanh ấy là một mối lợi, hoặc khi nhớ lại những âm thanh mình từng có được, nay đã qua, đã diệt, đã biến đổi, thì hỷ sinh khởi.

Có những mùi được nhận biết bằng mũi — đáng ưa, đáng muốn, dễ chịu, đẹp lòng, gắn với dục lạc thế gian. Khi xem việc có được những mùi ấy là một mối lợi, hoặc khi nhớ lại những mùi mình từng có được, nay đã qua, đã diệt, đã biến đổi, thì hỷ sinh khởi.


Có những vị được nhận biết bằng lưỡi — đáng ưa, đáng muốn, dễ chịu, đẹp lòng, gắn với dục lạc thế gian. Khi xem việc có được những vị ấy là một mối lợi, hoặc khi nhớ lại những vị mình từng có được, nay đã qua, đã diệt, đã biến đổi, thì hỷ sinh khởi.

Có những xúc được nhận biết bằng thân — đáng ưa, đáng muốn, dễ chịu, đẹp lòng, gắn với dục lạc thế gian. Khi xem việc có được những xúc ấy là một mối lợi, hoặc khi nhớ lại những xúc mình từng có được, nay đã qua, đã diệt, đã biến đổi, thì hỷ sinh khởi.

Có những pháp được nhận biết bằng ý — đáng ưa, đáng muốn, dễ chịu, đẹp lòng, gắn với dục lạc thế gian. Khi xem việc có được những pháp ấy là một mối lợi, hoặc khi nhớ lại những pháp mình từng có được, nay đã qua, đã diệt, đã biến đổi, thì hỷ sinh khởi.

Hỷ như vậy được gọi là hỷ gắn với đời sống tại gia.

Đó là sáu hỷ gắn với đời sống tại gia.

Ở đây, sáu hỷ gắn với sự xuất ly là những gì?

Khi đã biết tính vô thường của các sắc — sự biến đổi, sự phai nhạt, sự chấm dứt của chúng — và với tuệ chân chánh thấy đúng như thật rằng: "Trước kia cũng vậy, nay cũng vậy, tất cả các sắc ấy đều vô thường, là khổ, là pháp biến đổi", thì hỷ sinh khởi.

Hỷ như vậy được gọi là hỷ gắn với sự xuất ly.

Khi đã biết tính vô thường của các âm thanh — sự biến đổi, sự phai nhạt, sự chấm dứt của chúng — và với tuệ chân chánh thấy đúng như thật rằng: "Trước kia cũng vậy, nay cũng vậy, tất cả các âm thanh ấy đều vô thường, là khổ, là pháp biến đổi", thì hỷ sinh khởi.

Khi đã biết tính vô thường của các mùi — sự biến đổi, sự phai nhạt, sự chấm dứt của chúng — và với tuệ chân chánh thấy đúng như thật rằng: "Trước kia cũng vậy, nay cũng vậy, tất cả các mùi ấy đều vô thường, là khổ, là pháp biến đổi", thì hỷ sinh khởi.

Khi đã biết tính vô thường của các vị — sự biến đổi, sự phai nhạt, sự chấm dứt của chúng — và với tuệ chân chánh thấy đúng như thật rằng: "Trước kia cũng vậy, nay cũng vậy, tất cả các vị ấy đều vô thường, là khổ, là pháp biến đổi", thì hỷ sinh khởi.

Khi đã biết tính vô thường của các xúc — sự biến đổi, sự phai nhạt, sự chấm dứt của chúng — và với tuệ chân chánh thấy đúng như thật rằng: "Trước kia cũng vậy, nay cũng vậy, tất cả các xúc ấy đều vô thường, là khổ, là pháp biến đổi", thì hỷ sinh khởi.

Khi đã biết tính vô thường của các pháp — sự biến đổi, sự phai nhạt, sự chấm dứt của chúng — và với tuệ chân chánh thấy đúng như thật rằng: "Trước kia cũng vậy, nay cũng vậy, tất cả các pháp ấy đều vô thường, là khổ, là pháp biến đổi", thì hỷ sinh khởi.

Hỷ như vậy được gọi là hỷ gắn với sự xuất ly.

Đó là sáu hỷ gắn với sự xuất ly.

Ở đây, sáu ưu gắn với đời sống tại gia là những gì?

Có những sắc được nhận biết bằng mắt — đáng ưa, đáng muốn, dễ chịu, đẹp lòng, gắn với dục lạc thế gian.

Khi xem việc không có được những sắc ấy là một sự mất mát, hoặc khi nhớ lại những sắc mình từng không có được, nay đã qua, đã diệt, đã biến đổi, thì ưu sinh khởi.

Có những âm thanh được nhận biết bằng tai — đáng ưa, đáng muốn, dễ chịu, đẹp lòng, gắn với dục lạc thế gian. Khi xem việc không có được những âm thanh ấy là một sự mất mát, hoặc khi nhớ lại những âm thanh mình từng không có được, nay đã qua, đã diệt, đã biến đổi, thì ưu sinh khởi.

Có những mùi được nhận biết bằng mũi — đáng ưa, đáng muốn, dễ chịu, đẹp lòng, gắn với dục lạc thế gian. Khi xem việc không có được những mùi ấy là một sự mất mát, hoặc khi nhớ lại những mùi mình từng không có được, nay đã qua, đã diệt, đã biến đổi, thì ưu sinh khởi.

Có những vị được nhận biết bằng lưỡi — đáng ưa, đáng muốn, dễ chịu, đẹp lòng, gắn với dục lạc thế gian. Khi xem việc không có được những vị ấy là một sự mất mát, hoặc khi nhớ lại những vị mình từng không có được, nay đã qua, đã diệt, đã biến đổi, thì ưu sinh khởi.

Có những xúc được nhận biết bằng thân — đáng ưa, đáng muốn, dễ chịu, đẹp lòng, gắn với dục lạc thế gian. Khi xem việc không có được những xúc ấy là một sự mất mát, hoặc khi nhớ lại những xúc mình từng không có được, nay đã qua, đã diệt, đã biến đổi, thì ưu sinh khởi.

Có những pháp được nhận biết bằng ý — đáng ưa, đáng muốn, dễ chịu, đẹp lòng, gắn với dục lạc thế gian. Khi xem việc không có được những pháp ấy là một sự mất mát, hoặc khi nhớ lại những pháp mình từng không có được, nay đã qua, đã diệt, đã biến đổi, thì ưu sinh khởi.

Ưu như vậy được gọi là ưu gắn với đời sống tại gia.

Đó là sáu ưu gắn với đời sống tại gia.

Ở đây, sáu ưu gắn với sự xuất ly là những gì?

Khi đã biết tính vô thường của các sắc — sự biến đổi, sự phai nhạt, sự chấm dứt của chúng — và với tuệ chân chánh thấy đúng như thật rằng: "Trước kia cũng vậy, nay cũng vậy, tất cả các sắc ấy đều vô thường, là khổ, là pháp biến đổi", thì vị ấy khơi lên sự mong mỏi đối với những giải thoát tối thượng:

"Bao giờ ta mới chứng đạt và an trú vào xứ mà các bậc Thánh hôm nay đang chứng đạt và an trú?" Khi khơi lên sự mong mỏi đối với những giải thoát tối thượng như vậy, ưu sinh khởi do duyên sự mong mỏi.

[Chú thích: Xem chú thích ở MN 44:28.6.]

Ưu như vậy được gọi là ưu gắn với sự xuất ly.

Khi đã biết tính vô thường của các âm thanh — sự biến đổi, sự phai nhạt, sự chấm dứt của chúng — và với tuệ chân chánh thấy đúng như thật rằng: "Trước kia cũng vậy, nay cũng vậy, tất cả các âm thanh ấy đều vô thường, là khổ, là pháp biến đổi", thì vị ấy khơi lên sự mong mỏi đối với những giải thoát tối thượng: "Bao giờ ta mới chứng đạt và an trú vào xứ mà các bậc Thánh hôm nay đang chứng đạt và an trú?" Khi khơi lên sự mong mỏi đối với những giải thoát tối thượng như vậy, ưu sinh khởi do duyên sự mong mỏi.

Khi đã biết tính vô thường của các mùi — sự biến đổi, sự phai nhạt, sự chấm dứt của chúng — và với tuệ chân chánh thấy đúng như thật rằng: "Trước kia cũng vậy, nay cũng vậy, tất cả các mùi ấy đều vô thường, là khổ, là pháp biến đổi", thì vị ấy khơi lên sự mong mỏi đối với những giải thoát tối thượng: "Bao giờ ta mới chứng đạt và an trú vào xứ mà các bậc Thánh hôm nay đang chứng đạt và an trú?" Khi khơi lên sự mong mỏi đối với những giải thoát tối thượng như vậy, ưu sinh khởi do duyên sự mong mỏi.

Khi đã biết tính vô thường của các vị — sự biến đổi, sự phai nhạt, sự chấm dứt của chúng — và với tuệ chân chánh thấy đúng như thật rằng: "Trước kia cũng vậy, nay cũng vậy, tất cả các vị ấy đều vô thường, là khổ, là pháp biến đổi", thì vị ấy khơi lên sự mong mỏi đối với những giải thoát tối thượng: "Bao giờ ta mới chứng đạt và an trú vào xứ mà các bậc Thánh hôm nay đang chứng đạt và an trú?" Khi khơi lên sự mong mỏi đối với những giải thoát tối thượng như vậy, ưu sinh khởi do duyên sự mong mỏi.

Khi đã biết tính vô thường của các xúc — sự biến đổi, sự phai nhạt, sự chấm dứt của chúng — và với tuệ chân chánh thấy đúng như thật rằng: "Trước kia cũng vậy, nay cũng vậy, tất cả các xúc ấy đều vô thường, là khổ, là pháp biến đổi", thì vị ấy khơi lên sự mong mỏi đối với những giải thoát tối thượng: "Bao giờ ta mới chứng đạt và an trú vào xứ mà các bậc Thánh hôm nay đang chứng đạt và an trú?" Khi khơi lên sự mong mỏi đối với những giải thoát tối thượng như vậy, ưu sinh khởi do duyên sự mong mỏi.

Khi đã biết tính vô thường của các pháp — sự biến đổi, sự phai nhạt, sự chấm dứt của chúng — và với tuệ chân chánh thấy đúng như thật rằng: "Trước kia cũng vậy, nay cũng vậy, tất cả các pháp ấy đều vô thường, là khổ, là pháp biến đổi", thì vị ấy khơi lên sự mong mỏi đối với những giải thoát tối thượng:

"Bao giờ ta mới chứng đạt và an trú vào xứ mà các bậc Thánh hôm nay đang chứng đạt và an trú?" Khi khơi lên sự mong mỏi đối với những giải thoát tối thượng như vậy, ưu sinh khởi do duyên sự mong mỏi.

Ưu như vậy được gọi là ưu gắn với sự xuất ly.

Đó là sáu ưu gắn với sự xuất ly.

Ở đây, sáu xả gắn với đời sống tại gia là những gì?

Khi thấy sắc bằng mắt, xả sinh khởi nơi kẻ ngu si, mê muội, phàm phu, chưa vượt qua giới hạn, chưa vượt qua quả báo, không thấy sự nguy hại — kẻ phàm phu chưa nghe Pháp.

Xả như vậy không vượt qua sắc ấy.

Vì thế, xả ấy được gọi là "gắn với đời sống tại gia".

Khi nghe âm thanh bằng tai, xả sinh khởi nơi kẻ ngu si, mê muội, phàm phu, chưa vượt qua giới hạn, chưa vượt qua quả báo, không thấy sự nguy hại — kẻ phàm phu chưa nghe Pháp.

Khi ngửi mùi bằng mũi, xả sinh khởi nơi kẻ ngu si, mê muội, phàm phu, chưa vượt qua giới hạn, chưa vượt qua quả báo, không thấy sự nguy hại — kẻ phàm phu chưa nghe Pháp.

Khi nếm vị bằng lưỡi, xả sinh khởi nơi kẻ ngu si, mê muội, phàm phu, chưa vượt qua giới hạn, chưa vượt qua quả báo, không thấy sự nguy hại — kẻ phàm phu chưa nghe Pháp.

Khi chạm vào xúc bằng thân, xả sinh khởi nơi kẻ ngu si, mê muội, phàm phu, chưa vượt qua giới hạn, chưa vượt qua quả báo, không thấy sự nguy hại — kẻ phàm phu chưa nghe Pháp.

Khi biết pháp bằng ý, xả sinh khởi nơi kẻ ngu si, mê muội, phàm phu, chưa vượt qua giới hạn, chưa vượt qua quả báo, không thấy sự nguy hại — kẻ phàm phu chưa nghe Pháp.

Xả như vậy không vượt qua pháp ấy.

Vì thế, xả ấy được gọi là "gắn với đời sống tại gia".

Đó là sáu xả gắn với đời sống tại gia.

Ở đây, sáu xả gắn với sự xuất ly là những gì?


Khi đã biết tính vô thường của các sắc — sự biến đổi, sự phai nhạt, sự chấm dứt của chúng — và với tuệ chân chánh thấy đúng như thật rằng: "Trước kia cũng vậy, nay cũng vậy, tất cả các sắc ấy đều vô thường, là khổ, là pháp biến đổi", thì xả sinh khởi.

Xả như vậy vượt qua sắc ấy.

Vì thế, xả ấy được gọi là "gắn với sự xuất ly".

Khi đã biết tính vô thường của các âm thanh — sự biến đổi, sự phai nhạt, sự chấm dứt của chúng — và với tuệ chân chánh thấy đúng như thật rằng: "Trước kia cũng vậy, nay cũng vậy, tất cả các âm thanh ấy đều vô thường, là khổ, là pháp biến đổi", thì xả sinh khởi.

Khi đã biết tính vô thường của các mùi — sự biến đổi, sự phai nhạt, sự chấm dứt của chúng — và với tuệ chân chánh thấy đúng như thật rằng: "Trước kia cũng vậy, nay cũng vậy, tất cả các mùi ấy đều vô thường, là khổ, là pháp biến đổi", thì xả sinh khởi.

Khi đã biết tính vô thường của các vị — sự biến đổi, sự phai nhạt, sự chấm dứt của chúng — và với tuệ chân chánh thấy đúng như thật rằng: "Trước kia cũng vậy, nay cũng vậy, tất cả các vị ấy đều vô thường, là khổ, là pháp biến đổi", thì xả sinh khởi.

Khi đã biết tính vô thường của các xúc — sự biến đổi, sự phai nhạt, sự chấm dứt của chúng — và với tuệ chân chánh thấy đúng như thật rằng: "Trước kia cũng vậy, nay cũng vậy, tất cả các xúc ấy đều vô thường, là khổ, là pháp biến đổi", thì xả sinh khởi.

Khi đã biết tính vô thường của các pháp — sự biến đổi, sự phai nhạt, sự chấm dứt của chúng — và với tuệ chân chánh thấy đúng như thật rằng: "Trước kia cũng vậy, nay cũng vậy, tất cả các pháp ấy đều vô thường, là khổ, là pháp biến đổi", thì xả sinh khởi.

Xả như vậy vượt qua pháp ấy.

Vì thế, xả ấy được gọi là "gắn với sự xuất ly".

Đó là sáu xả gắn với sự xuất ly.

"Ba mươi sáu trạng thái của chúng sinh cần được hiểu."

Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do Ta nói điều ấy.

"Ở đó, nương vào cái này, các ông hãy từ bỏ cái kia."

Đó là điều Ta đã nói. Nhưng vì lý do gì Ta nói điều ấy?

Ở đó, này các tỳ-kheo, nương vào sáu hỷ gắn với sự xuất ly, lấy đó làm chỗ dựa, các ông hãy từ bỏ sáu hỷ gắn với đời sống tại gia, hãy vượt qua chúng.

Đó là cách chúng được từ bỏ, đó là cách chúng được vượt qua.

Ở đó, này các tỳ-kheo, nương vào sáu ưu gắn với sự xuất ly, lấy đó làm chỗ dựa, các ông hãy từ bỏ sáu ưu gắn với đời sống tại gia, hãy vượt qua chúng.

Đó là cách chúng được từ bỏ, đó là cách chúng được vượt qua.

Ở đó, này các tỳ-kheo, nương vào sáu xả gắn với sự xuất ly, lấy đó làm chỗ dựa, các ông hãy từ bỏ sáu xả gắn với đời sống tại gia, hãy vượt qua chúng.

Đó là cách chúng được từ bỏ, đó là cách chúng được vượt qua.

Ở đó, này các tỳ-kheo, nương vào sáu hỷ gắn với sự xuất ly, lấy đó làm chỗ dựa, các ông hãy từ bỏ sáu ưu gắn với sự xuất ly, hãy vượt qua chúng.

Đó là cách chúng được từ bỏ, đó là cách chúng được vượt qua.

Ở đó, này các tỳ-kheo, nương vào sáu xả gắn với sự xuất ly, lấy đó làm chỗ dựa, các ông hãy từ bỏ sáu hỷ gắn với sự xuất ly, hãy vượt qua chúng.

Đó là cách chúng được từ bỏ, đó là cách chúng được vượt qua.

Này các tỳ-kheo, có xả đa dạng, nương vào sự đa dạng; có xả đồng nhất, nương vào sự đồng nhất.

Và này các tỳ-kheo, xả đa dạng, nương vào sự đa dạng là gì?

Này các tỳ-kheo, có xả đối với các sắc, có xả đối với các âm thanh, có xả đối với các mùi, có xả đối với các vị, có xả đối với các xúc.

Này các tỳ-kheo, đó là xả đa dạng, nương vào sự đa dạng.

Và này các tỳ-kheo, xả đồng nhất, nương vào sự đồng nhất là gì?

Này các tỳ-kheo, có xả nương vào xứ không gian vô biên, có xả nương vào xứ thức vô biên, có xả nương vào xứ vô sở hữu, có xả nương vào xứ phi tưởng phi phi tưởng.

[Chú thích của người dịch: bốn xứ này là bốn tầng thiền định vô sắc: không gian vô biên, thức vô biên, không có gì cả, và trạng thái không còn tưởng mà cũng không phải không còn tưởng.]

Này các tỳ-kheo, đó là xả đồng nhất, nương vào sự đồng nhất.

Ở đó, này các tỳ-kheo, nương vào xả đồng nhất, lấy xả đồng nhất làm chỗ dựa, các ông hãy từ bỏ xả đa dạng, hãy vượt qua nó.

Đó là cách nó được từ bỏ, đó là cách nó được vượt qua.

Này các tỳ-kheo, nương vào sự không đồng nhất với cái ấy, lấy sự không đồng nhất với cái ấy làm chỗ dựa, các ông hãy từ bỏ xả đồng nhất, hãy vượt qua nó.

[Chú thích của người dịch: atammayatā nghĩa là không để cái mình đang nương vào làm thành chính mình, không đồng nhất mình với nó.]

Đó là cách nó được từ bỏ, đó là cách nó được vượt qua.

"Ở đó, nương vào cái này, các ông hãy từ bỏ cái kia."

Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do Ta nói điều ấy.

"Ba niệm xứ mà bậc Thánh tu tập; nhờ tu tập ba niệm xứ ấy, vị ấy xứng đáng là bậc Đạo sư hướng dẫn một hội chúng."

[Chú thích: Bài kinh này có cách dạy riêng về ba niệm xứ.]

Đó là điều Ta đã nói.

Nhưng vì lý do gì Ta nói điều ấy?

Ở đây, này các tỳ-kheo, có vị Đạo sư vì lòng thương xót, vì muốn điều tốt cho các đệ tử, do lòng thương mà dạy Pháp cho họ:

"Điều này là vì lợi ích của các ông, điều này là vì hạnh phúc của các ông."

Nhưng các đệ tử của vị ấy không muốn nghe, không lắng tai, không đặt tâm vào sự hiểu biết, và sống quay lưng với lời dạy của Đạo sư.

Khi ấy, này các tỳ-kheo, Như Lai không bực bội, không cảm thấy bực bội; Ngài an trú không bị ô nhiễm, chánh niệm và tỉnh giác.

[Chú thích: Trong các bản Pali và chú giải, có vẻ chỉ bản Miến Điện có dạng phủ định anattamana, nghĩa là "không vui"; bản Hán tương ứng (MA 163) cũng ủng hộ dạng phủ định này. Cách chú giải giải thích attamana là "tự tâm" không thỏa đáng; nên đọc theo tiếng Phạn āttamanas hoặc ādattamanas, nghĩa là "tâm phấn chấn", "tâm tươi cười".]

Đây, này các tỳ-kheo, là niệm xứ thứ nhất mà bậc Thánh tu tập; nhờ tu tập niệm xứ ấy, vị ấy xứng đáng là bậc Đạo sư hướng dẫn một hội chúng.

Lại nữa, này các tỳ-kheo, có vị Đạo sư vì lòng thương xót, vì muốn điều tốt cho các đệ tử, do lòng thương mà dạy Pháp cho họ:

"Điều này là vì lợi ích của các ông, điều này là vì hạnh phúc của các ông."

Nhưng một số đệ tử của vị ấy không muốn nghe, không lắng tai, không đặt tâm vào sự hiểu biết, và sống quay lưng với lời dạy của Đạo sư;

một số đệ tử của vị ấy muốn nghe, lắng tai, đặt tâm vào sự hiểu biết, và không sống quay lưng với lời dạy của Đạo sư.


Khi ấy, này các tỳ-kheo, Như Lai không bực bội, không cảm thấy bực bội;

Ngài cũng không vui, không cảm thấy vui.

Nỗi bực bội và niềm vui —

sau khi xua bỏ cả hai điều ấy, Ngài an trú với xả, chánh niệm và tỉnh giác.

Đây, này các tỳ-kheo, được gọi là niệm xứ thứ hai mà bậc Thánh tu tập; nhờ tu tập niệm xứ ấy, vị ấy xứng đáng là bậc Đạo sư hướng dẫn một hội chúng.

Lại nữa, này các tỳ-kheo, có vị Đạo sư vì lòng thương xót, vì muốn điều tốt cho các đệ tử, do lòng thương mà dạy Pháp cho họ:

"Điều này là vì lợi ích của các ông, điều này là vì hạnh phúc của các ông."

Và các đệ tử của vị ấy muốn nghe, lắng tai, đặt tâm vào sự hiểu biết, và không sống quay lưng với lời dạy của Đạo sư.

Khi ấy, này các tỳ-kheo, Như Lai vui, cảm thấy vui; Ngài an trú không bị ô nhiễm, chánh niệm và tỉnh giác.

Đây, này các tỳ-kheo, được gọi là niệm xứ thứ ba mà bậc Thánh tu tập; nhờ tu tập niệm xứ ấy, vị ấy xứng đáng là bậc Đạo sư hướng dẫn một hội chúng.

"Ba niệm xứ mà bậc Thánh tu tập; nhờ tu tập ba niệm xứ ấy, vị ấy xứng đáng là bậc Đạo sư hướng dẫn một hội chúng."

Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do Ta nói điều ấy.

"Trong các bậc thầy dạy tu tập, Ngài được gọi là bậc tối thượng dẫn dắt những người cần được điều ngự."

Đó là điều Ta đã nói. Nhưng vì lý do gì Ta nói điều ấy?

Này các tỳ-kheo, con voi đang được huấn luyện, khi được người dạy voi dẫn dắt, chỉ chạy theo một hướng:

[Chú thích: Ở đây Pali chơi chữ giữa sārita, nghĩa là "được dẫn dắt", với sārathi, nghĩa là "người đánh xe", "bậc dẫn dắt".]

phía đông, phía tây, phía bắc hay phía nam.

Này các tỳ-kheo, con ngựa đang được huấn luyện, khi được người dạy ngựa dẫn dắt, chỉ chạy theo một hướng:

phía đông, phía tây, phía bắc hay phía nam.

Này các tỳ-kheo, con bò đang được huấn luyện, khi được người dạy bò dẫn dắt, chỉ chạy theo một hướng:

phía đông, phía tây, phía bắc hay phía nam.

Nhưng này các tỳ-kheo, người cần được điều ngự, khi được Như Lai — bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác — dẫn dắt, lại chạy theo tám hướng:

[Chú thích: Tiếp theo là tám giải thoát, cho thấy con đường thực hành để chứng đạt dạng cao nhất của xả đồng nhất.]

Vị ấy có sắc và thấy các sắc —

đó là hướng thứ nhất.

Không tưởng sắc ở bên trong, vị ấy thấy các sắc ở bên ngoài —

đó là hướng thứ hai.

Vị ấy hướng thuần đến cái đẹp —

đó là hướng thứ ba.

Do vượt qua hoàn toàn các tưởng về sắc, do sự chấm dứt các tưởng về chướng ngại, do không tác ý đến các tưởng về sự đa dạng, vị ấy biết "không gian là vô biên", chứng đạt và an trú vào xứ không gian vô biên —

đó là hướng thứ tư.

Do vượt qua hoàn toàn xứ không gian vô biên, vị ấy biết "thức là vô biên", chứng đạt và an trú vào xứ thức vô biên —

đó là hướng thứ năm.

Do vượt qua hoàn toàn xứ thức vô biên, vị ấy biết "không có gì cả", chứng đạt và an trú vào xứ vô sở hữu —

đó là hướng thứ sáu.

Do vượt qua hoàn toàn xứ vô sở hữu, vị ấy chứng đạt và an trú vào xứ phi tưởng phi phi tưởng —

đó là hướng thứ bảy.

Do vượt qua hoàn toàn xứ phi tưởng phi phi tưởng, vị ấy chứng đạt và an trú vào sự diệt tận tưởng và cảm thọ —

đó là hướng thứ tám.

Này các tỳ-kheo, được Như Lai — bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác — dẫn dắt, người cần được điều ngự chạy theo tám hướng ấy.

"Trong các bậc thầy dạy tu tập, Ngài được gọi là bậc tối thượng dẫn dắt những người cần được điều ngự."

Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do Ta nói điều ấy.

Đức Thế Tôn nói như vậy.

Các tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tán thán lời Ngài dạy.

Kinh Phân Biệt Sáu Xứ, bài thứ bảy, đã hoàn thành.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →