Trung Bộ Kinh · bài 138/152
Kinh Phân Biệt Tóm Tắt
Uddesavibhaṅga Sutta — bài kinh gồm một bản tóm tắt và phần phân tích bản tóm tắt ấy
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Phân Biệt Tóm Tắt (Uddesavibhaṅga Sutta) là bài kinh thứ 138 trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), bộ kinh gồm 152 bài cỡ vừa trong Kinh tạng Pali. Bài kinh rất ngắn nhưng khá đặc biệt về hình thức: Đức Thế Tôn chỉ nói một câu tóm tắt rồi vào tịnh thất, để các tỳ-kheo tự tìm người giảng nghĩa. Người giảng không phải Đức Thế Tôn mà là Tôn giả Mahākaccāna, một vị đệ tử được Ngài khen là có tuệ lớn. Cuối bài, chính Đức Thế Tôn xác nhận lời giảng ấy đúng là ý của Ngài.
Bối cảnh là tịnh xá trong rừng Jeta, gần Sāvatthī, nơi Đức Thế Tôn thường trú. Ngài gọi các tỳ-kheo lại và nói sẽ giảng bản tóm tắt cùng phần phân tích của nó. Nhưng phần tóm tắt chỉ vỏn vẹn một câu duy nhất: một tỳ-kheo hãy quán sát thế nào để thức của mình không bị tán loạn ra ngoài, không bị mắc kẹt bên trong, và không vì chấp thủ mà hoảng sợ; khi ấy sẽ không còn sự sinh khởi của khổ đau, tức sinh, già và chết, trong tương lai. Nói xong, Ngài đứng dậy vào tịnh thất, không giảng thêm một chữ.
Phần còn lại của bài kinh là chuyện của các tỳ-kheo và Tôn giả Mahākaccāna, gồm hai mạch lồng vào nhau. Thứ nhất là tấm gương tìm người thầy đúng: các tỳ-kheo suýt bỏ qua vị thầy gần mình nhất là Đức Thế Tôn đang còn trước mặt, và Mahākaccāna quở họ bằng ví dụ người đi tìm lõi cây lại bỏ rễ và thân cây để tìm lõi trong cành lá. Thứ hai là lời giảng giải thật sự, chiếm phần lớn bài, mở dần từng chữ của câu tóm tắt ấy.
Lời giảng giải chia làm ba cặp đối nhau, mỗi cặp một bên hỏng và một bên đúng. Cặp thứ nhất nói về sáu giác quan: hễ thức chạy theo tướng của vật thấy, nghe, ngửi, nếm, chạm, hay nghĩ đến rồi dính vào cái thích thú của tướng ấy, thì gọi là tán loạn ra ngoài; không dính thì gọi là không tán loạn. Cặp thứ hai nói về bốn tầng thiền định: ngay cả cái hỷ và lạc trong thiền cũng có thể thành chỗ bám, gọi là mắc kẹt bên trong. Cặp thứ ba nói về việc người chưa hiểu giáo pháp xem thân, tâm và tất cả các thứ liên quan là tự ngã; khi chúng đổi khác thì sợ hãi, buồn khổ, lo lắng, và chính nỗi lo ấy sinh ra từ sự chấp thủ. Người đã hiểu thì không xem chúng là tự ngã, nên không có nỗi lo ấy.
Điểm cần lưu ý là bài kinh không chê thiền định. Nó chỉ cảnh báo rằng sự buông bỏ phải được đem áp dụng cả vào chính trạng thái yên tĩnh do buông bỏ mà có, nếu không thì người tu dừng lại sớm. Cách sửa không phải là tránh định vì sợ dính mắc, mà là làm sâu thêm sự buông bỏ, lần lượt đi từ tầng này sang tầng khác.
Cuối bài, các tỳ-kheo thuật lại với Đức Thế Tôn lời giảng của Mahākaccāna. Ngài khen Mahākaccāna là người trí, tuệ lớn, và nói rằng nếu các tỳ-kheo hỏi chính Ngài thì Ngài cũng sẽ trả lời y như vậy. Lời xác nhận ấy khép bài kinh lại, và cũng trả lời câu hỏi mà bài kinh đã dựng lên ngay từ đầu: một người chỉ nghe câu tóm tắt rồi tự đi tìm chỗ hiểu, cuối cùng vẫn được chính bậc Đạo sư xác nhận là đã hiểu đúng.
Tôi nghe như vầy.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).
Tại đó, Đức Thế Tôn gọi các tỳ-kheo:
"Này các tỳ-kheo!"
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ-kheo đáp lời Đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn nói như vầy:
"Này các tỳ-kheo, Ta sẽ giảng cho các ông bản tóm tắt và phần phân tích của bản tóm tắt ấy.
Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói."
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ-kheo ấy đáp lời Đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn nói như vầy:
"Này các tỳ-kheo, tỳ-kheo hãy quán sát theo cách nào để khi quán sát theo cách ấy, thức của vị ấy ở bên ngoài không bị tán loạn, không bị phân tán, ở bên trong không bị mắc kẹt, và vị ấy không vì chấp thủ mà hoảng sợ.
[Chú thích: Đoạn này cũng xuất hiện ở Iti 94:2.1. Cặp vikkhitta và visaṭa nghĩa là bị tán loạn và bị dời đi, như dòng nước bị xáo động và trôi lệch trong AN 5.51:3.4; asaṇṭhita là không bị kẹt, như trong câu nói về không bị kẹt vào cõi vô sắc ở Snp 3.12:49.2. Chữ cassa nên hiểu là "và sẽ có", không phải "và cho vị ấy", vì nó song hành với sati ở câu sau.]
Này các tỳ-kheo, khi thức ở bên ngoài không bị tán loạn, không bị phân tán, khi ở bên trong không bị mắc kẹt, khi vị ấy không vì chấp thủ mà hoảng sợ, thì tương lai không có sự sinh khởi của nguồn gốc khổ đau, gồm sinh, già và chết."
Đức Thế Tôn nói như vậy.
Nói xong, bậc Thiện thệ đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đi vào tịnh thất.
[Chú thích: Xem chú thích ở MN 133:6.2.]
Rồi các tỳ-kheo ấy, khi Đức Thế Tôn vừa rời đi không lâu, khởi lên ý này:
"Này chư hiền, Đức Thế Tôn đã nêu cho chúng ta một bản tóm tắt vắn tắt, chưa phân tích nghĩa rộng, rồi đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đi vào tịnh thất:
'Này các tỳ-kheo, tỳ-kheo hãy quán sát theo cách nào để khi quán sát theo cách ấy, thức của vị ấy ở bên ngoài không bị tán loạn, không bị phân tán, ở bên trong không bị mắc kẹt, và vị ấy không vì chấp thủ mà hoảng sợ.
Này các tỳ-kheo, khi thức ở bên ngoài không bị tán loạn, không bị phân tán, khi ở bên trong không bị mắc kẹt, khi vị ấy không vì chấp thủ mà hoảng sợ, thì tương lai không có sự sinh khởi của nguồn gốc khổ đau, gồm sinh, già và chết.'
Vậy ai có thể phân tích rộng nghĩa của bản tóm tắt này, bản mà Đức Thế Tôn đã nêu vắn tắt, chưa phân tích nghĩa rộng?"
Rồi các tỳ-kheo ấy khởi lên ý này:
"Tôn giả Mahākaccāna (Ma-ha Ca-chiên-diên) đây được bậc Đạo sư tán thán và được các vị đồng phạm hạnh có trí kính trọng;
[Chú thích: Xem chú thích ở MN 18:10.9.]
Tôn giả Mahākaccāna có thể phân tích rộng nghĩa của bản tóm tắt mà Đức Thế Tôn đã nêu vắn tắt, chưa phân tích nghĩa rộng.
Vậy chúng ta hãy đi đến chỗ Tôn giả Mahākaccāna; đến rồi, hãy hỏi Tôn giả Mahākaccāna về việc này."
Rồi các tỳ-kheo ấy đi đến chỗ Tôn giả Mahākaccāna; đến rồi, chào hỏi thăm Tôn giả Mahākaccāna.
Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện, họ ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên rồi, các tỳ-kheo ấy nói với Tôn giả Mahākaccāna:
"Thưa hiền giả Kaccāna, Đức Thế Tôn đã nêu cho chúng tôi một bản tóm tắt vắn tắt, chưa phân tích nghĩa rộng, rồi đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đi vào tịnh thất:
'Này các tỳ-kheo, tỳ-kheo hãy quán sát theo cách nào để khi quán sát theo cách ấy, thức của vị ấy ở bên ngoài không bị tán loạn, không bị phân tán, ở bên trong không bị mắc kẹt, và vị ấy không vì chấp thủ mà hoảng sợ.
Này các tỳ-kheo, khi thức ở bên ngoài không bị tán loạn, không bị phân tán, khi ở bên trong không bị mắc kẹt, khi vị ấy không vì chấp thủ mà hoảng sợ, thì tương lai không có sự sinh khởi của nguồn gốc khổ đau, gồm sinh, già và chết.'
Thưa hiền giả Kaccāna, khi Đức Thế Tôn vừa rời đi không lâu, chúng tôi khởi lên ý này:
'Này chư hiền, Đức Thế Tôn đã nêu cho chúng ta một bản tóm tắt vắn tắt, chưa phân tích nghĩa rộng, rồi đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đi vào tịnh thất:
"Này các tỳ-kheo, tỳ-kheo hãy quán sát theo cách nào để khi quán sát theo cách ấy, thức của vị ấy ở bên ngoài không bị tán loạn, không bị phân tán, ở bên trong không bị mắc kẹt, và vị ấy không vì chấp thủ mà hoảng sợ.
Này các tỳ-kheo, khi thức ở bên ngoài không bị tán loạn, không bị phân tán, khi ở bên trong không bị mắc kẹt, khi vị ấy không vì chấp thủ mà hoảng sợ, thì tương lai không có sự sinh khởi của nguồn gốc khổ đau, gồm sinh, già và chết."
Vậy ai có thể phân tích rộng nghĩa của bản tóm tắt này, bản mà Đức Thế Tôn đã nêu vắn tắt, chưa phân tích nghĩa rộng?'
Thưa hiền giả Kaccāna, chúng tôi khởi lên ý này:
'Tôn giả Mahākaccāna đây được bậc Đạo sư tán thán và được các vị đồng phạm hạnh có trí kính trọng.
Tôn giả Mahākaccāna có thể phân tích rộng nghĩa của bản tóm tắt mà Đức Thế Tôn đã nêu vắn tắt, chưa phân tích nghĩa rộng.
Vậy chúng ta hãy đi đến chỗ Tôn giả Mahākaccāna; đến rồi, hãy hỏi Tôn giả Mahākaccāna về việc này.' —
xin Tôn giả Mahākaccāna hãy phân tích."
"Ví như, này chư hiền, có người cần lõi cây, tìm lõi cây, đi lang thang tìm lõi cây; người ấy gặp một cây lớn đang đứng đó, có lõi cây, nhưng lại bỏ qua rễ, bỏ qua thân, mà nghĩ rằng phải tìm lõi cây ở cành và lá,
các vị hóa ra là vậy: khi bậc Đạo sư đang ở ngay trước mặt, các vị đã bỏ qua Đức Thế Tôn mà nghĩ rằng nên hỏi tôi về việc này.
Này chư hiền, Đức Thế Tôn ấy biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy; Ngài đã thành con mắt, đã thành trí biết, đã thành Pháp, đã thành Phạm; Ngài là người nói, người tuyên bố, người dẫn ra ý nghĩa, người ban bất tử, bậc chủ của Pháp, Như Lai.
Chính lúc ấy là thời để các vị hỏi Đức Thế Tôn về việc này;
Đức Thế Tôn trả lời thế nào thì các vị nên ghi nhớ đúng như thế ấy."
"Thật vậy, này hiền giả Kaccāna, Đức Thế Tôn biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy; Ngài đã thành con mắt, đã thành trí biết, đã thành Pháp, đã thành Phạm; Ngài là người nói, người tuyên bố, người dẫn ra ý nghĩa, người ban bất tử, bậc chủ của Pháp, Như Lai.
Chính lúc ấy là thời để chúng tôi hỏi Đức Thế Tôn về việc này;
Đức Thế Tôn trả lời thế nào thì chúng tôi nên ghi nhớ đúng như thế ấy.
Nhưng Tôn giả Mahākaccāna được bậc Đạo sư tán thán và được các vị đồng phạm hạnh có trí kính trọng.
Tôn giả Mahākaccāna có thể phân tích rộng nghĩa của bản tóm tắt mà Đức Thế Tôn đã nêu vắn tắt, chưa phân tích nghĩa rộng.
Xin Tôn giả Mahākaccāna hãy phân tích, nếu không thấy nặng nhọc."
"Vậy thì, này chư hiền, hãy nghe và khéo tác ý, tôi sẽ nói."
"Thưa vâng, hiền giả", các tỳ-kheo ấy đáp lại Tôn giả Mahākaccāna.
Tôn giả Mahākaccāna nói như vầy:
Này chư hiền, Đức Thế Tôn đã nêu cho chúng tôi một bản tóm tắt vắn tắt, chưa phân tích nghĩa rộng, rồi đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đi vào tịnh thất:
'Này các tỳ-kheo, tỳ-kheo hãy quán sát theo cách nào để khi quán sát theo cách ấy, thức của vị ấy ở bên ngoài không bị tán loạn, không bị phân tán, ở bên trong không bị mắc kẹt, và vị ấy không vì chấp thủ mà hoảng sợ. Này các tỳ-kheo, khi thức ở bên ngoài không bị tán loạn, không bị phân tán, khi ở bên trong không bị mắc kẹt, khi vị ấy không vì chấp thủ mà hoảng sợ, thì tương lai không có sự sinh khởi của nguồn gốc khổ đau, gồm sinh, già và chết.'
Này chư hiền, tôi hiểu nghĩa rộng của bản tóm tắt mà Đức Thế Tôn đã nêu vắn tắt, chưa phân tích nghĩa rộng, như vầy.
Và này chư hiền, thế nào gọi là thức ở bên ngoài bị tán loạn và phân tán?
Ở đây, này chư hiền, khi tỳ-kheo dùng mắt thấy sắc, thức của vị ấy chạy theo tướng của sắc, dính chặt vào vị ngọt của tướng sắc, bị trói buộc vào vị ngọt của tướng sắc, bị xiềng xích bởi kiết sử của vị ngọt nơi tướng sắc; như vậy gọi là thức ở bên ngoài bị tán loạn và phân tán.
[Chú thích: Tướng ở đây là những nét của cảm nghiệm làm phát sinh phản ứng. Có thể so với đoạn nói về sự phòng hộ các giác quan ở MN 27:15.1, và với MN 137:8.3, nơi người ta bị dính vào một sắc đưa đến lạc.]
Ở đây, này chư hiền, khi tỳ-kheo dùng tai nghe tiếng, thức của vị ấy chạy theo tướng của tiếng, dính chặt vào vị ngọt của tướng tiếng, bị trói buộc vào vị ngọt của tướng tiếng, bị xiềng xích bởi kiết sử của vị ngọt nơi tướng tiếng; như vậy gọi là thức ở bên ngoài bị tán loạn và phân tán.
Ở đây, này chư hiền, khi tỳ-kheo dùng mũi ngửi hương, thức của vị ấy chạy theo tướng của hương, dính chặt vào vị ngọt của tướng hương, bị trói buộc vào vị ngọt của tướng hương, bị xiềng xích bởi kiết sử của vị ngọt nơi tướng hương; như vậy gọi là thức ở bên ngoài bị tán loạn và phân tán.
Ở đây, này chư hiền, khi tỳ-kheo dùng lưỡi nếm vị, thức của vị ấy chạy theo tướng của vị, dính chặt vào vị ngọt của tướng vị, bị trói buộc vào vị ngọt của tướng vị, bị xiềng xích bởi kiết sử của vị ngọt nơi tướng vị; như vậy gọi là thức ở bên ngoài bị tán loạn và phân tán.
Ở đây, này chư hiền, khi tỳ-kheo dùng thân chạm xúc, thức của vị ấy chạy theo tướng của xúc, dính chặt vào vị ngọt của tướng xúc, bị trói buộc vào vị ngọt của tướng xúc, bị xiềng xích bởi kiết sử của vị ngọt nơi tướng xúc; như vậy gọi là thức ở bên ngoài bị tán loạn và phân tán.
Ở đây, này chư hiền, khi tỳ-kheo dùng ý biết pháp, thức của vị ấy chạy theo tướng của pháp, dính chặt vào vị ngọt của tướng pháp, bị trói buộc vào vị ngọt của tướng pháp, bị xiềng xích bởi kiết sử của vị ngọt nơi tướng pháp; như vậy gọi là thức ở bên ngoài bị tán loạn và phân tán.
Này chư hiền, đó là cách gọi thức ở bên ngoài bị tán loạn và phân tán.
Và này chư hiền, thế nào gọi là thức ở bên ngoài không bị tán loạn và không bị phân tán?
Ở đây, này chư hiền, khi tỳ-kheo dùng mắt thấy sắc, thức của vị ấy không chạy theo tướng của sắc, không dính chặt vào vị ngọt của tướng sắc, không bị trói buộc vào vị ngọt của tướng sắc, không bị xiềng xích bởi kiết sử của vị ngọt nơi tướng sắc; như vậy gọi là thức ở bên ngoài không bị tán loạn và không bị phân tán.
Ở đây, này chư hiền, khi tỳ-kheo dùng tai nghe tiếng, thức của vị ấy không chạy theo tướng của tiếng, không dính chặt vào vị ngọt của tướng tiếng, không bị trói buộc vào vị ngọt của tướng tiếng, không bị xiềng xích bởi kiết sử của vị ngọt nơi tướng tiếng; như vậy gọi là thức ở bên ngoài không bị tán loạn và không bị phân tán.
Ở đây, này chư hiền, khi tỳ-kheo dùng mũi ngửi hương, thức của vị ấy không chạy theo tướng của hương, không dính chặt vào vị ngọt của tướng hương, không bị trói buộc vào vị ngọt của tướng hương, không bị xiềng xích bởi kiết sử của vị ngọt nơi tướng hương; như vậy gọi là thức ở bên ngoài không bị tán loạn và không bị phân tán.
Ở đây, này chư hiền, khi tỳ-kheo dùng lưỡi nếm vị, thức của vị ấy không chạy theo tướng của vị, không dính chặt vào vị ngọt của tướng vị, không bị trói buộc vào vị ngọt của tướng vị, không bị xiềng xích bởi kiết sử của vị ngọt nơi tướng vị; như vậy gọi là thức ở bên ngoài không bị tán loạn và không bị phân tán.
Ở đây, này chư hiền, khi tỳ-kheo dùng thân chạm xúc, thức của vị ấy không chạy theo tướng của xúc, không dính chặt vào vị ngọt của tướng xúc, không bị trói buộc vào vị ngọt của tướng xúc, không bị xiềng xích bởi kiết sử của vị ngọt nơi tướng xúc; như vậy gọi là thức ở bên ngoài không bị tán loạn và không bị phân tán.
Ở đây, này chư hiền, khi tỳ-kheo dùng ý biết pháp, thức của vị ấy không chạy theo tướng của pháp, không dính chặt vào vị ngọt của tướng pháp, không bị trói buộc vào vị ngọt của tướng pháp, không bị xiềng xích bởi kiết sử của vị ngọt nơi tướng pháp; như vậy gọi là thức ở bên ngoài không bị tán loạn và không bị phân tán.
Này chư hiền, đó là cách gọi thức ở bên ngoài không bị tán loạn và không bị phân tán.
Và này chư hiền, thế nào gọi là mắc kẹt ở bên trong?
[Chú thích: Trong câu tóm tắt chính, thức là chủ ngữ của cả ba mệnh đề. Khi ba mệnh đề ấy được tách ra, chủ ngữ bị bỏ trống.]
Ở đây, này chư hiền, tỳ-kheo ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng đạt và an trú thiền-na thứ nhất, có tầm có tứ, với hỷ và lạc do ly dục sinh.
Thức của vị ấy chạy theo hỷ và lạc do ly dục sinh, dính chặt vào vị ngọt của hỷ và lạc do ly dục sinh, bị trói buộc vào vị ngọt của hỷ và lạc do ly dục sinh, bị xiềng xích bởi kiết sử của vị ngọt nơi hỷ và lạc do ly dục sinh; như vậy gọi là tâm mắc kẹt ở bên trong.
[Chú thích: Định là kết quả của sự buông bỏ, và sự buông bỏ ấy cũng áp dụng cho chính định, nên không nên bằng lòng dừng lại ở đó. Ở phần này, vì nói về các tầng thiền, Mahākaccāna chuyển từ "thức" sang "tâm".]
Lại nữa, này chư hiền, tỳ-kheo do tầm và tứ lắng xuống, đạt được nội tâm thanh tịnh, tâm chuyên nhất, chứng đạt và an trú thiền-na thứ hai, không tầm không tứ, với hỷ và lạc do định sinh.
Thức của vị ấy chạy theo hỷ và lạc do định sinh, dính chặt vào vị ngọt của hỷ và lạc do định sinh, bị trói buộc vào vị ngọt của hỷ và lạc do định sinh, bị xiềng xích bởi kiết sử của vị ngọt nơi hỷ và lạc do định sinh; như vậy gọi là tâm mắc kẹt ở bên trong.
Lại nữa, này chư hiền, tỳ-kheo do ly hỷ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm nhận lạc; vị ấy chứng đạt và an trú thiền-na thứ ba, mà các bậc thánh gọi là 'trú xả, chánh niệm, sống an lạc'.
Thức của vị ấy chạy theo xả, dính chặt vào vị ngọt của lạc với xả, bị trói buộc vào vị ngọt của lạc với xả, bị xiềng xích bởi kiết sử của vị ngọt nơi lạc với xả; như vậy gọi là tâm mắc kẹt ở bên trong.
[Chú thích: Bản Pali dùng "xả" ở chỗ thứ nhất, còn những chỗ sau thì dùng "lạc với xả".]
Lại nữa, này chư hiền, tỳ-kheo do đoạn lạc, do đoạn khổ, do hỷ và ưu trước đó đã lắng xuống, chứng đạt và an trú thiền-na thứ tư, không khổ không lạc, xả và chánh niệm thanh tịnh.
Thức của vị ấy chạy theo cái không khổ không lạc, dính chặt vào vị ngọt của cái không khổ không lạc, bị trói buộc vào vị ngọt của cái không khổ không lạc, bị xiềng xích bởi kiết sử của vị ngọt nơi cái không khổ không lạc; như vậy gọi là tâm mắc kẹt ở bên trong.
[Chú thích của người dịch: Bản Mahāsaṅgīti ở đoạn này ghi asaṇṭhita, nghĩa là "không mắc kẹt", nhưng câu kết ở 15.3 và cả mạch đoạn đều nói về sự mắc kẹt, nên đây có lẽ là một lỗi của bản in.]
Này chư hiền, đó là cách gọi mắc kẹt ở bên trong.
Và này chư hiền, thế nào gọi là không mắc kẹt ở bên trong?
Ở đây, này chư hiền, tỳ-kheo ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng đạt và an trú thiền-na thứ nhất, có tầm có tứ, với hỷ và lạc do ly dục sinh.
Thức của vị ấy không chạy theo hỷ và lạc do ly dục sinh, không dính chặt vào vị ngọt của hỷ và lạc do ly dục sinh, không bị trói buộc vào vị ngọt của hỷ và lạc do ly dục sinh, không bị xiềng xích bởi kiết sử của vị ngọt nơi hỷ và lạc do ly dục sinh; như vậy gọi là tâm không mắc kẹt ở bên trong.
[Chú thích: Cách giải thoát khỏi sự mắc kẹt bên trong là tiếp tục làm sâu thêm định bằng cách buông bỏ nhiều hơn, chứ không phải tránh định vì sợ bị dính mắc như một số thầy dạy thiền ở thế kỷ 20 đã chủ trương.]
Lại nữa, này chư hiền, tỳ-kheo do tầm và tứ lắng xuống, đạt được nội tâm thanh tịnh, tâm chuyên nhất, chứng đạt và an trú thiền-na thứ hai, không tầm không tứ, với hỷ và lạc do định sinh.
Thức của vị ấy không chạy theo hỷ và lạc do định sinh, không dính chặt vào vị ngọt của hỷ và lạc do định sinh, không bị trói buộc vào vị ngọt của hỷ và lạc do định sinh, không bị xiềng xích bởi kiết sử của vị ngọt nơi hỷ và lạc do định sinh; như vậy gọi là tâm không mắc kẹt ở bên trong.
Lại nữa, này chư hiền, tỳ-kheo do ly hỷ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm nhận lạc; vị ấy chứng đạt và an trú thiền-na thứ ba, mà các bậc thánh gọi là 'trú xả, chánh niệm, sống an lạc'.
Thức của vị ấy không chạy theo xả, không dính chặt vào vị ngọt của lạc với xả, không bị trói buộc vào vị ngọt của lạc với xả, không bị xiềng xích bởi kiết sử của vị ngọt nơi lạc với xả; như vậy gọi là tâm không mắc kẹt ở bên trong.
Lại nữa, này chư hiền, tỳ-kheo do đoạn lạc, do đoạn khổ, do hỷ và ưu trước đó đã lắng xuống, chứng đạt và an trú thiền-na thứ tư, không khổ không lạc, xả và chánh niệm thanh tịnh.
Thức của vị ấy không chạy theo cái không khổ không lạc, không dính chặt vào vị ngọt của cái không khổ không lạc, không bị trói buộc vào vị ngọt của cái không khổ không lạc, không bị xiềng xích bởi kiết sử của vị ngọt nơi cái không khổ không lạc; như vậy gọi là tâm không mắc kẹt ở bên trong.
Này chư hiền, đó là cách gọi không mắc kẹt ở bên trong.
Và này chư hiền, thế nào là hoảng sợ vì chấp thủ?
[Chú thích: Mọi bản Pali đều ghi "hoảng sợ vì không nắm giữ", một cách đọc khó hiểu nhưng được bản chú giải chấp nhận và giảng giải. Tương Ưng Bộ có nhiều đoạn tương tự đều ghi "hoảng sợ vì nắm giữ" (SN 22.7, SN 22.8, SN 22.90:3.13), nên có lẽ Trung Bộ giữ một lỗi cũ và cách đọc của Tương Ưng đáng theo hơn.]
Ở đây, này chư hiền, kẻ phàm phu không học, không thấy các bậc thánh, không thông hiểu Pháp của các bậc thánh, không được huấn luyện trong Pháp của các bậc thánh; không thấy các bậc chân nhân, không thông hiểu Pháp của các bậc chân nhân, không được huấn luyện trong Pháp của các bậc chân nhân,
vị ấy xem sắc là tự ngã, hay xem tự ngã có sắc, hay xem sắc ở trong tự ngã, hay xem tự ngã ở trong sắc.
Sắc ấy của vị ấy biến đổi, trở thành khác.
Do sắc biến đổi và trở thành khác, thức của vị ấy chạy theo sự biến đổi của sắc.
Những sự hoảng sợ sinh ra từ việc chạy theo sự biến đổi của sắc, khởi lên từ các pháp, chiếm giữ tâm và tồn tại.
Do tâm bị chiếm giữ, vị ấy trở nên sợ hãi, não lòng, mong ngóng, và hoảng sợ vì chấp thủ.
Vị ấy xem thọ là tự ngã, hay xem tự ngã có thọ, hay xem thọ ở trong tự ngã, hay xem tự ngã ở trong thọ. Thọ ấy của vị ấy biến đổi, trở thành khác. Do thọ biến đổi và trở thành khác, thức của vị ấy chạy theo sự biến đổi của thọ. Những sự hoảng sợ sinh ra từ việc chạy theo sự biến đổi của thọ, khởi lên từ các pháp, chiếm giữ tâm và tồn tại. Do tâm bị chiếm giữ, vị ấy trở nên sợ hãi, não lòng, mong ngóng, và hoảng sợ vì chấp thủ.
Vị ấy xem tưởng là tự ngã, hay xem tự ngã có tưởng, hay xem tưởng ở trong tự ngã, hay xem tự ngã ở trong tưởng. Tưởng ấy của vị ấy biến đổi, trở thành khác. Do tưởng biến đổi và trở thành khác, thức của vị ấy chạy theo sự biến đổi của tưởng. Những sự hoảng sợ sinh ra từ việc chạy theo sự biến đổi của tưởng, khởi lên từ các pháp, chiếm giữ tâm và tồn tại. Do tâm bị chiếm giữ, vị ấy trở nên sợ hãi, não lòng, mong ngóng, và hoảng sợ vì chấp thủ.
Vị ấy xem các hành là tự ngã, hay xem tự ngã có các hành, hay xem các hành ở trong tự ngã, hay xem tự ngã ở trong các hành. Các hành ấy của vị ấy biến đổi, trở thành khác. Do các hành biến đổi và trở thành khác, thức của vị ấy chạy theo sự biến đổi của các hành. Những sự hoảng sợ sinh ra từ việc chạy theo sự biến đổi của các hành, khởi lên từ các pháp, chiếm giữ tâm và tồn tại. Do tâm bị chiếm giữ, vị ấy trở nên sợ hãi, não lòng, mong ngóng, và hoảng sợ vì chấp thủ.
Vị ấy xem thức là tự ngã, hay xem tự ngã có thức, hay xem thức ở trong tự ngã, hay xem tự ngã ở trong thức.
Thức ấy của vị ấy biến đổi, trở thành khác.
Do thức biến đổi và trở thành khác, thức của vị ấy chạy theo sự biến đổi của thức.
Những sự hoảng sợ sinh ra từ việc chạy theo sự biến đổi của thức, khởi lên từ các pháp, chiếm giữ tâm và tồn tại.
Do tâm bị chiếm giữ, vị ấy trở nên sợ hãi, não lòng, mong ngóng, và hoảng sợ vì chấp thủ.
Này chư hiền, đó là cách hoảng sợ vì chấp thủ.
Và này chư hiền, thế nào là không hoảng sợ vì chấp thủ?
Ở đây, này chư hiền, bậc thánh đệ tử có học, đã thấy các bậc thánh, thông hiểu Pháp của các bậc thánh, được khéo huấn luyện trong Pháp của các bậc thánh; đã thấy các bậc chân nhân, thông hiểu Pháp của các bậc chân nhân, được khéo huấn luyện trong Pháp của các bậc chân nhân,
vị ấy không xem sắc là tự ngã, không xem tự ngã có sắc, không xem sắc ở trong tự ngã, không xem tự ngã ở trong sắc.
Sắc ấy của vị ấy biến đổi, trở thành khác.
Do sắc biến đổi và trở thành khác, thức của vị ấy không chạy theo sự biến đổi của sắc.
Những sự hoảng sợ sinh ra từ việc chạy theo sự biến đổi của sắc, khởi lên từ các pháp, không chiếm giữ tâm và không tồn tại.
Do tâm không bị chiếm giữ, vị ấy không trở nên sợ hãi, không não lòng, không mong ngóng, và không hoảng sợ vì chấp thủ.
Vị ấy không xem thọ là tự ngã, không xem tự ngã có thọ, không xem thọ ở trong tự ngã, không xem tự ngã ở trong thọ. Thọ ấy của vị ấy biến đổi, trở thành khác. Do thọ biến đổi và trở thành khác, thức của vị ấy không chạy theo sự biến đổi của thọ. Những sự hoảng sợ sinh ra từ việc chạy theo sự biến đổi của thọ, khởi lên từ các pháp, không chiếm giữ tâm và không tồn tại. Do tâm không bị chiếm giữ, vị ấy không trở nên sợ hãi, không não lòng, không mong ngóng, và không hoảng sợ vì chấp thủ.
Vị ấy không xem tưởng là tự ngã, không xem tự ngã có tưởng, không xem tưởng ở trong tự ngã, không xem tự ngã ở trong tưởng. Tưởng ấy của vị ấy biến đổi, trở thành khác. Do tưởng biến đổi và trở thành khác, thức của vị ấy không chạy theo sự biến đổi của tưởng. Những sự hoảng sợ sinh ra từ việc chạy theo sự biến đổi của tưởng, khởi lên từ các pháp, không chiếm giữ tâm và không tồn tại. Do tâm không bị chiếm giữ, vị ấy không trở nên sợ hãi, không não lòng, không mong ngóng, và không hoảng sợ vì chấp thủ.
Vị ấy không xem các hành là tự ngã, không xem tự ngã có các hành, không xem các hành ở trong tự ngã, không xem tự ngã ở trong các hành. Các hành ấy của vị ấy biến đổi, trở thành khác. Do các hành biến đổi và trở thành khác, thức của vị ấy không chạy theo sự biến đổi của các hành. Những sự hoảng sợ sinh ra từ việc chạy theo sự biến đổi của các hành, khởi lên từ các pháp, không chiếm giữ tâm và không tồn tại. Do tâm không bị chiếm giữ, vị ấy không trở nên sợ hãi, không não lòng, không mong ngóng, và không hoảng sợ vì chấp thủ.
Vị ấy không xem thức là tự ngã, không xem tự ngã có thức, không xem thức ở trong tự ngã, không xem tự ngã ở trong thức.
Thức ấy của vị ấy biến đổi, trở thành khác.
Do thức biến đổi và trở thành khác, thức của vị ấy không chạy theo sự biến đổi của thức.
Những sự hoảng sợ sinh ra từ việc chạy theo sự biến đổi của thức, khởi lên từ các pháp, không chiếm giữ tâm và không tồn tại.
Do tâm không bị chiếm giữ, vị ấy không trở nên sợ hãi, không não lòng, không mong ngóng, và không hoảng sợ vì chấp thủ.
Này chư hiền, đó là cách không hoảng sợ vì chấp thủ.
Này chư hiền, Đức Thế Tôn đã nêu cho chúng tôi một bản tóm tắt vắn tắt, chưa phân tích nghĩa rộng, rồi đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đi vào tịnh thất:
'Này các tỳ-kheo, tỳ-kheo hãy quán sát theo cách nào để khi quán sát theo cách ấy, thức của vị ấy ở bên ngoài không bị tán loạn, không bị phân tán, ở bên trong không bị mắc kẹt, và vị ấy không vì chấp thủ mà hoảng sợ.
Này các tỳ-kheo, khi thức ở bên ngoài không bị tán loạn, không bị phân tán, khi ở bên trong không bị mắc kẹt, khi vị ấy không vì chấp thủ mà hoảng sợ, thì tương lai không có sự sinh khởi của nguồn gốc khổ đau, gồm sinh, già và chết.'
Và này chư hiền, đó là cách tôi hiểu nghĩa rộng của bản tóm tắt mà Đức Thế Tôn đã nêu vắn tắt, chưa phân tích nghĩa rộng.
Nhưng này chư hiền, nếu các vị muốn, hãy đi đến Đức Thế Tôn và hỏi Ngài về việc này;
Đức Thế Tôn trả lời thế nào thì các vị hãy ghi nhớ đúng như thế ấy.
Rồi các tỳ-kheo ấy, hoan hỷ tán thán lời Tôn giả Mahākaccāna dạy, đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến rồi, đảnh lễ Đức Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên rồi, các tỳ-kheo ấy nói với Đức Thế Tôn:
"Bạch Thế Tôn, Đức Thế Tôn đã nêu cho chúng con một bản tóm tắt vắn tắt, chưa phân tích nghĩa rộng, rồi đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đi vào tịnh thất:
'Này các tỳ-kheo, tỳ-kheo hãy quán sát theo cách nào để khi quán sát theo cách ấy, thức của vị ấy ở bên ngoài không bị tán loạn, không bị phân tán, ở bên trong không bị mắc kẹt, và vị ấy không vì chấp thủ mà hoảng sợ.
Này các tỳ-kheo, khi thức ở bên ngoài không bị tán loạn, không bị phân tán, khi ở bên trong không bị mắc kẹt, khi vị ấy không vì chấp thủ mà hoảng sợ, thì tương lai không có sự sinh khởi của nguồn gốc khổ đau, gồm sinh, già và chết.'
Bạch Thế Tôn, khi Đức Thế Tôn vừa rời đi không lâu, chúng con khởi lên ý này:
'Này chư hiền, Đức Thế Tôn đã nêu cho chúng ta một bản tóm tắt vắn tắt, chưa phân tích nghĩa rộng, rồi đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đi vào tịnh thất —
"Này các tỳ-kheo, tỳ-kheo hãy quán sát theo cách nào để khi quán sát theo cách ấy, thức của vị ấy ở bên ngoài không bị tán loạn, không bị phân tán, ở bên trong không bị mắc kẹt, và vị ấy không vì chấp thủ mà hoảng sợ.
Này các tỳ-kheo, khi thức ở bên ngoài không bị tán loạn, không bị phân tán, khi ở bên trong không bị mắc kẹt, khi vị ấy không vì chấp thủ mà hoảng sợ, thì tương lai không có sự sinh khởi của nguồn gốc khổ đau, gồm sinh, già và chết."
Vậy ai có thể phân tích rộng nghĩa của bản tóm tắt này, bản mà Đức Thế Tôn đã nêu vắn tắt, chưa phân tích nghĩa rộng?'
Bạch Thế Tôn, chúng con khởi lên ý này:
'Tôn giả Mahākaccāna đây được bậc Đạo sư tán thán và được các vị đồng phạm hạnh có trí kính trọng.
Tôn giả Mahākaccāna có thể phân tích rộng nghĩa của bản tóm tắt mà Đức Thế Tôn đã nêu vắn tắt, chưa phân tích nghĩa rộng.
Vậy chúng ta hãy đi đến chỗ Tôn giả Mahākaccāna; đến rồi, hãy hỏi Tôn giả Mahākaccāna về việc này.'
Bạch Thế Tôn, rồi chúng con đi đến chỗ Tôn giả Mahākaccāna; đến rồi, hỏi Tôn giả Mahākaccāna về việc này.
Bạch Thế Tôn, Tôn giả Mahākaccāna đã phân tích ý nghĩa cho chúng con bằng những cách này, những từ này, những câu này."
"Này các tỳ-kheo, Mahākaccāna là bậc trí; này các tỳ-kheo, Mahākaccāna có tuệ lớn.
Này các tỳ-kheo, nếu các ông đến hỏi Ta về việc này, Ta cũng sẽ trả lời đúng như Mahākaccāna đã trả lời.
Đó chính là nghĩa của việc ấy. Và các ông hãy ghi nhớ như vậy."
Đức Thế Tôn nói như vậy.
Các tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tán thán lời Ngài dạy.
Kinh Phân Biệt Tóm Tắt, bài thứ tám, đến đây là hết.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.