Trung Bộ Kinh · bài 139/152
Kinh Phân Biệt Không Tranh Cãi
Araṇavibhaṅga Sutta — bài phân tích về không tranh cãi
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Phân Biệt Không Tranh Cãi (Araṇavibhaṅga Sutta) là bài kinh thứ 139 trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), bộ kinh gồm 152 bài cỡ vừa trong Kinh tạng Pali. Bài này không kể chuyện. Nó là một bài giảng: Đức Thế Tôn dạy các tỳ-kheo cách nói năng và cách dạy người khác mà không gây ra cãi cọ, chia rẽ.
Bối cảnh rất đơn giản. Tại tịnh xá trong rừng Jeta, gần Sāvatthī, Đức Thế Tôn gọi các tỳ-kheo lại và nói Ngài sẽ giảng bài phân tích về không tranh cãi. Ngài đưa ra tám câu tóm tắt ngắn, rồi lần lượt mở từng câu ra. Tám câu ấy nói về hai cực cần tránh, về hai lỗi khi giảng dạy, về cách đánh giá các thứ lạc, về bốn điều liên quan đến lời nói, và về một lỗi rất tinh tế: bám chặt vào cách gọi tên của một vùng rồi cho đó là chân lý.
Điều đáng chú ý là bài kinh không dặn "chớ cãi nhau" một cách chung chung. Nó chỉ ra cơ chế của sự cãi cọ. Hai lỗi lớn là tâng bốc và chê bai: khi giảng, người ta có thể nói nhóm mình theo là đúng hết, còn nhóm khác là sai hết. Làm vậy thì dù lời nói nghe có vẻ hay, nó vẫn gieo mầm tranh chấp. Cách sửa là không tâng bốc ai, không dìm ai, chỉ nói về chính điều ấy: nó khổ hay không khổ, nó dẫn đi đâu.
Bài kinh cũng có một phần rất đời thường về lời nói. Trước khi nói, hãy tự hỏi ba điều: điều ấy có thật không, có đúng không, có ích không. Nếu không thật, không đúng thì đừng nói, dù nói sau lưng hay nói trước mặt. Nếu thật và đúng nhưng vô ích thì cũng nên tập im lặng. Chỉ khi thật, đúng và có ích mới nói, và còn phải biết chọn lúc. Thêm nữa, đừng nói vội: nói vội thì thân mệt, tâm rối, giọng yếu, cổ rát, lời nói ra không rõ.
Cuối bài, Đức Thế Tôn lập lại tất cả thành từng cặp: pháp có tranh cãi và pháp không tranh cãi. Cùng một việc, cùng một câu nói, nhưng cách làm này đưa đến tranh cãi, cách làm kia thì không. Bài khép lại bằng lời dặn các tỳ-kheo học cho được điều ấy, và một lời khen dành cho Subhūti, vị đã thực hành con đường không tranh cãi.
Tôi nghe như vầy.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).
Tại đó, Đức Thế Tôn gọi các tỳ-kheo:
"Này các tỳ-kheo!"
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ-kheo đáp lời Đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn nói như vầy:
Này các tỳ-kheo, Ta sẽ giảng cho các ông bài phân tích về không tranh cãi.
[Chú thích: Trong thánh điển Phệ-đà, tiếng raṇa thường có nghĩa là niềm vui, sự hoan hỷ, đôi khi là chiến tranh, sự tranh chấp. Xem chú thích ở MN 137:2.1.]
Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ-kheo ấy đáp lời Đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn nói như vầy:
Chớ đắm mình vào dục lạc, thứ thấp hèn, thô tục, của kẻ phàm phu, không bậc thánh, không đem lại lợi ích; và chớ đắm mình vào sự hành hạ thân xác, thứ khổ đau, không bậc thánh, không đem lại lợi ích.
[Chú thích: Câu này phỏng theo bài kinh đầu tiên. Bản Pali ở đây viết gọn hơn, dùng kāmasukhamanuyuñjeyya thay cho kāmesu kāmasukhallikānuyogo ở SN 56.11:2.3.]
Này các tỳ-kheo, không đi theo hai cực ấy, Như Lai đã giác ngộ con đường thực hành ở giữa; con đường ấy tạo ra mắt, tạo ra tuệ, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Hãy biết sự tâng bốc và sự chê bai;
sau khi biết sự tâng bốc và sự chê bai, chớ tâng bốc, chớ chê bai, hãy chỉ giảng Pháp.
Hãy biết sự phân định lạc thọ;
sau khi biết sự phân định lạc thọ, hãy theo đuổi lạc thọ bên trong.
Chớ nói lời sau lưng, chớ nói lời cay nghiệt trước mặt.
Hãy nói khi không vội vàng, chớ nói vội vàng.
Chớ cố chấp vào cách nói thông thường của người dân, chớ vượt quá danh xưng quen dùng.
[Chú thích: Cách nói thông thường của người dân là janapadanirutti. Samaññā, tức danh xưng, không nên lẫn với sāmañña, tức sự đồng thuận hay sự bình đẳng.]
Đây là phần tóm tắt của bài phân tích về không tranh cãi.
"Chớ đắm mình vào dục lạc, thứ thấp hèn, thô tục, của kẻ phàm phu, không bậc thánh, không đem lại lợi ích; và chớ đắm mình vào sự hành hạ thân xác, thứ khổ đau, không bậc thánh, không đem lại lợi ích" —
Đó là điều Ta đã nói. Nhưng vì duyên gì Ta nói điều ấy?
Sự đắm mình vào hỷ lạc gắn liền với dục lạc là thấp hèn, thô tục, của kẻ phàm phu, không bậc thánh, không đem lại lợi ích. Pháp ấy có khổ, có tổn hại, có ưu não, có nhiệt não; đó là thực hành sai.
Sự không đắm mình vào hỷ lạc gắn liền với dục lạc, thứ thấp hèn, thô tục, của kẻ phàm phu, không bậc thánh, không đem lại lợi ích, là pháp không khổ, không tổn hại, không ưu não, không nhiệt não; đó là thực hành đúng.
Sự đắm mình vào việc hành hạ thân xác là khổ đau, không bậc thánh, không đem lại lợi ích. Pháp ấy có khổ, có tổn hại, có ưu não, có nhiệt não; đó là thực hành sai.
Sự không đắm mình vào việc hành hạ thân xác, thứ khổ đau, không bậc thánh, không đem lại lợi ích, là pháp không khổ, không tổn hại, không ưu não, không nhiệt não; đó là thực hành đúng.
"Chớ đắm mình vào dục lạc, thứ thấp hèn, thô tục, của kẻ phàm phu, không bậc thánh, không đem lại lợi ích; và chớ đắm mình vào sự hành hạ thân xác, thứ khổ đau, không bậc thánh, không đem lại lợi ích" —
Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do Ta nói điều ấy.
"Không đi theo hai cực ấy, Như Lai đã giác ngộ con đường thực hành ở giữa; con đường ấy tạo ra mắt, tạo ra tuệ, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn" —
Đó là điều Ta đã nói. Nhưng vì duyên gì Ta nói điều ấy?
Đó chính là con đường tám nhánh của bậc thánh, tức là:
chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
"Không đi theo hai cực ấy, Như Lai đã giác ngộ con đường thực hành ở giữa; con đường ấy tạo ra mắt, tạo ra tuệ, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn" —
Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do Ta nói điều ấy.
"Hãy biết sự tâng bốc và sự chê bai;
sau khi biết sự tâng bốc và sự chê bai, chớ tâng bốc, chớ chê bai, hãy chỉ giảng Pháp" —
Đó là điều Ta đã nói. Nhưng vì duyên gì Ta nói điều ấy?
Và này các tỳ-kheo, thế nào là có tâng bốc và chê bai mà không giảng Pháp?
"Những ai đắm mình vào hỷ lạc gắn liền với dục lạc — thứ thấp hèn, thô tục, của kẻ phàm phu, không bậc thánh, không đem lại lợi ích — tất cả họ đều có khổ, có tổn hại, có ưu não, có nhiệt não, đều thực hành sai" —
Nói như vậy là chê bai một số người ở đây.
"Những ai không đắm mình vào hỷ lạc gắn liền với dục lạc, thứ thấp hèn, thô tục, của kẻ phàm phu, không bậc thánh, không đem lại lợi ích — tất cả họ đều không khổ, không tổn hại, không ưu não, không nhiệt não, đều thực hành đúng" —
Nói như vậy là tâng bốc một số người ở đây.
"Những ai đắm mình vào việc hành hạ thân xác — thứ khổ đau, không bậc thánh, không đem lại lợi ích — tất cả họ đều có khổ, có tổn hại, có ưu não, có nhiệt não, đều thực hành sai" —
Nói như vậy là chê bai một số người ở đây.
"Những ai không đắm mình vào việc hành hạ thân xác, thứ khổ đau, không bậc thánh, không đem lại lợi ích — tất cả họ đều không khổ, không tổn hại, không ưu não, không nhiệt não, đều thực hành đúng" —
Nói như vậy là tâng bốc một số người ở đây.
"Những ai chưa từ bỏ kiết sử tái sinh, tất cả họ đều có khổ, có tổn hại, có ưu não, có nhiệt não, đều thực hành sai" —
Nói như vậy là chê bai một số người ở đây.
"Những ai đã từ bỏ kiết sử tái sinh, tất cả họ đều không khổ, không tổn hại, không ưu não, không nhiệt não, đều thực hành đúng" —
Nói như vậy là tâng bốc một số người ở đây.
Này các tỳ-kheo, như vậy là có tâng bốc và chê bai mà không giảng Pháp.
Và này các tỳ-kheo, thế nào là không tâng bốc, không chê bai, mà giảng Pháp?
"Những ai đắm mình vào hỷ lạc gắn liền với dục lạc — thứ thấp hèn, thô tục, của kẻ phàm phu, không bậc thánh, không đem lại lợi ích — tất cả họ đều có khổ, có tổn hại, có ưu não, có nhiệt não, đều thực hành sai" —
Vị ấy không nói như vậy.
"Sự đắm mình thì có khổ, pháp ấy có tổn hại, có ưu não, có nhiệt não;
đó là thực hành sai" —
Nói như vậy là vị ấy chỉ giảng Pháp.
"Những ai không đắm mình vào hỷ lạc gắn liền với dục lạc, thứ thấp hèn, thô tục, của kẻ phàm phu, không bậc thánh, không đem lại lợi ích — tất cả họ đều không khổ, không tổn hại, không ưu não, không nhiệt não, đều thực hành đúng" —
Vị ấy không nói như vậy.
"Sự không đắm mình thì không khổ, pháp ấy không tổn hại, không ưu não, không nhiệt não;
đó là thực hành đúng" —
Nói như vậy là vị ấy chỉ giảng Pháp.
"Những ai đắm mình vào việc hành hạ thân xác — thứ khổ đau, không bậc thánh, không đem lại lợi ích — tất cả họ đều có khổ, có tổn hại, có ưu não, có nhiệt não, đều thực hành sai" —
Vị ấy không nói như vậy.
"Sự đắm mình thì có khổ, pháp ấy có tổn hại, có ưu não, có nhiệt não;
đó là thực hành sai" —
Nói như vậy là vị ấy chỉ giảng Pháp.
"Những ai không đắm mình vào việc hành hạ thân xác, thứ khổ đau, không bậc thánh, không đem lại lợi ích — tất cả họ đều không khổ, không tổn hại, không ưu não, không nhiệt não, đều thực hành đúng" —
Vị ấy không nói như vậy.
"Sự không đắm mình thì không khổ, pháp ấy không tổn hại, không ưu não, không nhiệt não;
đó là thực hành đúng" —
Nói như vậy là vị ấy chỉ giảng Pháp.
"Những ai chưa từ bỏ kiết sử tái sinh, tất cả họ đều có khổ, có tổn hại, có ưu não, có nhiệt não, đều thực hành sai" —
Vị ấy không nói như vậy.
"Khi kiết sử tái sinh chưa được từ bỏ thì tái sinh cũng chưa được từ bỏ" —
Nói như vậy là vị ấy chỉ giảng Pháp.
"Những ai đã từ bỏ kiết sử tái sinh, tất cả họ đều không khổ, không tổn hại, không ưu não, không nhiệt não, đều thực hành đúng" —
Vị ấy không nói như vậy.
"Khi kiết sử tái sinh đã được từ bỏ thì tái sinh cũng đã được từ bỏ" —
Nói như vậy là vị ấy chỉ giảng Pháp.
Này các tỳ-kheo, như vậy là không tâng bốc, không chê bai, mà giảng Pháp.
"Hãy biết sự tâng bốc và sự chê bai;
sau khi biết sự tâng bốc và sự chê bai, chớ tâng bốc, chớ chê bai, hãy chỉ giảng Pháp" —
Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do Ta nói điều ấy.
"Hãy biết sự phân định lạc thọ;
sau khi biết sự phân định lạc thọ, hãy theo đuổi lạc thọ bên trong" —
Đó là điều Ta đã nói. Nhưng vì duyên gì Ta nói điều ấy?
Này các tỳ-kheo, có năm loại dục lạc giác quan.
Năm là những gì?
Các sắc do mắt nhận biết — đáng ưa, đáng muốn, dễ chịu, đẹp lòng, gắn với dục, khêu gợi tham,
Các âm thanh do tai nhận biết — đáng ưa, đáng muốn, dễ chịu, đẹp lòng, gắn với dục, khêu gợi tham,
Các mùi hương do mũi nhận biết — đáng ưa, đáng muốn, dễ chịu, đẹp lòng, gắn với dục, khêu gợi tham,
Các vị do lưỡi nhận biết — đáng ưa, đáng muốn, dễ chịu, đẹp lòng, gắn với dục, khêu gợi tham,
Các xúc do thân nhận biết — đáng ưa, đáng muốn, dễ chịu, đẹp lòng, gắn với dục, khêu gợi tham —
Này các tỳ-kheo, đó là năm loại dục lạc giác quan.
Này các tỳ-kheo, lạc và hỷ khởi lên do duyên năm loại dục lạc giác quan ấy, đó gọi là dục lạc — thứ lạc dơ bẩn, lạc của kẻ phàm phu, lạc không bậc thánh.
"Chớ thân cận, chớ tu tập, chớ làm cho sung mãn; phải sợ hãi thứ lạc ấy" — Ta nói vậy.
Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng đạt và an trú vào thiền-na thứ nhất (tầng thiền định thứ nhất), một trạng thái có tầm có tứ, với hỷ và lạc sinh từ viễn ly.
Do tầm và tứ lắng xuống, vị ấy đạt được sự an tịnh của tâm bên trong và sự nhất tâm, rồi chứng đạt và an trú vào thiền-na thứ hai, một trạng thái không tầm không tứ, với hỷ và lạc sinh từ định.
Do hỷ lắng xuống, vị ấy an trú trong xả, có chánh niệm và tỉnh giác, cảm nhận lạc bằng thân, và chứng đạt thiền-na thứ ba, trạng thái mà các bậc thánh gọi là an trú trong lạc với xả và chánh niệm.
Do xả bỏ lạc và xả bỏ khổ, do hỷ và ưu đã lắng xuống từ trước, vị ấy chứng đạt và an trú vào thiền-na thứ tư, một trạng thái không khổ không lạc, với xả và niệm thanh tịnh.
Đó gọi là lạc của xuất ly, lạc của viễn ly, lạc của an tịnh, lạc của giác ngộ.
"Hãy thân cận, hãy tu tập, hãy làm cho sung mãn; chớ sợ hãi thứ lạc ấy" — Ta nói vậy.
"Hãy biết sự phân định lạc thọ;
sau khi biết sự phân định lạc thọ, hãy theo đuổi lạc thọ bên trong" —
Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do Ta nói điều ấy.
"Chớ nói lời sau lưng, chớ nói lời cay nghiệt trước mặt" —
Đó là điều Ta đã nói.
Nhưng vì duyên gì Ta nói điều ấy?
Này các tỳ-kheo, ở đây, khi biết một lời nói sau lưng là không thật, không đúng, không đem lại lợi ích, thì hãy cố hết sức đừng nói lời nói sau lưng ấy.
Khi biết một lời nói sau lưng là thật, đúng, nhưng không đem lại lợi ích, thì cũng nên tập không nói lời ấy.
Khi biết một lời nói sau lưng là thật, đúng, và đem lại lợi ích, thì nên biết đúng lúc để nói lời nói sau lưng ấy.
Này các tỳ-kheo, ở đây, khi biết một lời nói cay nghiệt trước mặt là không thật, không đúng, không đem lại lợi ích, thì hãy cố hết sức đừng nói lời nói cay nghiệt trước mặt ấy.
Khi biết một lời nói cay nghiệt trước mặt là thật, đúng, nhưng không đem lại lợi ích, thì cũng nên tập không nói lời ấy.
Khi biết một lời nói cay nghiệt trước mặt là thật, đúng, và đem lại lợi ích, thì nên biết đúng lúc để nói lời nói cay nghiệt trước mặt ấy.
"Chớ nói lời sau lưng, chớ nói lời cay nghiệt trước mặt" —
Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do Ta nói điều ấy.
"Hãy nói khi không vội vàng, chớ nói vội vàng" —
Đó là điều Ta đã nói. Nhưng vì duyên gì Ta nói điều ấy?
Này các tỳ-kheo, ở đây, người nói vội vàng thì thân mệt mỏi, tâm bị tổn hại, giọng bị tổn hại, cổ bị đau rát, và lời nói của người nói vội vàng thì không rõ ràng, khó hiểu.
Này các tỳ-kheo, ở đây, người nói không vội vàng thì thân không mệt mỏi, tâm không bị tổn hại, giọng không bị tổn hại, cổ không bị đau rát, và lời nói của người nói không vội vàng thì rõ ràng, dễ hiểu.
"Hãy nói khi không vội vàng, chớ nói vội vàng" —
Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do Ta nói điều ấy.
"Chớ cố chấp vào cách nói thông thường của người dân, chớ vượt quá danh xưng quen dùng" —
Đó là điều Ta đã nói. Nhưng vì duyên gì Ta nói điều ấy?
Và này các tỳ-kheo, thế nào là cố chấp vào cách nói thông thường của người dân và vượt quá danh xưng quen dùng?
[Chú thích: Những từ liệt kê bên dưới đều không phải từ địa phương hay tiếng địa phương, nên janapadanirutti ở đây nghĩa là cách nói đang lưu hành trong dân, từ ngữ phổ thông, chứ không phải tiếng địa phương. Một mảnh Phạn văn song song với đoạn này liệt kê nhiều từ khác nhau để chỉ con người, cũng không phải từ địa phương.]
Này các tỳ-kheo, ở đây, ở một số vùng, người ta nhận biết cùng một vật ấy là chén (pātī), là bát (patta), là hũ (vitta), là gáo (sarāva), là bình đựng (dhāropa), là đĩa sâu (poṇa), là mâm (pisīlava).
[Chú thích: Các từ này đều có trong tiếng Pali hay tiếng Phạn, và đây không phải chuyện dịch toàn bộ Pháp mà là chuyện dùng những từ phổ thông khác nhau cho cùng một vật. Pātī là cái chén, gốc từ √pā, nghĩa là uống; patta là cái bát của tỳ-kheo; vittha là cái hũ nhỏ; sarāva là cái gáo múc nước; poṇa là đĩa lòng chảo; pisīlava là mâm đựng bơ dùng trong tế lễ.]
Và tùy theo cách người ta nhận biết nó ở mỗi vùng, vị ấy nói theo cách ấy, khăng khăng bám víu và cố chấp:
"Chỉ điều này là sự thật, mọi thứ khác là vô ích."
Này các tỳ-kheo, như vậy là cố chấp vào cách nói thông thường của người dân và vượt quá danh xưng quen dùng.
Và này các tỳ-kheo, thế nào là không cố chấp vào cách nói thông thường của người dân và không vượt quá danh xưng quen dùng?
Này các tỳ-kheo, ở đây, ở một số vùng, người ta nhận biết cùng một vật ấy là chén (pātī), là bát (patta), là hũ (vitta), là gáo (sarāva), là bình đựng (dhāropa), là đĩa sâu (poṇa), là mâm (pisīlava).
Và tùy theo cách người ta nhận biết nó ở mỗi vùng, vị ấy nói theo cách ấy mà không bám víu, nghĩ rằng: "Hẳn là các vị tôn giả đang nói đến cái này."
Này các tỳ-kheo, như vậy là không cố chấp vào cách nói thông thường của người dân, và không vượt quá danh xưng quen dùng.
"Chớ cố chấp vào cách nói thông thường của người dân, chớ vượt quá danh xưng quen dùng" —
[Chú thích: Nên đọc đoạn này cùng với Kd 15:33.1.5, nơi bản Pali kể việc Đức Thế Tôn cho phép mỗi người dùng cách giải thích từ ngữ của riêng mình, tức sakāya niruttiya.]
Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do Ta nói điều ấy.
Này các tỳ-kheo, ở đây, sự đắm mình vào hỷ lạc gắn liền với dục lạc là thấp hèn, thô tục, của kẻ phàm phu, không bậc thánh, không đem lại lợi ích. Pháp ấy có khổ, có tổn hại, có ưu não, có nhiệt não;
đó là thực hành sai.
Vì thế, pháp ấy là pháp có tranh cãi.
Này các tỳ-kheo, ở đây, sự không đắm mình vào hỷ lạc gắn liền với dục lạc, thứ thấp hèn, thô tục, của kẻ phàm phu, không bậc thánh, không đem lại lợi ích, là pháp không khổ, không tổn hại, không ưu não, không nhiệt não;
đó là thực hành đúng.
Vì thế, pháp ấy là pháp không tranh cãi.
Này các tỳ-kheo, ở đây, sự đắm mình vào việc hành hạ thân xác là khổ đau, không bậc thánh, không đem lại lợi ích. Pháp ấy có khổ, có tổn hại, có ưu não, có nhiệt não;
đó là thực hành sai.
Vì thế, pháp ấy là pháp có tranh cãi.
Này các tỳ-kheo, ở đây, sự không đắm mình vào việc hành hạ thân xác, thứ khổ đau, không bậc thánh, không đem lại lợi ích, là pháp không khổ, không tổn hại, không ưu não, không nhiệt não;
đó là thực hành đúng.
Vì thế, pháp ấy là pháp không tranh cãi.
Này các tỳ-kheo, ở đây, con đường thực hành ở giữa mà Như Lai đã giác ngộ — con đường ấy tạo ra mắt, tạo ra tuệ, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn — pháp ấy không khổ, không tổn hại, không ưu não, không nhiệt não;
đó là thực hành đúng.
Vì thế, pháp ấy là pháp không tranh cãi.
Này các tỳ-kheo, ở đây, sự tâng bốc và sự chê bai mà không giảng Pháp — pháp ấy có khổ, có tổn hại, có ưu não, có nhiệt não;
đó là thực hành sai.
Vì thế, pháp ấy là pháp có tranh cãi.
Này các tỳ-kheo, ở đây, không tâng bốc, không chê bai, mà giảng Pháp — pháp ấy không khổ, không tổn hại, không ưu não, không nhiệt não;
đó là thực hành đúng.
Vì thế, pháp ấy là pháp không tranh cãi.
Này các tỳ-kheo, ở đây, dục lạc — thứ lạc dơ bẩn, lạc của kẻ phàm phu, lạc không bậc thánh — pháp ấy có khổ, có tổn hại, có ưu não, có nhiệt não;
đó là thực hành sai.
Vì thế, pháp ấy là pháp có tranh cãi.
Này các tỳ-kheo, ở đây, lạc của xuất ly, lạc của viễn ly, lạc của an tịnh, lạc của giác ngộ — pháp ấy không khổ, không tổn hại, không ưu não, không nhiệt não;
đó là thực hành đúng.
Vì thế, pháp ấy là pháp không tranh cãi.
Này các tỳ-kheo, ở đây, lời nói sau lưng không thật, không đúng, không đem lại lợi ích — pháp ấy có khổ, có tổn hại, có ưu não, có nhiệt não;
đó là thực hành sai.
Vì thế, pháp ấy là pháp có tranh cãi.
Này các tỳ-kheo, ở đây, lời nói sau lưng thật, đúng, nhưng không đem lại lợi ích — pháp ấy có khổ, có tổn hại, có ưu não, có nhiệt não;
đó là thực hành sai.
Vì thế, pháp ấy là pháp có tranh cãi.
Này các tỳ-kheo, ở đây, lời nói sau lưng thật, đúng, và đem lại lợi ích — pháp ấy không khổ, không tổn hại, không ưu não, không nhiệt não;
đó là thực hành đúng.
Vì thế, pháp ấy là pháp không tranh cãi.
Này các tỳ-kheo, ở đây, lời nói cay nghiệt trước mặt không thật, không đúng, không đem lại lợi ích — pháp ấy có khổ, có tổn hại, có ưu não, có nhiệt não;
đó là thực hành sai.
Vì thế, pháp ấy là pháp có tranh cãi.
Này các tỳ-kheo, ở đây, lời nói cay nghiệt trước mặt thật, đúng, nhưng không đem lại lợi ích — pháp ấy có khổ, có tổn hại, có ưu não, có nhiệt não;
đó là thực hành sai.
Vì thế, pháp ấy là pháp có tranh cãi.
Này các tỳ-kheo, ở đây, lời nói cay nghiệt trước mặt thật, đúng, và đem lại lợi ích — pháp ấy không khổ, không tổn hại, không ưu não, không nhiệt não;
đó là thực hành đúng.
Vì thế, pháp ấy là pháp không tranh cãi.
Này các tỳ-kheo, ở đây, lời nói vội vàng — pháp ấy có khổ, có tổn hại, có ưu não, có nhiệt não;
đó là thực hành sai.
Vì thế, pháp ấy là pháp có tranh cãi.
Này các tỳ-kheo, ở đây, lời nói không vội vàng — pháp ấy không khổ, không tổn hại, không ưu não, không nhiệt não;
đó là thực hành đúng.
Vì thế, pháp ấy là pháp không tranh cãi.
Này các tỳ-kheo, ở đây, sự cố chấp vào cách nói thông thường của người dân và sự vượt quá danh xưng quen dùng — pháp ấy có khổ, có tổn hại, có ưu não, có nhiệt não;
đó là thực hành sai.
Vì thế, pháp ấy là pháp có tranh cãi.
Này các tỳ-kheo, ở đây, sự không cố chấp vào cách nói thông thường của người dân và sự không vượt quá danh xưng quen dùng — pháp ấy không khổ, không tổn hại, không ưu não, không nhiệt não;
đó là thực hành đúng.
Vì thế, pháp ấy là pháp không tranh cãi.
Vì thế, này các tỳ-kheo, các ông hãy học như vầy: "Chúng ta sẽ biết pháp có tranh cãi và pháp không tranh cãi;
sau khi biết pháp có tranh cãi và pháp không tranh cãi, chúng ta sẽ thực hành con đường không tranh cãi." Này các tỳ-kheo, các ông phải học như vậy.
Và này các tỳ-kheo, thiện nam tử Subhūti đã thực hành con đường không tranh cãi.
[Chú thích: Việc này hẳn bắt nguồn từ chuyện Subhūti hộ trì cho vị tỳ-kheo bạn là Saddha (AN 11.14), nhờ đó ông được tuyên bố là đệ nhất về sống không tranh cãi (AN 1.201:1.1) và được khen là xứng đáng nhận vật cúng dường (AN 1.202:1.1). Thiền định của Subhūti được tán thán trong Ud 6.7, và bài kệ của ông mở đầu Trưởng lão Tăng kệ (Thag 1.1).]
Đức Thế Tôn nói như vậy.
Các tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tán thán lời Ngài dạy.
Kinh Phân Biệt Không Tranh Cãi, bài thứ chín, đến đây là hết.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.