buppou

Trung Bộ Kinh · bài 105/152

Kinh Sunakkhatta

Sunakkhattasutta

29 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Sunakkhatta (Sunakkhattasutta) là bài kinh thứ 105 trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Bài kinh diễn ra tại Vesālī, kinh đô của xứ Vajjī, trong một giảng đường có nóc nhọn giữa Đại Lâm. Người hỏi là Sunakkhatta, một thanh niên dòng Licchavi, dòng tộc quý tộc trị vì xứ ấy. Ông nghe tin nhiều tỳ-kheo vừa tuyên bố trước Đức Thế Tôn rằng họ đã chứng ngộ, rằng sinh đã tận, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa. Ông đến hỏi thẳng một câu rất tự nhiên: chuyện ấy có thật không, hay trong số đó có người chỉ nói quá về mình?

Câu trả lời của Đức Thế Tôn hẳn làm ông ngạc nhiên. Ngài không khẳng định tất cả đều đúng, cũng không bác bỏ tất cả. Ngài nói: trong số ấy có người chứng thật, và cũng có người chỉ lầm tưởng mình đã chứng. Chữ "lầm tưởng" ở đây không có nghĩa là nói dối. Một người tu tập, thấy tâm mình lắng xuống, thấy một sự an ổn chưa từng có, rồi tưởng đó là đích đến cuối cùng. Kinh gọi trạng thái ấy là adhimāna, sự tự phụ không có căn cứ, và Đức Thế Tôn xem đó là chuyện nhẹ, khác hẳn với tội cố ý nói dối về mình.

Phần lớn bài kinh là một cái thang có năm bậc. Bậc thấp nhất là năm loại dục lạc: sắc do mắt nhận biết, tiếng do tai, mùi do mũi, vị do lưỡi, xúc do thân. Trên đó là "cảnh giới bất động", tức trạng thái tâm vững chắc, thường là tầng thiền thứ tư trở lên. Rồi đến Vô sở hữu xứ, nơi không còn gì để nắm giữ; rồi Phi tưởng phi phi tưởng xứ, nơi nhận thức mờ đến mức khó nói là còn hay không còn; và sau cùng là Niết-bàn. Điều đáng chú ý là cách Đức Thế Tôn kiểm tra người ta đang đứng ở bậc nào: Ngài không hỏi họ đã đạt được gì, mà xem họ muốn nghe chuyện gì. Người còn say dục lạc thì nghe chuyện dục lạc là thấy hứng, nghe chuyện thiền định là thấy chán. Ai đã thật sự buông bậc dưới thì tự nhiên không còn muốn quay lại, cũng như chiếc lá đã rụng không xanh lại được.

Bốn hình ảnh được dùng cho bốn lần buông: chiếc lá úa đã rụng khỏi cuống, tảng đá lớn đã bửa làm đôi, món ăn ngon đã mửa ra, cây thốt nốt đã bị chặt ngọn. Mỗi hình ảnh ứng với một bậc, và mỗi lần đều khép lại bằng một câu giống nhau: nên biết người ấy đã lìa khỏi ràng buộc nào và đang hướng lòng về đâu. Cách nói ấy nghe như một công thức, nhưng thật ra nó là một phép thử: người ta không tự nhận mình ở bậc nào, chính chỗ họ chú ý cho biết điều đó.

Nửa sau bài kinh đổi giọng, và đây là phần khó nghe nhất. Có vị tỳ-kheo nghĩ mình đã xong việc: "Tham ái là mũi tên, vô minh là thuốc độc, ta đã nhổ cả hai." Nhưng rồi vị ấy vẫn đi tìm những sắc, tiếng, mùi, vị, xúc không thích hợp, và lòng tham làm nhiễm ô tâm. Đức Thế Tôn kể chuyện một người bị mũi tên tẩm độc bắn trúng, được bạn bè đưa thầy thuốc đến mổ lấy mũi tên, lấy thuốc độc ra, rồi dặn đủ điều: chỉ ăn món thích hợp, rửa vết thương mỗi ngày, thoa thuốc, đừng đi ngoài gió nắng. Người ấy gật đầu, nhưng rồi vẫn ăn đồ không lành, không rửa vết thương, phơi mình ngoài gió nắng, để vết thương mưng mủ và lan rộng, rồi chết. Đức Thế Tôn giải thích từng hình ảnh: vết thương là sáu giác quan, thuốc độc là vô minh, mũi tên là tham ái, que dò là chánh niệm, con dao mổ là tuệ, và thầy thuốc chính là Như Lai.

Bài kinh khép lại rất nhẹ: Sunakkhatta hoan hỷ, tán thán lời Đức Thế Tôn dạy. Nhưng người đọc hôm nay có thể mang về một câu hỏi không nhẹ chút nào: mình đang thật sự muốn nghe điều gì? Bài kinh không đòi ai phải tin ngay một hệ thống nào; nó chỉ ra rằng sự chú ý của mình là tấm gương trung thực nhất về chỗ mình đang đứng. Và nếu có lúc mình tưởng đã làm xong một việc gì, thì bài kinh nhắc rằng vẫn còn đó một vết thương cần rửa mỗi ngày.

Sunakkhattasutta — bài kinh dạy cho thanh niên Licchavi Sunakkhatta về năm loại dục lạc, về các cảnh giới thiền định cao hơn và về Niết-bàn, qua hình ảnh vết thương, mũi tên và thuốc độc


Tôi nghe như vầy.

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Vesālī (Tỳ-xá-li), trong Đại Lâm, tại giảng đường có nóc nhọn.

Lúc bấy giờ, nhiều tỳ-kheo đã tuyên bố sự chứng ngộ của mình trước Đức Thế Tôn rằng:

[Chú thích: Chuyện này cũng được kể ở SN 12.70, về trường hợp xuất gia đáng ngờ của du sĩ Susīma. "Chứng ngộ" ở đây là aññā, thuật ngữ chỉ sự hiểu biết về quả vị A-la-hán. Tỳ-kheo cố ý nói dối mình đã giác ngộ thì phạm tội bị trục xuất, còn nói thật với người chưa thọ giới thì phạm tội phải sám hối; thường các vị chỉ nói điều ấy trong Tăng đoàn, với thầy của mình, và bằng lời lẽ trang nghiêm.]

"Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa" — họ nói mình hiểu rõ như vậy.

Sunakkhatta, con trai dòng Licchavi (Lệ-xa), nghe được chuyện ấy:

[Chú thích: Đây có lẽ là lần đầu Sunakkhatta gặp Đức Thế Tôn. Kinh DN 6 cho biết sau khi xuất gia được ba năm, ông nói về những thành tựu thiền định còn hạn chế của mình. Kinh MN 12 và DN 24 kể lại những lời chỉ trích cay nghiệt của ông sau khi hoàn tục.]

Nghe nói nhiều tỳ-kheo đã tuyên bố sự chứng ngộ của mình trước Đức Thế Tôn rằng:

"Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa" — họ nói mình hiểu rõ như vậy.

Rồi Sunakkhatta, con trai dòng Licchavi, đi đến chỗ Đức Thế Tôn. Đến nơi, ông đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Sunakkhatta, con trai dòng Licchavi, thưa với Đức Thế Tôn:

"Bạch Thế Tôn, con nghe nói rằng:

nhiều tỳ-kheo đã tuyên bố sự chứng ngộ của mình trước Đức Thế Tôn, rằng:

'Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa' — họ nói mình hiểu rõ như vậy.

Bạch Thế Tôn, những tỳ-kheo ấy đã tuyên bố sự chứng ngộ trước Đức Thế Tôn, rằng:

'Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa' — họ nói mình hiểu rõ như vậy. Bạch Thế Tôn, phải chăng các tỳ-kheo ấy đã tuyên bố đúng, hay trong đó có những tỳ-kheo đã tuyên bố sự chứng ngộ vì lầm tưởng mình đã chứng?"

[Chú thích: Theo một kẽ hở trong cách hành văn của Luật, người thật sự si mê mà tưởng mình đã chứng điều mình không chứng thì không phạm tội khi nói ra. Đức Thế Tôn xem sự lầm tưởng ấy là chuyện nhẹ, không đáng kể.]

Này Sunakkhatta, những tỳ-kheo ấy đã tuyên bố sự chứng ngộ trước Ta, rằng:

"Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa" — họ nói mình hiểu rõ như vậy.

Trong đó, này Sunakkhatta, có những tỳ-kheo đã tuyên bố đúng, nhưng cũng có những tỳ-kheo đã tuyên bố sự chứng ngộ vì lầm tưởng mình đã chứng.

Này Sunakkhatta, với những tỳ-kheo đã tuyên bố đúng, thì đó đúng là sự thật.

Nhưng này Sunakkhatta, với những tỳ-kheo đã tuyên bố sự chứng ngộ vì lầm tưởng mình đã chứng, thì Như Lai nghĩ rằng:

"Ta sẽ giảng Pháp cho họ."

Và ở đây, này Sunakkhatta, Như Lai nghĩ như vầy:

"Ta sẽ giảng Pháp cho họ."

Nhưng rồi có những kẻ ngu si, mưu tính rồi mưu tính một câu hỏi, đi đến Như Lai để hỏi.

Này Sunakkhatta, ở đó, ngay cả điều Như Lai nghĩ:

"Ta sẽ giảng Pháp cho họ" — điều ấy cũng trở nên khác đi.

[Chú thích: Nghĩa là, khi họ toan dùng lý lẽ vụn vặt để gài bẫy, Ngài biết họ chưa sẵn sàng để được dạy.]

"Bạch Thế Tôn, nay đã đến lúc! Bậc Thiện thệ ơi, nay đã đến lúc!

Xin Đức Thế Tôn giảng Pháp. Các tỳ-kheo sau khi nghe sẽ ghi nhớ."

"Vậy thì, này Sunakkhatta, hãy nghe và khéo tác ý; Ta sẽ nói."

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn" — Sunakkhatta, con trai dòng Licchavi, đáp lại Đức Thế Tôn như vậy.

Đức Thế Tôn nói như vầy:

Này Sunakkhatta, có năm loại dục lạc này.

Năm là những gì?

Các sắc do mắt nhận biết, khả ái, đáng yêu, dễ chịu, đáng mến, liên quan đến dục, khêu gợi lòng tham.

Các âm thanh do tai nhận biết, khả ái, đáng yêu, dễ chịu, đáng mến, liên quan đến dục, khêu gợi lòng tham.

Các mùi hương do mũi nhận biết, khả ái, đáng yêu, dễ chịu, đáng mến, liên quan đến dục, khêu gợi lòng tham.

Các vị do lưỡi nhận biết, khả ái, đáng yêu, dễ chịu, đáng mến, liên quan đến dục, khêu gợi lòng tham.

Các xúc do thân nhận biết, khả ái, đáng yêu, dễ chịu, đáng mến, liên quan đến dục, khêu gợi lòng tham.

Này Sunakkhatta, đó là năm loại dục lạc.

Này Sunakkhatta, có thể có chuyện một người nào đó hướng lòng về dục lạc thế gian.

Này Sunakkhatta, người hướng lòng về dục lạc thế gian thì bắt chuyện đúng theo điều ấy, suy nghĩ và xét đoán theo đúng điều ấy, giao du với hạng người ấy, và lấy làm vui thích.

Nhưng khi người ta đang nói chuyện liên quan đến cảnh giới bất động, người ấy không buồn nghe, không lắng tai, không đặt tâm vào để hiểu, không giao du với hạng người ấy, và không lấy làm vui thích.

[Chú thích: "Bất động" (āneñja) chỉ những thành tựu thiền định cao, thường là tầng thiền thứ tư trở lên.]

Này Sunakkhatta, ví như một người đã rời làng mình hay thị trấn mình từ lâu.

Người ấy gặp một người khác vừa mới rời khỏi làng hay thị trấn đó.

Người ấy hỏi người kia xem làng hay thị trấn đó có yên ổn, có dồi dào lương thực, có ít bệnh tật không.

Người kia kể cho người ấy nghe rằng làng hay thị trấn đó yên ổn, dồi dào lương thực và ít bệnh tật.

"Này Sunakkhatta, ông nghĩ sao?

Người ấy có muốn nghe người kia nói, có lắng tai, có đặt tâm vào để hiểu, có giao du với người kia, và có lấy làm vui thích không?"

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn."

Cũng vậy, này Sunakkhatta, có thể có chuyện một người nào đó hướng lòng về dục lạc thế gian.

Này Sunakkhatta, người hướng lòng về dục lạc thế gian thì bắt chuyện đúng theo điều ấy, suy nghĩ và xét đoán theo đúng điều ấy, giao du với hạng người ấy, và lấy làm vui thích.

Nhưng khi người ta đang nói chuyện liên quan đến cảnh giới bất động, người ấy không buồn nghe, không lắng tai, không đặt tâm vào để hiểu, không giao du với hạng người ấy, và không lấy làm vui thích.


Nên biết về người ấy như vầy:

"Người này hướng lòng về dục lạc thế gian, vì đã lìa khỏi ràng buộc với cảnh giới bất động."

[Chú thích: Cách đọc āneñjasaṁyojanena hi kho visaṁyutto ở đây có vấn đề, vì nó ngụ ý người ấy đã thoát khỏi ràng buộc của bất động, nghĩa là đã chứng A-la-hán. Nhiều bản thảo bỏ cụm này, nhưng chú giải có giải thích nó. Có lẽ nó bắt lại cụm āneñjapaṭisaṁyuttāya ngay trước đó: người ấy không phải thoát khỏi "ràng buộc" của bất động, mà thoát khỏi "những gì liên quan đến" bất động, tức là không còn hứng thú với câu chuyện về nó.]

Này Sunakkhatta, có thể có chuyện một người nào đó hướng lòng về cảnh giới bất động.

Này Sunakkhatta, người hướng lòng về cảnh giới bất động thì bắt chuyện đúng theo điều ấy, suy nghĩ và xét đoán theo đúng điều ấy, giao du với hạng người ấy, và lấy làm vui thích.

Nhưng khi người ta đang nói chuyện liên quan đến dục lạc thế gian, người ấy không buồn nghe, không lắng tai, không đặt tâm vào để hiểu, không giao du với hạng người ấy, và không lấy làm vui thích.

Này Sunakkhatta, ví như một chiếc lá úa vàng đã rụng khỏi cuống, không còn khả năng xanh lại.

Cũng vậy, này Sunakkhatta, nơi người hướng lòng về cảnh giới bất động, những ràng buộc với dục lạc thế gian đã rụng rơi.

[Chú thích: Ở đây và trong các ví dụ sau, động từ dùng trong phần giải thích đi theo hình ảnh của ví dụ: lá thì "rụng", đá thì "bửa".]

Nên biết về người ấy như vầy:

"Người này hướng lòng về cảnh giới bất động, vì đã lìa khỏi ràng buộc với dục lạc thế gian."

Này Sunakkhatta, có thể có chuyện một người nào đó hướng lòng về Vô sở hữu xứ.

Này Sunakkhatta, người hướng lòng về Vô sở hữu xứ thì bắt chuyện đúng theo điều ấy, suy nghĩ và xét đoán theo đúng điều ấy, giao du với hạng người ấy, và lấy làm vui thích.

[Chú thích: Trường hợp này và trường hợp sau có thể ứng với hai vị thầy cũ của Đức Thế Tôn, những người đã dạy về Vô sở hữu xứ và Phi tưởng phi phi tưởng xứ.]

Nhưng khi người ta đang nói chuyện liên quan đến cảnh giới bất động, người ấy không buồn nghe, không lắng tai, không đặt tâm vào để hiểu, không giao du với hạng người ấy, và không lấy làm vui thích.

[Chú thích: Ở trường hợp này, "cảnh giới bất động" phải chỉ tầng thiền thứ tư và hai tầng vô sắc đầu tiên.]

Này Sunakkhatta, ví như một tảng đá lớn đã bị bửa làm đôi, không thể ghép lại được nữa.

Cũng vậy, này Sunakkhatta, nơi người hướng lòng về Vô sở hữu xứ, những ràng buộc với cảnh giới bất động đã bị bửa gãy.

Nên biết về người ấy như vầy:

"Người này hướng lòng về Vô sở hữu xứ, vì đã lìa khỏi ràng buộc với cảnh giới bất động."

Này Sunakkhatta, có thể có chuyện một người nào đó hướng lòng về Phi tưởng phi phi tưởng xứ.

Này Sunakkhatta, người hướng lòng về Phi tưởng phi phi tưởng xứ thì bắt chuyện đúng theo điều ấy, suy nghĩ và xét đoán theo đúng điều ấy, giao du với hạng người ấy, và lấy làm vui thích.

Nhưng khi người ta đang nói chuyện liên quan đến Vô sở hữu xứ, người ấy không buồn nghe, không lắng tai, không đặt tâm vào để hiểu, không giao du với hạng người ấy, và không lấy làm vui thích.

Này Sunakkhatta, ví như một người đã ăn một món ăn ngon rồi mửa ra.

"Này Sunakkhatta, ông nghĩ sao?

Người ấy có còn muốn ăn lại món ăn ấy nữa không?"

"Thưa không, bạch Thế Tôn."

"Vì sao vậy?"

"Bạch Thế Tôn, vì món ăn ấy đã bị xem là đáng ghê tởm."

Cũng vậy, này Sunakkhatta, nơi người hướng lòng về Phi tưởng phi phi tưởng xứ, những ràng buộc với Vô sở hữu xứ đã bị mửa ra.

Nên biết về người ấy như vầy:

"Người này hướng lòng về Phi tưởng phi phi tưởng xứ, vì đã lìa khỏi ràng buộc với Vô sở hữu xứ."

Này Sunakkhatta, có thể có chuyện một người nào đó hướng lòng về Niết-bàn một cách đúng đắn.

Này Sunakkhatta, người đúng đắn hướng lòng về Niết-bàn thì bắt chuyện đúng theo điều ấy, suy nghĩ và xét đoán theo đúng điều ấy, giao du với hạng người ấy, và lấy làm vui thích.

Nhưng khi người ta đang nói chuyện liên quan đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, người ấy không buồn nghe, không lắng tai, không đặt tâm vào để hiểu, không giao du với hạng người ấy, và không lấy làm vui thích.

Này Sunakkhatta, ví như một cây thốt nốt đã bị chặt ngọn, không còn khả năng mọc lại.

Cũng vậy, này Sunakkhatta, nơi người đúng đắn hướng lòng về Niết-bàn, những ràng buộc với Phi tưởng phi phi tưởng xứ đã bị chặt tận gốc, làm cho thành như gốc thốt nốt, thành không còn nữa, không còn khả năng sinh khởi trong tương lai.

Nên biết về người ấy như vầy:

"Người này đúng đắn hướng lòng về Niết-bàn, vì đã lìa khỏi ràng buộc với Phi tưởng phi phi tưởng xứ."

Này Sunakkhatta, có thể có chuyện một tỳ-kheo nào đó nghĩ rằng:

[Chú thích: Đức Thế Tôn tiếp đó nói về một trường hợp lầm tưởng mình đã chứng.]

"Sa-môn đã nói rằng tham ái là mũi tên, và rằng thuốc độc của vô minh bị ham muốn và sân hận làm cho sưng đau.

[Chú thích: "Sa-môn" ở đây chính là Đức Thế Tôn.]

Mũi tên tham ái ấy nơi tôi đã được dứt bỏ, thuốc độc vô minh đã được lấy đi, tôi đang đúng đắn hướng lòng về Niết-bàn."

Tuy vị ấy tự phụ như vậy, điều ấy không đúng với sự thật.

Vị ấy sẽ chuyên làm những việc không thích hợp với người đúng đắn hướng lòng về Niết-bàn: chuyên nhìn sắc bằng mắt một cách không thích hợp, chuyên nghe tiếng bằng tai một cách không thích hợp, chuyên ngửi mùi bằng mũi một cách không thích hợp, chuyên nếm vị bằng lưỡi một cách không thích hợp, chuyên xúc chạm bằng thân một cách không thích hợp, chuyên nghĩ đến pháp bằng ý một cách không thích hợp.

Khi vị ấy chuyên nhìn sắc bằng mắt một cách không thích hợp, chuyên nghe tiếng bằng tai một cách không thích hợp, chuyên ngửi mùi bằng mũi một cách không thích hợp, chuyên nếm vị bằng lưỡi một cách không thích hợp, chuyên xúc chạm bằng thân một cách không thích hợp, chuyên nghĩ đến pháp bằng ý một cách không thích hợp, thì lòng tham sẽ làm nhiễm ô tâm vị ấy.

Với tâm bị lòng tham làm nhiễm ô, vị ấy có thể đi đến cái chết hoặc nỗi đau đớn gần như chết.

Này Sunakkhatta, ví như một người bị mũi tên bắn trúng, mũi tên ấy tẩm thuốc độc dày.

Bạn bè, người thân, họ hàng của người ấy sẽ mời một vị thầy thuốc chuyên mổ lấy mũi tên đến.

Vị thầy thuốc ấy dùng dao rạch miệng vết thương.

Sau khi dùng dao rạch miệng vết thương, vị ấy dùng que dò tìm mũi tên.

Dò được mũi tên rồi, vị ấy lôi mũi tên ra, lấy thuốc độc ra, nhưng vẫn còn sót lại một phần.

[Chú thích: Saupādisesa là thuật ngữ quen dùng để chỉ những người đã chứng Niết-bàn mà còn dư tàn, tức năm uẩn còn tồn tại chừng nào mạng sống còn. Upādi cùng gốc với upādāna, thường dịch là "chấp thủ", nhưng ở đây mang nghĩa thứ hai là "duyên vật chất, chất đốt". Phần độc còn sót ấy chính là duyên vật chất có thể gây hại, cũng như năm uẩn vẫn để lại một phần khổ thân cho bậc đã hoàn tất.]

Biết rõ là vẫn còn sót lại, vị ấy nói như vầy:

[Chú thích: Bản Mahāsaṅgīti đọc là saupādiseso ti jānamāno, nghĩa là "biết rằng còn sót lại". Bản PTS và bản Xiêm lại đọc anupādiseso ti maññamāno, "tưởng rằng không còn sót lại", và bản dịch tiếng Anh theo cách đọc ấy. Một mảnh kinh bằng tiếng Phạn cũng ủng hộ cách đọc của bản PTS.]

"Này anh kia, mũi tên đã được lấy ra, thuốc độc đã được lấy đi, nhưng vẫn còn sót lại.

Nó vẫn còn đủ để gây nguy hại cho anh."

[Chú thích: Phần lớn các bản in ở đây đọc là "không đủ sức làm hại", điều có vẻ lạ vì ngay sau đó vị thầy thuốc nói cách đề phòng tác hại. Ở đây theo bản PTS, bản duy nhất đọc alañ ca te antarāyāya, và một mảnh kinh bằng tiếng Phạn cũng xác nhận cách đọc này.]


"Anh hãy chỉ ăn những món thích hợp; chớ để vì ăn những món không thích hợp mà vết thương của anh mưng mủ.

Anh hãy thường xuyên rửa vết thương và thoa thuốc vào miệng vết thương; chớ để vì không thường xuyên rửa vết thương và không thường xuyên thoa thuốc vào miệng vết thương mà mủ và máu bít kín miệng vết thương.

Chớ đi lại nhiều nơi gió và nắng; chớ để vì đi lại nhiều nơi gió và nắng mà bụi bẩn làm nhiễm miệng vết thương.

Này anh kia, anh hãy sống biết giữ gìn vết thương và làm cho nó lành lại."

Người ấy sẽ nghĩ rằng:

"Mũi tên nơi tôi đã được lấy ra, thuốc độc đã được lấy đi, không còn sót lại chút nào.

Nó không đủ sức làm hại tôi."

[Chú thích: Các bản Pali đều nhất trí rằng người bệnh nghĩ là nó không thể gây hại, điều này, nếu theo cách đọc của bản PTS ở trên, cho thấy người ấy đã hiểu sai lời dặn của thầy thuốc. Một mảnh kinh bằng tiếng Phạn lại nói rằng người ấy hiểu nó có thể gây hại, tức là biết vậy mà vẫn làm điều không thích hợp; ở đây không theo bản ấy vì không bản Pali nào có cách đọc đó.]

Người ấy sẽ ăn những món không thích hợp. Vì ăn những món không thích hợp, vết thương của người ấy mưng mủ.

Người ấy không thường xuyên rửa vết thương, cũng không thường xuyên thoa thuốc vào miệng vết thương. Vì không thường xuyên rửa vết thương và không thường xuyên thoa thuốc vào miệng vết thương, mủ và máu bít kín miệng vết thương.

Người ấy lại đi lại nhiều nơi gió và nắng. Vì đi lại nhiều nơi gió và nắng, bụi bẩn làm nhiễm miệng vết thương.

Người ấy không sống biết giữ gìn vết thương, cũng không làm cho vết thương lành lại.

Do cả việc làm không thích hợp ấy lẫn chất độc dơ bẩn đã được lấy đi mà vẫn còn sót lại, vết thương của người ấy sẽ lan rộng,

Với vết thương đã lan rộng, người ấy có thể đi đến cái chết hoặc nỗi đau đớn gần như chết.

Cũng vậy, này Sunakkhatta, có thể có chuyện một tỳ-kheo nào đó nghĩ rằng:

"Sa-môn đã nói rằng tham ái là mũi tên, và rằng thuốc độc của vô minh bị ham muốn và sân hận làm cho sưng đau.

Mũi tên tham ái ấy nơi tôi đã được dứt bỏ, thuốc độc vô minh đã được lấy đi, tôi đang đúng đắn hướng lòng về Niết-bàn."

Tuy vị ấy tự phụ như vậy, điều ấy không đúng với sự thật.

Vị ấy sẽ chuyên làm những việc không thích hợp với người đúng đắn hướng lòng về Niết-bàn: chuyên nhìn sắc bằng mắt một cách không thích hợp, chuyên nghe tiếng bằng tai một cách không thích hợp, chuyên ngửi mùi bằng mũi một cách không thích hợp, chuyên nếm vị bằng lưỡi một cách không thích hợp, chuyên xúc chạm bằng thân một cách không thích hợp, chuyên nghĩ đến pháp bằng ý một cách không thích hợp.

Khi vị ấy chuyên nhìn sắc bằng mắt một cách không thích hợp, chuyên nghe tiếng bằng tai một cách không thích hợp, chuyên ngửi mùi bằng mũi một cách không thích hợp, chuyên nếm vị bằng lưỡi một cách không thích hợp, chuyên xúc chạm bằng thân một cách không thích hợp, chuyên nghĩ đến pháp bằng ý một cách không thích hợp, thì lòng tham sẽ làm nhiễm ô tâm vị ấy.

Với tâm bị lòng tham làm nhiễm ô, vị ấy có thể đi đến cái chết hoặc nỗi đau đớn gần như chết.

Này Sunakkhatta, trong giới luật của bậc thánh, ai đã từ bỏ sự tu học mà trở về đời sống thấp kém, thì đó là cái chết.

Này Sunakkhatta, ai phạm vào một trong những tội ô nhiễm, thì đó là nỗi đau gần như chết.

Này Sunakkhatta, có thể có chuyện một tỳ-kheo nào đó nghĩ rằng:

"Sa-môn đã nói rằng tham ái là mũi tên, và rằng thuốc độc của vô minh bị ham muốn và sân hận làm cho sưng đau.

Mũi tên tham ái ấy nơi tôi đã được dứt bỏ, thuốc độc vô minh đã được lấy đi, tôi đang đúng đắn hướng lòng về Niết-bàn."

Vì là người đúng đắn hướng lòng về Niết-bàn, vị ấy sẽ không chuyên làm những việc không thích hợp với người đúng đắn hướng lòng về Niết-bàn: không nhìn sắc bằng mắt một cách không thích hợp, không nghe tiếng bằng tai một cách không thích hợp, không ngửi mùi bằng mũi một cách không thích hợp, không nếm vị bằng lưỡi một cách không thích hợp, không xúc chạm bằng thân một cách không thích hợp, không nghĩ đến pháp bằng ý một cách không thích hợp.

Khi vị ấy không nhìn sắc bằng mắt một cách không thích hợp, không nghe tiếng bằng tai một cách không thích hợp, không ngửi mùi bằng mũi một cách không thích hợp, không nếm vị bằng lưỡi một cách không thích hợp, không xúc chạm bằng thân một cách không thích hợp, không nghĩ đến pháp bằng ý một cách không thích hợp, thì lòng tham sẽ không làm nhiễm ô tâm vị ấy.

Với tâm không bị lòng tham làm nhiễm ô, vị ấy sẽ không đi đến cái chết, cũng không đi đến nỗi đau đớn gần như chết.

Này Sunakkhatta, ví như một người bị mũi tên bắn trúng, mũi tên ấy tẩm thuốc độc dày.

Bạn bè, người thân, họ hàng của người ấy sẽ mời một vị thầy thuốc chuyên mổ lấy mũi tên đến.

Vị thầy thuốc ấy dùng dao rạch miệng vết thương.

Sau khi dùng dao rạch miệng vết thương, vị ấy dùng que dò tìm mũi tên.

Dò được mũi tên rồi, vị ấy lôi mũi tên ra, lấy thuốc độc ra, không còn sót lại chút nào.

Biết rõ là không còn sót lại, vị ấy nói như vầy:

"Này anh kia, mũi tên đã được lấy ra, thuốc độc đã được lấy đi, không còn sót lại.

Nó không đủ sức làm hại anh."

"Anh hãy chỉ ăn những món thích hợp; chớ để vì ăn những món không thích hợp mà vết thương của anh mưng mủ.

Anh hãy thường xuyên rửa vết thương và thoa thuốc vào miệng vết thương; chớ để vì không thường xuyên rửa vết thương và không thường xuyên thoa thuốc vào miệng vết thương mà mủ và máu bít kín miệng vết thương.

Chớ đi lại nhiều nơi gió và nắng; chớ để vì đi lại nhiều nơi gió và nắng mà bụi bẩn làm nhiễm miệng vết thương.

Này anh kia, anh hãy sống biết giữ gìn vết thương và làm cho nó lành lại."

Người ấy sẽ nghĩ rằng:

"Mũi tên nơi tôi đã được lấy ra, thuốc độc đã được lấy đi, không còn sót lại chút nào.

Nó không đủ sức làm hại tôi."

Người ấy sẽ ăn những món thích hợp. Vì ăn những món thích hợp, vết thương của người ấy không mưng mủ.

Người ấy thường xuyên rửa vết thương, thường xuyên thoa thuốc vào miệng vết thương. Vì thường xuyên rửa vết thương và thường xuyên thoa thuốc vào miệng vết thương, mủ và máu không bít kín miệng vết thương.

Người ấy không đi lại nhiều nơi gió và nắng. Vì không đi lại nhiều nơi gió và nắng, bụi bẩn không làm nhiễm miệng vết thương.

Người ấy sống biết giữ gìn vết thương và làm cho vết thương lành lại.

Do cả việc làm thích hợp ấy lẫn chất độc dơ bẩn đã được lấy đi mà không còn sót lại, vết thương của người ấy sẽ lành lại,

Với vết thương đã lành và da đã liền, người ấy sẽ không đi đến cái chết, cũng không đi đến nỗi đau đớn gần như chết.

Cũng vậy, này Sunakkhatta, có thể có chuyện một tỳ-kheo nào đó nghĩ rằng:


"Sa-môn đã nói rằng tham ái là mũi tên, và rằng thuốc độc của vô minh bị ham muốn và sân hận làm cho sưng đau.

Mũi tên tham ái ấy nơi tôi đã được dứt bỏ, thuốc độc vô minh đã được lấy đi, tôi đang đúng đắn hướng lòng về Niết-bàn."

Vì là người đúng đắn hướng lòng về Niết-bàn, vị ấy sẽ không chuyên làm những việc không thích hợp với người đúng đắn hướng lòng về Niết-bàn: không nhìn sắc bằng mắt một cách không thích hợp, không nghe tiếng bằng tai một cách không thích hợp, không ngửi mùi bằng mũi một cách không thích hợp, không nếm vị bằng lưỡi một cách không thích hợp, không xúc chạm bằng thân một cách không thích hợp, không nghĩ đến pháp bằng ý một cách không thích hợp.

Khi vị ấy không nhìn sắc bằng mắt một cách không thích hợp, không nghe tiếng bằng tai một cách không thích hợp, không ngửi mùi bằng mũi một cách không thích hợp, không nếm vị bằng lưỡi một cách không thích hợp, không xúc chạm bằng thân một cách không thích hợp, không nghĩ đến pháp bằng ý một cách không thích hợp, thì lòng tham sẽ không làm nhiễm ô tâm vị ấy.

Với tâm không bị lòng tham làm nhiễm ô, vị ấy sẽ không đi đến cái chết, cũng không đi đến nỗi đau đớn gần như chết.

Này Sunakkhatta, Ta đã dựng ra ví dụ này để làm cho người ta hiểu được ý nghĩa.

Ý nghĩa ở đây là thế này:

Này Sunakkhatta, "vết thương" là tên gọi của sáu nội xứ.

"Thuốc độc" là tên gọi của vô minh.

"Mũi tên" là tên gọi của tham ái.

"Que dò" là tên gọi của chánh niệm.

"Con dao" là tên gọi của tuệ của bậc thánh.

"Thầy thuốc chuyên mổ lấy mũi tên" là tên gọi của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác.

Này Sunakkhatta, tỳ-kheo ấy quả thật là người hành trì sự thu thúc nơi sáu xúc xứ:

Sau khi biết rõ "chấp thủ là gốc của khổ", vị ấy không còn chấp thủ, được giải thoát nhờ sự đoạn diệt các chấp thủ. Chuyện vị ấy lại đưa thân hay khởi tâm hướng về một chấp thủ nào thì không thể xảy ra.

[Chú thích: "Chấp thủ" ở đây là upadhi, vừa chỉ những thứ trên đời mà người ta bám vào, vừa chỉ sự bám víu bên trong. Người Kỳ-na giáo cũng định nghĩa upadhi theo cách tương tự. Nghĩa chính của từ này trong tiếng Phạn là "gian trá", có lẽ đã ảnh hưởng đến nghĩa Phật giáo.]

Này Sunakkhatta, ví như một chén nước uống bằng đồng có màu sắc đẹp, hương thơm, vị ngon.

Nhưng chén ấy đã bị pha thuốc độc.

Rồi có một người đi đến, người ấy muốn sống, không muốn chết, muốn vui sướng, ghê sợ đau khổ.

"Này Sunakkhatta, ông nghĩ sao?

Người ấy có uống chén nước ấy không, nếu biết rằng:

'Uống chén này xong, ta sẽ đi đến cái chết hoặc nỗi đau đớn gần như chết'?"

"Thưa không, bạch Thế Tôn."

Cũng vậy, này Sunakkhatta, tỳ-kheo ấy quả thật là người hành trì sự thu thúc nơi sáu xúc xứ:

Sau khi biết rõ "chấp thủ là gốc của khổ", vị ấy không còn chấp thủ, được giải thoát nhờ sự đoạn diệt các chấp thủ. Chuyện vị ấy lại đưa thân hay khởi tâm hướng về một chấp thủ nào thì không thể xảy ra.

Này Sunakkhatta, ví như một con rắn độc dữ dằn.

Rồi có một người đi đến, người ấy muốn sống, không muốn chết, muốn vui sướng, ghê sợ đau khổ.

"Này Sunakkhatta, ông nghĩ sao?

Người ấy có đưa tay hay ngón tay cho con rắn độc dữ dằn ấy không, nếu biết rằng:

'Bị nó cắn, ta sẽ đi đến cái chết hoặc nỗi đau đớn gần như chết'?"

"Thưa không, bạch Thế Tôn."

Cũng vậy, này Sunakkhatta, tỳ-kheo ấy quả thật là người hành trì sự thu thúc nơi sáu xúc xứ:

Sau khi biết rõ "chấp thủ là gốc của khổ", vị ấy không còn chấp thủ, được giải thoát nhờ sự đoạn diệt các chấp thủ. Chuyện vị ấy lại đưa thân hay khởi tâm hướng về một chấp thủ nào —

điều ấy không thể xảy ra.

Đức Thế Tôn nói như vậy.

Sunakkhatta, con trai dòng Licchavi, hoan hỷ, tán thán lời Đức Thế Tôn dạy.

Kinh Sunakkhatta hoàn tất, bài thứ năm.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →