Trung Bộ Kinh · bài 40/152
Tiểu Kinh Assapura
Cūḷaassapura Sutta — "Tiểu Kinh Assapura", bài kinh giảng tại thị trấn Assapura
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Tiểu Kinh Assapura (Cūḷaassapura Sutta) là bài kinh thứ 40 trong Trung Bộ Kinh, bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali, và là bài cuối của phẩm Mahāyamakavagga. Bài kinh được giảng tại thị trấn Assapura, trong xứ Aṅga, ngay sau Đại Kinh Assapura, và cũng trọn vẹn là lời Đức Thế Tôn dạy các tỳ-kheo, không có câu chuyện phụ nào chen vào.
Bài kinh mở đầu bằng một chuyện ai cũng gặp. Người đời gọi những người đi tu ấy là "sa-môn", nghĩa là người xuất gia, người từ bỏ đời sống thế tục để tìm điều gì đó khác. Và khi được hỏi "các ông là ai", chính họ cũng trả lời "chúng tôi là sa-môn". Vậy thì cái tên ấy có đúng không? Một cái tên do người khác đặt, và một lời tự nhận do mình nói ra, chỉ thành thật khi đời sống bên trong khớp với chúng. Cả bài kinh là câu trả lời cho chỗ khớp ấy.
Trước hết, Đức Thế Tôn loại bỏ những câu trả lời dễ nhất. Có người nghĩ mặc tấm y kép là đủ, có người nghĩ ở trần là đủ, có người nghĩ phủ bụi đất, ngâm nước, ở gốc cây, ở giữa trời, đứng mãi, ăn theo kỳ hạn, tụng chú, để tóc bện là đủ. Mười hạnh ấy, Ngài nói, tự chúng không làm nên một sa-môn. Rồi Ngài đưa ra một hình ảnh khó quên: một thứ vũ khí hai lưỡi, mài sáng vàng, được phủ lên và quấn kín bằng tấm y kép. Bề ngoài là màu vàng của người tu, bên trong là thứ giết người. Việc xuất gia mà chỉ có hình thức bên ngoài thì cũng vậy.
Sau đó là câu trả lời thật. Một vị tỳ-kheo trước hết phải dẹp mười hai thứ trong tâm mình: tham lam, sân hận, giận dữ, oán hận, chê bai, khinh miệt, ganh tị, keo kiệt, gian xảo, xảo trá, ước muốn xấu xa và tà kiến. Bài kinh có một lập luận chặt: nếu chỉ khoác y kép mà dẹp được những thứ ấy, thì cha mẹ, bà con đã cho đứa trẻ vừa sinh ra khoác y ngay lập tức rồi. Không phải vậy. Chỉ khi những thứ ấy thật sự lắng xuống, trong tâm mới sinh niềm vui, rồi hỷ, rồi thân lắng dịu, rồi an lạc, rồi định. Từ chỗ ấy, vị ấy rải lòng từ, lòng bi, lòng vui và lòng xả ra khắp mọi phương.
Hình ảnh cuối bài là một hồ sen có nước trong, nước ngọt, nước mát, bờ dễ xuống. Người nào đi đến từ phương nào, bị nắng thiêu đốt và khát khô đến đâu, khi tới hồ ấy cũng dẹp được cơn khát và cái nóng. Cũng vậy, ai xuất gia, dù từ gia đình vua chúa, bà-la-môn, thương nhân hay nô lệ, khi đến với Pháp và Luật và tu tập bốn tâm ấy, đều được sự lắng dịu bên trong như nhau. Bài kinh khép lại bằng một câu gọn: do lậu hoặc đã tận, vị ấy là sa-môn. Cái tên ấy không do y áo mà thành, mà do sạch hết những gì làm tâm ô nhiễm.
Với người mới đọc kinh, bài này ngắn và dễ theo, vì nó không dạy một loạt phép tu mà chỉ hỏi một câu: mình có đang là điều mình tự nhận không? Bài trước nó, Đại Kinh Assapura, trả lời câu ấy bằng một chuỗi bước rất dài, mỗi bước đều kèm lời nhắc đừng dừng lại giữa đường. Bài này trả lời bằng cách so sánh: bên ngoài và bên trong, cái vỏ và cái lõi, và một hồ nước mát ai cũng được uống như nhau.
Tôi nghe như vầy.
[Chú thích: Bài kinh này bàn cùng một chủ đề với bài trước, nhưng khác về cách diễn đạt và nội dung.]
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn đang trú trong xứ Aṅga, tại thị trấn Assapura của người Aṅga.
Tại đó, Đức Thế Tôn gọi các tỳ-kheo:
"Này các tỳ-kheo!"
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ-kheo đáp lời Đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn nói như vầy:
Này các tỳ-kheo, người đời nhận biết các ông là sa-môn, là sa-môn.
Thế mà khi được hỏi 'Các ông là ai?', các ông lại nhận mình là 'chúng tôi là sa-môn'.
Với danh xưng ấy và lời tự nhận ấy, này các tỳ-kheo, các ông hãy học tập như vầy:
'Chúng ta sẽ sống theo cách thực hành thích hợp với sa-môn;
như vậy danh xưng này của chúng ta sẽ thành đúng thật, và lời tự nhận này sẽ thành chân thực;
và những người mà chúng ta thọ dụng y phục, đồ ăn khất thực, chỗ trú, thuốc men và vật dụng chữa bệnh từ họ, thì những việc làm của họ đối với chúng ta sẽ có quả lớn, có lợi lớn; và việc xuất gia này của chúng ta sẽ không trống rỗng, mà có quả, có thành tựu.'
Các ông hãy học tập đúng như vậy.
Và này các tỳ-kheo, thế nào là vị tỳ-kheo không sống theo cách thực hành thích hợp với sa-môn?
[Chú thích: Đây là những hình thức hiểu lầm về giới cấm và lễ nghi, tự chúng không làm nên sự thanh tịnh tâm linh.]
Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo nào còn tham lam mà tham lam chưa được từ bỏ, có tâm sân hận mà sân hận chưa được từ bỏ, còn giận dữ mà giận dữ chưa được từ bỏ, còn oán hận mà oán hận chưa được từ bỏ, còn chê bai mà chê bai chưa được từ bỏ, còn khinh miệt mà khinh miệt chưa được từ bỏ, còn ganh tị mà ganh tị chưa được từ bỏ, còn keo kiệt mà keo kiệt chưa được từ bỏ, còn gian xảo mà gian xảo chưa được từ bỏ, còn xảo trá mà xảo trá chưa được từ bỏ, còn ước muốn xấu xa mà ước muốn xấu xa chưa được từ bỏ, còn tà kiến mà tà kiến chưa được từ bỏ—
[Chú thích: Có thể so sánh danh sách này với mười sáu thứ làm tâm ô nhiễm trong bài Kinh Ví Dụ Tấm Vải.]
Chính vì không từ bỏ những cấu uế của sa-môn, những lỗi lầm của sa-môn, những cặn bã của sa-môn này — những cớ đưa đến đọa xứ, phải chịu quả trong đường dữ — nên này các tỳ-kheo, Ta nói rằng vị ấy không sống theo cách thực hành thích hợp với sa-môn.
Này các tỳ-kheo, ví như một thứ vũ khí gọi là 'mataja', có hai lưỡi, được mài cho sáng vàng.
[Chú thích: Mataja nghĩa đen là 'sinh ra từ kẻ chết'; bản chú giải giải thích đó là một thứ sắt lấy từ xác một con diệc, nhưng cách chế tạo ấy không tìm thấy ở đâu khác. Pītanisita có thể là 'mài bằng đá ướt', hoặc 'mài bằng chất màu vàng', và sách Arthasāstra chép việc xoa chất màu vàng lên kim loại để đánh lừa con mắt. Điều này hợp với mạch văn: vị được cho là tỳ-kheo khoác y vàng, bề ngoài sáng loáng, bên trong lại là thứ giết người.]
Thứ vũ khí ấy được phủ lên và quấn kín bằng một tấm y kép.
Này các tỳ-kheo, Ta nói rằng việc xuất gia của vị tỳ-kheo ấy cũng như thế.
Này các tỳ-kheo, Ta không nói rằng chỉ vì khoác y kép mà người khoác y kép trở thành sa-môn.
Này các tỳ-kheo, Ta không nói rằng chỉ vì ở trần mà người ở trần trở thành sa-môn.
Này các tỳ-kheo, Ta không nói rằng chỉ vì phủ bụi đất mà người phủ bụi đất trở thành sa-môn.
[Chú thích: Hạnh phủ bụi đất cũng được nhắc trong nhiều kinh khác, chung với một vài mục trong danh sách này. Có những tu sĩ, như phái Nigaṇṭha, không tắm.]
Này các tỳ-kheo, Ta không nói rằng chỉ vì ngâm mình trong nước mà người ngâm nước trở thành sa-môn.
Này các tỳ-kheo, Ta không nói rằng chỉ vì ở dưới gốc cây mà người ở gốc cây trở thành sa-môn.
Này các tỳ-kheo, Ta không nói rằng chỉ vì ở giữa trời mà người ở giữa trời trở thành sa-môn.
Này các tỳ-kheo, Ta không nói rằng chỉ vì đứng mãi mà người thường đứng trở thành sa-môn.
Này các tỳ-kheo, Ta không nói rằng chỉ vì ăn theo kỳ hạn mà người ăn theo kỳ hạn trở thành sa-môn.
Này các tỳ-kheo, Ta không nói rằng chỉ vì tụng chú mà người tụng chú trở thành sa-môn.
Này các tỳ-kheo, Ta không nói rằng chỉ vì để tóc bện mà tu sĩ bện tóc trở thành sa-môn.
[Chú thích: Các tu sĩ bện tóc này hình như chính là hạng ẩn sĩ ở rừng mà Kauṭilya mô tả: sống độc thân, ngủ dưới đất, mặc da linh dương và để tóc bện, mỗi ngày dâng lửa tế, tắm rửa, thờ trời, tổ tiên và khách, và ăn hoa quả trong rừng.]
Này các tỳ-kheo, nếu chỉ vì khoác y kép mà người còn tham lam có thể từ bỏ tham lam, người có tâm sân hận có thể từ bỏ sân hận, người còn giận dữ có thể từ bỏ giận dữ, người còn oán hận có thể từ bỏ oán hận, người còn chê bai có thể từ bỏ chê bai, người còn khinh miệt có thể từ bỏ khinh miệt, người còn ganh tị có thể từ bỏ ganh tị, người còn keo kiệt có thể từ bỏ keo kiệt, người còn gian xảo có thể từ bỏ gian xảo, người còn xảo trá có thể từ bỏ xảo trá, người còn ước muốn xấu xa có thể từ bỏ ước muốn xấu xa, người còn tà kiến có thể từ bỏ tà kiến, thì bạn bè, thân hữu, bà con dòng họ của người ấy sẽ làm cho người ấy thành người khoác y kép ngay từ lúc mới sinh, và sẽ khuyến khích người ấy như vầy:
'Này con yêu quý, con hãy khoác y kép đi, khi con là người khoác y kép, chỉ vì khoác y kép mà tham lam của người còn tham lam sẽ được từ bỏ, sân hận của người có tâm sân hận sẽ được từ bỏ, giận dữ của người còn giận dữ sẽ được từ bỏ, oán hận của người còn oán hận sẽ được từ bỏ, chê bai của người còn chê bai sẽ được từ bỏ, khinh miệt của người còn khinh miệt sẽ được từ bỏ, ganh tị của người còn ganh tị sẽ được từ bỏ, keo kiệt của người còn keo kiệt sẽ được từ bỏ, gian xảo của người còn gian xảo sẽ được từ bỏ, xảo trá của người còn xảo trá sẽ được từ bỏ, ước muốn xấu xa của người còn ước muốn xấu xa sẽ được từ bỏ, tà kiến của người còn tà kiến sẽ được từ bỏ.'
[Chú thích: Bhadramukha là cách gọi âu yếm mà người trong nhà dùng với trẻ nhỏ, về sau cũng dùng khi nói với người bậc dưới hay với thái tử. Ở đây nó mang nghĩa 'con yêu quý' hơn là 'mặt đẹp'.]
Nhưng này các tỳ-kheo, vì Ta thấy ở đời này có người khoác y kép mà vẫn còn tham lam, có tâm sân hận, còn giận dữ, còn oán hận, còn chê bai, còn khinh miệt, còn ganh tị, còn keo kiệt, còn gian xảo, còn xảo trá, còn ước muốn xấu xa, còn tà kiến, nên Ta không nói rằng chỉ vì khoác y kép mà người khoác y kép trở thành sa-môn.
Này các tỳ-kheo, nếu chỉ vì ở trần mà người còn tham lam có thể từ bỏ tham lam, người có tâm sân hận có thể từ bỏ sân hận, người còn giận dữ có thể từ bỏ giận dữ, người còn oán hận có thể từ bỏ oán hận, người còn chê bai có thể từ bỏ chê bai, người còn khinh miệt có thể từ bỏ khinh miệt, người còn ganh tị có thể từ bỏ ganh tị, người còn keo kiệt có thể từ bỏ keo kiệt, người còn gian xảo có thể từ bỏ gian xảo, người còn xảo trá có thể từ bỏ xảo trá, người còn ước muốn xấu xa có thể từ bỏ ước muốn xấu xa, người còn tà kiến có thể từ bỏ tà kiến, thì bạn bè, thân hữu, bà con dòng họ của người ấy sẽ làm cho người ấy thành người ở trần ngay từ lúc mới sinh, và sẽ khuyến khích người ấy như vầy: 'Này con yêu quý, con hãy ở trần đi, khi con là người ở trần, chỉ vì ở trần mà tham lam của người còn tham lam sẽ được từ bỏ, sân hận của người có tâm sân hận sẽ được từ bỏ, giận dữ của người còn giận dữ sẽ được từ bỏ, oán hận của người còn oán hận sẽ được từ bỏ, chê bai của người còn chê bai sẽ được từ bỏ, khinh miệt của người còn khinh miệt sẽ được từ bỏ, ganh tị của người còn ganh tị sẽ được từ bỏ, keo kiệt của người còn keo kiệt sẽ được từ bỏ, gian xảo của người còn gian xảo sẽ được từ bỏ, xảo trá của người còn xảo trá sẽ được từ bỏ, ước muốn xấu xa của người còn ước muốn xấu xa sẽ được từ bỏ, tà kiến của người còn tà kiến sẽ được từ bỏ.' Nhưng này các tỳ-kheo, vì Ta thấy ở đời này có người ở trần mà vẫn còn tham lam, có tâm sân hận, còn giận dữ, còn oán hận, còn chê bai, còn khinh miệt, còn ganh tị, còn keo kiệt, còn gian xảo, còn xảo trá, còn ước muốn xấu xa, còn tà kiến, nên Ta không nói rằng chỉ vì ở trần mà người ở trần trở thành sa-môn.
Này các tỳ-kheo, nếu chỉ vì phủ bụi đất mà người còn tham lam có thể từ bỏ tham lam, người có tâm sân hận có thể từ bỏ sân hận, người còn giận dữ có thể từ bỏ giận dữ, người còn oán hận có thể từ bỏ oán hận, người còn chê bai có thể từ bỏ chê bai, người còn khinh miệt có thể từ bỏ khinh miệt, người còn ganh tị có thể từ bỏ ganh tị, người còn keo kiệt có thể từ bỏ keo kiệt, người còn gian xảo có thể từ bỏ gian xảo, người còn xảo trá có thể từ bỏ xảo trá, người còn ước muốn xấu xa có thể từ bỏ ước muốn xấu xa, người còn tà kiến có thể từ bỏ tà kiến, thì bạn bè, thân hữu, bà con dòng họ của người ấy sẽ làm cho người ấy thành người phủ bụi đất ngay từ lúc mới sinh, và sẽ khuyến khích người ấy như vầy: 'Này con yêu quý, con hãy phủ bụi đất đi, khi con là người phủ bụi đất, chỉ vì phủ bụi đất mà tham lam của người còn tham lam sẽ được từ bỏ, sân hận của người có tâm sân hận sẽ được từ bỏ, giận dữ của người còn giận dữ sẽ được từ bỏ, oán hận của người còn oán hận sẽ được từ bỏ, chê bai của người còn chê bai sẽ được từ bỏ, khinh miệt của người còn khinh miệt sẽ được từ bỏ, ganh tị của người còn ganh tị sẽ được từ bỏ, keo kiệt của người còn keo kiệt sẽ được từ bỏ, gian xảo của người còn gian xảo sẽ được từ bỏ, xảo trá của người còn xảo trá sẽ được từ bỏ, ước muốn xấu xa của người còn ước muốn xấu xa sẽ được từ bỏ, tà kiến của người còn tà kiến sẽ được từ bỏ.' Nhưng này các tỳ-kheo, vì Ta thấy ở đời này có người phủ bụi đất mà vẫn còn tham lam, có tâm sân hận, còn giận dữ, còn oán hận, còn chê bai, còn khinh miệt, còn ganh tị, còn keo kiệt, còn gian xảo, còn xảo trá, còn ước muốn xấu xa, còn tà kiến, nên Ta không nói rằng chỉ vì phủ bụi đất mà người phủ bụi đất trở thành sa-môn.
Này các tỳ-kheo, nếu chỉ vì ngâm mình trong nước mà người còn tham lam có thể từ bỏ tham lam, người có tâm sân hận có thể từ bỏ sân hận, người còn giận dữ có thể từ bỏ giận dữ, người còn oán hận có thể từ bỏ oán hận, người còn chê bai có thể từ bỏ chê bai, người còn khinh miệt có thể từ bỏ khinh miệt, người còn ganh tị có thể từ bỏ ganh tị, người còn keo kiệt có thể từ bỏ keo kiệt, người còn gian xảo có thể từ bỏ gian xảo, người còn xảo trá có thể từ bỏ xảo trá, người còn ước muốn xấu xa có thể từ bỏ ước muốn xấu xa, người còn tà kiến có thể từ bỏ tà kiến, thì bạn bè, thân hữu, bà con dòng họ của người ấy sẽ làm cho người ấy thành người ngâm nước ngay từ lúc mới sinh, và sẽ khuyến khích người ấy như vầy: 'Này con yêu quý, con hãy ngâm mình trong nước đi, khi con là người ngâm nước, chỉ vì ngâm mình trong nước mà tham lam của người còn tham lam sẽ được từ bỏ, sân hận của người có tâm sân hận sẽ được từ bỏ, giận dữ của người còn giận dữ sẽ được từ bỏ, oán hận của người còn oán hận sẽ được từ bỏ, chê bai của người còn chê bai sẽ được từ bỏ, khinh miệt của người còn khinh miệt sẽ được từ bỏ, ganh tị của người còn ganh tị sẽ được từ bỏ, keo kiệt của người còn keo kiệt sẽ được từ bỏ, gian xảo của người còn gian xảo sẽ được từ bỏ, xảo trá của người còn xảo trá sẽ được từ bỏ, ước muốn xấu xa của người còn ước muốn xấu xa sẽ được từ bỏ, tà kiến của người còn tà kiến sẽ được từ bỏ.' Nhưng này các tỳ-kheo, vì Ta thấy ở đời này có người ngâm nước mà vẫn còn tham lam, có tâm sân hận, còn giận dữ, còn oán hận, còn chê bai, còn khinh miệt, còn ganh tị, còn keo kiệt, còn gian xảo, còn xảo trá, còn ước muốn xấu xa, còn tà kiến, nên Ta không nói rằng chỉ vì ngâm mình trong nước mà người ngâm nước trở thành sa-môn.
Này các tỳ-kheo, nếu chỉ vì ở dưới gốc cây mà người còn tham lam có thể từ bỏ tham lam, người có tâm sân hận có thể từ bỏ sân hận, người còn giận dữ có thể từ bỏ giận dữ, người còn oán hận có thể từ bỏ oán hận, người còn chê bai có thể từ bỏ chê bai, người còn khinh miệt có thể từ bỏ khinh miệt, người còn ganh tị có thể từ bỏ ganh tị, người còn keo kiệt có thể từ bỏ keo kiệt, người còn gian xảo có thể từ bỏ gian xảo, người còn xảo trá có thể từ bỏ xảo trá, người còn ước muốn xấu xa có thể từ bỏ ước muốn xấu xa, người còn tà kiến có thể từ bỏ tà kiến, thì bạn bè, thân hữu, bà con dòng họ của người ấy sẽ làm cho người ấy thành người ở gốc cây ngay từ lúc mới sinh, và sẽ khuyến khích người ấy như vầy: 'Này con yêu quý, con hãy ở dưới gốc cây đi, khi con là người ở gốc cây, chỉ vì ở dưới gốc cây mà tham lam của người còn tham lam sẽ được từ bỏ, sân hận của người có tâm sân hận sẽ được từ bỏ, giận dữ của người còn giận dữ sẽ được từ bỏ, oán hận của người còn oán hận sẽ được từ bỏ, chê bai của người còn chê bai sẽ được từ bỏ, khinh miệt của người còn khinh miệt sẽ được từ bỏ, ganh tị của người còn ganh tị sẽ được từ bỏ, keo kiệt của người còn keo kiệt sẽ được từ bỏ, gian xảo của người còn gian xảo sẽ được từ bỏ, xảo trá của người còn xảo trá sẽ được từ bỏ, ước muốn xấu xa của người còn ước muốn xấu xa sẽ được từ bỏ, tà kiến của người còn tà kiến sẽ được từ bỏ.' Nhưng này các tỳ-kheo, vì Ta thấy ở đời này có người ở gốc cây mà vẫn còn tham lam, có tâm sân hận, còn giận dữ, còn oán hận, còn chê bai, còn khinh miệt, còn ganh tị, còn keo kiệt, còn gian xảo, còn xảo trá, còn ước muốn xấu xa, còn tà kiến, nên Ta không nói rằng chỉ vì ở dưới gốc cây mà người ở gốc cây trở thành sa-môn.
Này các tỳ-kheo, nếu chỉ vì ở giữa trời mà người còn tham lam có thể từ bỏ tham lam, người có tâm sân hận có thể từ bỏ sân hận, người còn giận dữ có thể từ bỏ giận dữ, người còn oán hận có thể từ bỏ oán hận, người còn chê bai có thể từ bỏ chê bai, người còn khinh miệt có thể từ bỏ khinh miệt, người còn ganh tị có thể từ bỏ ganh tị, người còn keo kiệt có thể từ bỏ keo kiệt, người còn gian xảo có thể từ bỏ gian xảo, người còn xảo trá có thể từ bỏ xảo trá, người còn ước muốn xấu xa có thể từ bỏ ước muốn xấu xa, người còn tà kiến có thể từ bỏ tà kiến, thì bạn bè, thân hữu, bà con dòng họ của người ấy sẽ làm cho người ấy thành người ở giữa trời ngay từ lúc mới sinh, và sẽ khuyến khích người ấy như vầy: 'Này con yêu quý, con hãy ở giữa trời đi, khi con là người ở giữa trời, chỉ vì ở giữa trời mà tham lam của người còn tham lam sẽ được từ bỏ, sân hận của người có tâm sân hận sẽ được từ bỏ, giận dữ của người còn giận dữ sẽ được từ bỏ, oán hận của người còn oán hận sẽ được từ bỏ, chê bai của người còn chê bai sẽ được từ bỏ, khinh miệt của người còn khinh miệt sẽ được từ bỏ, ganh tị của người còn ganh tị sẽ được từ bỏ, keo kiệt của người còn keo kiệt sẽ được từ bỏ, gian xảo của người còn gian xảo sẽ được từ bỏ, xảo trá của người còn xảo trá sẽ được từ bỏ, ước muốn xấu xa của người còn ước muốn xấu xa sẽ được từ bỏ, tà kiến của người còn tà kiến sẽ được từ bỏ.' Nhưng này các tỳ-kheo, vì Ta thấy ở đời này có người ở giữa trời mà vẫn còn tham lam, có tâm sân hận, còn giận dữ, còn oán hận, còn chê bai, còn khinh miệt, còn ganh tị, còn keo kiệt, còn gian xảo, còn xảo trá, còn ước muốn xấu xa, còn tà kiến, nên Ta không nói rằng chỉ vì ở giữa trời mà người ở giữa trời trở thành sa-môn.
Này các tỳ-kheo, nếu chỉ vì đứng mãi mà người còn tham lam có thể từ bỏ tham lam, người có tâm sân hận có thể từ bỏ sân hận, người còn giận dữ có thể từ bỏ giận dữ, người còn oán hận có thể từ bỏ oán hận, người còn chê bai có thể từ bỏ chê bai, người còn khinh miệt có thể từ bỏ khinh miệt, người còn ganh tị có thể từ bỏ ganh tị, người còn keo kiệt có thể từ bỏ keo kiệt, người còn gian xảo có thể từ bỏ gian xảo, người còn xảo trá có thể từ bỏ xảo trá, người còn ước muốn xấu xa có thể từ bỏ ước muốn xấu xa, người còn tà kiến có thể từ bỏ tà kiến, thì bạn bè, thân hữu, bà con dòng họ của người ấy sẽ làm cho người ấy thành người thường đứng ngay từ lúc mới sinh, và sẽ khuyến khích người ấy như vầy: 'Này con yêu quý, con hãy đứng mãi đi, khi con là người thường đứng, chỉ vì đứng mãi mà tham lam của người còn tham lam sẽ được từ bỏ, sân hận của người có tâm sân hận sẽ được từ bỏ, giận dữ của người còn giận dữ sẽ được từ bỏ, oán hận của người còn oán hận sẽ được từ bỏ, chê bai của người còn chê bai sẽ được từ bỏ, khinh miệt của người còn khinh miệt sẽ được từ bỏ, ganh tị của người còn ganh tị sẽ được từ bỏ, keo kiệt của người còn keo kiệt sẽ được từ bỏ, gian xảo của người còn gian xảo sẽ được từ bỏ, xảo trá của người còn xảo trá sẽ được từ bỏ, ước muốn xấu xa của người còn ước muốn xấu xa sẽ được từ bỏ, tà kiến của người còn tà kiến sẽ được từ bỏ.' Nhưng này các tỳ-kheo, vì Ta thấy ở đời này có người thường đứng mà vẫn còn tham lam, có tâm sân hận, còn giận dữ, còn oán hận, còn chê bai, còn khinh miệt, còn ganh tị, còn keo kiệt, còn gian xảo, còn xảo trá, còn ước muốn xấu xa, còn tà kiến, nên Ta không nói rằng chỉ vì đứng mãi mà người thường đứng trở thành sa-môn.
Này các tỳ-kheo, nếu chỉ vì ăn theo kỳ hạn mà người còn tham lam có thể từ bỏ tham lam, người có tâm sân hận có thể từ bỏ sân hận, người còn giận dữ có thể từ bỏ giận dữ, người còn oán hận có thể từ bỏ oán hận, người còn chê bai có thể từ bỏ chê bai, người còn khinh miệt có thể từ bỏ khinh miệt, người còn ganh tị có thể từ bỏ ganh tị, người còn keo kiệt có thể từ bỏ keo kiệt, người còn gian xảo có thể từ bỏ gian xảo, người còn xảo trá có thể từ bỏ xảo trá, người còn ước muốn xấu xa có thể từ bỏ ước muốn xấu xa, người còn tà kiến có thể từ bỏ tà kiến, thì bạn bè, thân hữu, bà con dòng họ của người ấy sẽ làm cho người ấy thành người ăn theo kỳ hạn ngay từ lúc mới sinh, và sẽ khuyến khích người ấy như vầy: 'Này con yêu quý, con hãy ăn theo kỳ hạn đi, khi con là người ăn theo kỳ hạn, chỉ vì ăn theo kỳ hạn mà tham lam của người còn tham lam sẽ được từ bỏ, sân hận của người có tâm sân hận sẽ được từ bỏ, giận dữ của người còn giận dữ sẽ được từ bỏ, oán hận của người còn oán hận sẽ được từ bỏ, chê bai của người còn chê bai sẽ được từ bỏ, khinh miệt của người còn khinh miệt sẽ được từ bỏ, ganh tị của người còn ganh tị sẽ được từ bỏ, keo kiệt của người còn keo kiệt sẽ được từ bỏ, gian xảo của người còn gian xảo sẽ được từ bỏ, xảo trá của người còn xảo trá sẽ được từ bỏ, ước muốn xấu xa của người còn ước muốn xấu xa sẽ được từ bỏ, tà kiến của người còn tà kiến sẽ được từ bỏ.' Nhưng này các tỳ-kheo, vì Ta thấy ở đời này có người ăn theo kỳ hạn mà vẫn còn tham lam, có tâm sân hận, còn giận dữ, còn oán hận, còn chê bai, còn khinh miệt, còn ganh tị, còn keo kiệt, còn gian xảo, còn xảo trá, còn ước muốn xấu xa, còn tà kiến, nên Ta không nói rằng chỉ vì ăn theo kỳ hạn mà người ăn theo kỳ hạn trở thành sa-môn.
Này các tỳ-kheo, nếu chỉ vì tụng chú mà người còn tham lam có thể từ bỏ tham lam, người có tâm sân hận có thể từ bỏ sân hận, người còn giận dữ có thể từ bỏ giận dữ, người còn oán hận có thể từ bỏ oán hận, người còn chê bai có thể từ bỏ chê bai, người còn khinh miệt có thể từ bỏ khinh miệt, người còn ganh tị có thể từ bỏ ganh tị, người còn keo kiệt có thể từ bỏ keo kiệt, người còn gian xảo có thể từ bỏ gian xảo, người còn xảo trá có thể từ bỏ xảo trá, người còn ước muốn xấu xa có thể từ bỏ ước muốn xấu xa, người còn tà kiến có thể từ bỏ tà kiến, thì bạn bè, thân hữu, bà con dòng họ của người ấy sẽ làm cho người ấy thành người tụng chú ngay từ lúc mới sinh, và sẽ khuyến khích người ấy như vầy: 'Này con yêu quý, con hãy tụng chú đi, khi con là người tụng chú, chỉ vì tụng chú mà tham lam của người còn tham lam sẽ được từ bỏ, sân hận của người có tâm sân hận sẽ được từ bỏ, giận dữ của người còn giận dữ sẽ được từ bỏ, oán hận của người còn oán hận sẽ được từ bỏ, chê bai của người còn chê bai sẽ được từ bỏ, khinh miệt của người còn khinh miệt sẽ được từ bỏ, ganh tị của người còn ganh tị sẽ được từ bỏ, keo kiệt của người còn keo kiệt sẽ được từ bỏ, gian xảo của người còn gian xảo sẽ được từ bỏ, xảo trá của người còn xảo trá sẽ được từ bỏ, ước muốn xấu xa của người còn ước muốn xấu xa sẽ được từ bỏ, tà kiến của người còn tà kiến sẽ được từ bỏ.' Nhưng này các tỳ-kheo, vì Ta thấy ở đời này có người tụng chú mà vẫn còn tham lam, có tâm sân hận, còn giận dữ, còn oán hận, còn chê bai, còn khinh miệt, còn ganh tị, còn keo kiệt, còn gian xảo, còn xảo trá, còn ước muốn xấu xa, còn tà kiến, nên Ta không nói rằng chỉ vì tụng chú mà người tụng chú trở thành sa-môn.
Này các tỳ-kheo, nếu chỉ vì để tóc bện mà người còn tham lam có thể từ bỏ tham lam, người có tâm sân hận có thể từ bỏ sân hận, người còn giận dữ có thể từ bỏ giận dữ, người còn oán hận có thể từ bỏ oán hận, người còn chê bai có thể từ bỏ chê bai, người còn khinh miệt có thể từ bỏ khinh miệt, người còn ganh tị có thể từ bỏ ganh tị, người còn keo kiệt có thể từ bỏ keo kiệt, người còn gian xảo có thể từ bỏ gian xảo, người còn xảo trá có thể từ bỏ xảo trá, người còn ước muốn xấu xa có thể từ bỏ ước muốn xấu xa, người còn tà kiến có thể từ bỏ tà kiến, thì bạn bè, thân hữu, bà con dòng họ của người ấy sẽ làm cho người ấy thành tu sĩ bện tóc ngay từ lúc mới sinh, và sẽ khuyến khích người ấy như vầy:
'Này con yêu quý, con hãy để tóc bện đi, khi con là tu sĩ bện tóc, chỉ vì để tóc bện mà tham lam của người còn tham lam sẽ được từ bỏ, sân hận của người có tâm sân hận sẽ được từ bỏ, giận dữ của người còn giận dữ sẽ được từ bỏ, oán hận của người còn oán hận sẽ được từ bỏ, chê bai của người còn chê bai sẽ được từ bỏ, khinh miệt của người còn khinh miệt sẽ được từ bỏ, ganh tị của người còn ganh tị sẽ được từ bỏ, keo kiệt của người còn keo kiệt sẽ được từ bỏ, gian xảo của người còn gian xảo sẽ được từ bỏ, xảo trá của người còn xảo trá sẽ được từ bỏ, ước muốn xấu xa của người còn ước muốn xấu xa sẽ được từ bỏ, tà kiến của người còn tà kiến sẽ được từ bỏ.'
Nhưng này các tỳ-kheo, vì Ta thấy ở đời này có tu sĩ bện tóc mà vẫn còn tham lam, có tâm sân hận, còn giận dữ, còn oán hận, còn chê bai, còn khinh miệt, còn ganh tị, còn keo kiệt, còn gian xảo, còn xảo trá, còn ước muốn xấu xa, còn tà kiến, nên Ta không nói rằng chỉ vì để tóc bện mà tu sĩ bện tóc trở thành sa-môn.
Và này các tỳ-kheo, thế nào là vị tỳ-kheo sống theo cách thực hành thích hợp với sa-môn?
Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo nào đã từ bỏ tham lam, đã từ bỏ sân hận, đã từ bỏ giận dữ, đã từ bỏ oán hận, đã từ bỏ chê bai, đã từ bỏ khinh miệt, đã từ bỏ ganh tị, đã từ bỏ keo kiệt, đã từ bỏ gian xảo, đã từ bỏ xảo trá, đã từ bỏ ước muốn xấu xa, đã từ bỏ tà kiến—
Chính vì đã từ bỏ những cấu uế của sa-môn, những lỗi lầm của sa-môn, những cặn bã của sa-môn này — những cớ đưa đến đọa xứ, phải chịu quả trong đường dữ — nên này các tỳ-kheo, Ta nói rằng vị ấy sống theo cách thực hành thích hợp với sa-môn.
Vị ấy tự thấy mình đã trong sạch khỏi tất cả những pháp ác, bất thiện này.
Khi vị ấy tự thấy mình trong sạch khỏi tất cả những pháp ác, bất thiện này, niềm hoan hỷ sinh khởi. Với người đã hoan hỷ, hỷ sinh khởi. Tâm tràn đầy hỷ thì thân lắng dịu. Thân đã lắng dịu thì cảm nhận an lạc. Người an lạc thì tâm nhập định.
Vị ấy an trú, rải tâm câu hữu với từ khắp một phương; phương thứ hai cũng vậy, phương thứ ba cũng vậy, phương thứ tư cũng vậy. Như vậy, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, trong mọi cách, vị ấy rải tâm câu hữu với từ khắp toàn thế giới — rộng lớn, bao la, vô lượng, không thù địch, không oán hại — và an trú.
Vị ấy an trú, rải tâm câu hữu với bi khắp một phương; phương thứ hai cũng vậy, phương thứ ba cũng vậy, phương thứ tư cũng vậy. Như vậy, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, trong mọi cách, vị ấy rải tâm câu hữu với bi khắp toàn thế giới — rộng lớn, bao la, vô lượng, không thù địch, không oán hại — và an trú.
Vị ấy an trú, rải tâm câu hữu với hỷ khắp một phương; phương thứ hai cũng vậy, phương thứ ba cũng vậy, phương thứ tư cũng vậy. Như vậy, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, trong mọi cách, vị ấy rải tâm câu hữu với hỷ khắp toàn thế giới — rộng lớn, bao la, vô lượng, không thù địch, không oán hại — và an trú.
Vị ấy an trú, rải tâm câu hữu với xả khắp một phương; phương thứ hai cũng vậy, phương thứ ba cũng vậy, phương thứ tư cũng vậy. Như vậy, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, trong mọi cách, vị ấy rải tâm câu hữu với xả khắp toàn thế giới — rộng lớn, bao la, vô lượng, không thù địch, không oán hại — và an trú.
Này các tỳ-kheo, ví như một hồ sen có nước trong, nước ngọt, nước mát, nước sạch, bờ dễ xuống, khả ái.
Giả sử có một người từ phương đông đi đến, bị nắng thiêu đốt, bị nắng hành hạ, mệt mỏi, khát khô, đang khao khát nước.
Người ấy đến hồ sen ấy, dẹp tan cơn khát nước, dẹp tan cái nóng bức của nắng. Giả sử có một người từ phương tây đi đến, bị nắng thiêu đốt, bị nắng hành hạ, mệt mỏi, khát khô, đang khao khát nước; người ấy đến hồ sen ấy, dẹp tan cơn khát nước, dẹp tan cái nóng bức của nắng. Giả sử có một người từ phương bắc đi đến, bị nắng thiêu đốt, bị nắng hành hạ, mệt mỏi, khát khô, đang khao khát nước; người ấy đến hồ sen ấy, dẹp tan cơn khát nước, dẹp tan cái nóng bức của nắng. Giả sử có một người từ phương nam đi đến, bị nắng thiêu đốt, bị nắng hành hạ, mệt mỏi, khát khô, đang khao khát nước; người ấy đến hồ sen ấy, dẹp tan cơn khát nước, dẹp tan cái nóng bức của nắng. Dù người ấy đi đến từ đâu, từ nơi nào, bị nắng thiêu đốt, bị nắng hành hạ, mệt mỏi, khát khô, đang khao khát nước, người ấy đến hồ sen ấy, dẹp tan cơn khát nước, dẹp tan cái nóng bức của nắng.
[Chú thích: Ở đây pariḷāha chỉ sự kiệt sức vì nắng nóng, không phải cơn sốt.]
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, dù một người từ gia đình vua chúa mà xuất gia, từ bỏ nhà cửa sống không nhà, người ấy đến với Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, tu tập từ, bi, hỷ, xả như vậy, thì được sự lắng dịu bên trong. Nhờ sự lắng dịu bên trong ấy, Ta nói rằng vị ấy sống theo cách thực hành thích hợp với sa-môn. Dù một người từ gia đình bà-la-môn mà xuất gia, từ bỏ nhà cửa sống không nhà, người ấy đến với Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, tu tập từ, bi, hỷ, xả như vậy, thì được sự lắng dịu bên trong. Dù một người từ gia đình thương nhân mà xuất gia, từ bỏ nhà cửa sống không nhà, người ấy đến với Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, tu tập từ, bi, hỷ, xả như vậy, thì được sự lắng dịu bên trong. Dù một người từ gia đình nô lệ mà xuất gia, từ bỏ nhà cửa sống không nhà, người ấy đến với Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, tu tập từ, bi, hỷ, xả như vậy, thì được sự lắng dịu bên trong. Dù một người xuất gia từ bất cứ gia đình nào, từ bỏ nhà cửa sống không nhà, người ấy đến với Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, tu tập từ, bi, hỷ, xả như vậy, thì được sự lắng dịu bên trong.
Nhờ sự lắng dịu bên trong ấy, Ta nói rằng vị ấy sống theo cách thực hành thích hợp với sa-môn.
Dù một người từ gia đình vua chúa mà xuất gia, từ bỏ nhà cửa sống không nhà,
và do lậu hoặc đã tận, ngay trong đời này, vị ấy tự mình chứng biết bằng thắng trí, chứng đắc và an trú vào tâm giải thoát không lậu hoặc và tuệ giải thoát.
Do lậu hoặc đã tận, vị ấy là sa-môn. Dù một người từ gia đình bà-la-môn mà xuất gia, từ bỏ nhà cửa sống không nhà, và do lậu hoặc đã tận, ngay trong đời này, vị ấy tự mình chứng biết bằng thắng trí, chứng đắc và an trú vào tâm giải thoát không lậu hoặc và tuệ giải thoát. Do lậu hoặc đã tận, vị ấy là sa-môn. Dù một người từ gia đình thương nhân mà xuất gia, từ bỏ nhà cửa sống không nhà, và do lậu hoặc đã tận, ngay trong đời này, vị ấy tự mình chứng biết bằng thắng trí, chứng đắc và an trú vào tâm giải thoát không lậu hoặc và tuệ giải thoát. Do lậu hoặc đã tận, vị ấy là sa-môn. Dù một người từ gia đình nô lệ mà xuất gia, từ bỏ nhà cửa sống không nhà, và do lậu hoặc đã tận, ngay trong đời này, vị ấy tự mình chứng biết bằng thắng trí, chứng đắc và an trú vào tâm giải thoát không lậu hoặc và tuệ giải thoát. Do lậu hoặc đã tận, vị ấy là sa-môn. Dù một người xuất gia từ bất cứ gia đình nào, từ bỏ nhà cửa sống không nhà, và do lậu hoặc đã tận, ngay trong đời này, vị ấy tự mình chứng biết bằng thắng trí, chứng đắc và an trú vào tâm giải thoát không lậu hoặc và tuệ giải thoát. Do lậu hoặc đã tận, vị ấy là sa-môn.
Đức Thế Tôn nói như vậy.
Các tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tán thán lời Ngài dạy.
Tiểu Kinh Assapura, bài thứ mười, đã kết thúc.
Phẩm Mahāyamakavagga, phẩm thứ tư, đã kết thúc.
Kệ tóm tắt phẩm
[Chú thích của người dịch: Đây là bài kệ tóm tắt phẩm Mahāyamakavagga, phẩm thứ tư của Trung Bộ Kinh, gồm mười bài kinh từ bài 31 đến bài 40; mỗi cụm từ là một từ khóa để nhớ tên hoặc chủ đề của một bài. Các từ khóa ấy rất nén và có chỗ đã tối nghĩa, nên chỗ nào không chắc nghĩa thì bản dịch giữ nguyên dạng Pali.]
Rừng sāla Giñjaka, cùng việc lui tới nơi ấy,
Bậc trí tuệ, và lần nữa việc bác bỏ Saccaka;
Sự sáng tỏ nơi nét mặt, và Piṇḍa,
Kevaṭṭa, Assapura, cùng vị bện tóc.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.