Trung Bộ Kinh · bài 44/152
Tiểu Kinh Phương Quảng
Cūḷavedalla Sutta — bài hỏi đáp mở rộng, bản ngắn
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Tiểu Kinh Phương Quảng (Cūḷavedalla Sutta) là bài kinh thứ 44 trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Bài kinh diễn ra tại Rājagaha (Vương Xá), trong rừng tre Veḷuvana (Trúc Lâm). Người hỏi là Visākha, một cư sĩ tại gia; người trả lời là tỳ-kheo-ni Dhammadinnā, một vị ni. Suốt bài kinh, Đức Thế Tôn không xuất hiện cho đến đoạn cuối, khi cư sĩ Visākha thuật lại cuộc đàm đạo và được Ngài xác nhận từng lời của vị ni là đúng.
Câu hỏi đầu tiên nghe có vẻ trừu tượng: "Hữu thân là gì?" Chữ hữu thân (sakkāya) chỉ cái mà chúng ta vẫn gọi là "mình", "thân này", "con người này". Câu trả lời rất cụ thể: đó là năm thủ uẩn — năm nhóm cấu thành nên cái ta tưởng là mình, gồm sắc (thân xác và mọi hình tướng vật chất), cảm giác dễ chịu, khó chịu hay trung tính (thọ), khả năng nhận ra và ghi nhớ các đặc điểm (tưởng), các ý muốn và động lực được tạo thành trong tâm (hành), và sự nhận biết (thức). Điều đáng chú ý là năm nhóm ấy không phải "cái tôi", mà chỉ là năm loại hiện tượng luôn sinh lên rồi diệt đi; chính vì ta nắm lấy chúng nên chúng được gọi là "thủ uẩn".
Từ đó, bài kinh triển khai bốn câu hỏi nối tiếp nhau theo đúng khuôn bốn sự thật cao quý: hữu thân là gì, cái gì làm nó sinh lên, cái gì làm nó chấm dứt, và con đường nào đưa đến sự chấm dứt ấy. Nguồn gốc của nó là tham ái — sự thèm khát dục lạc, thèm khát được tiếp tục tồn tại, và thèm khát được không còn tồn tại. Sự chấm dứt của nó là sự ly tham và chấm dứt hoàn toàn chính tham ái ấy. Con đường ấy chính là Bát chánh đạo. Xen giữa là một câu hỏi tinh tế: chấp thủ có phải chính là năm thủ uẩn không? Câu trả lời là không hẳn — chính lòng ham muốn và tham đắm đối với năm uẩn mới là chấp thủ. Nói cách khác, vấn đề không nằm ở thân tâm, mà ở cách ta bám vào thân tâm.
Phần kế tiếp giải thích hữu thân kiến hình thành và tan biến thế nào. Một người chưa từng gặp các bậc thánh có thể xem thân xác là mình, xem mình là kẻ có thân xác, xem thân xác ở trong mình, hoặc xem mình ở trong thân xác — rồi làm y như vậy với cảm thọ, tưởng, các hành và thức. Bốn cách nhân với năm uẩn thành hai mươi kiểu hiểu sai về bản thân. Người đã gặp các bậc thánh thì không xem như vậy nữa. Tiếp theo là một so sánh quen thuộc: ba uẩn giới, định, tuệ rộng hơn Bát chánh đạo, nên tám chi của con đường đều nằm gọn trong ba uẩn ấy.
Nửa sau của bài kinh đi vào thiền định, và đây là phần khó nhất với người mới đọc. Vị ni giải thích ba thứ "hành" luôn có mặt trong đời sống: hơi thở là thân hành, tầm và tứ là khẩu hành, tưởng và thọ là tâm hành. Khi hành giả đi vào định diệt thọ tưởng, ba thứ ấy lần lượt lắng xuống; khi ra khỏi định ấy, chúng lần lượt khởi lên trở lại. Rồi bà phân tích ba loại cảm thọ, những khuynh hướng ngủ ngầm dưới mỗi loại, cách đoạn trừ chúng, và một chuỗi câu hỏi đối ứng kéo từ lạc thọ đến Niết-bàn. Chuỗi ấy dừng lại ở chỗ không thể hỏi tiếp, và vị ni khuyên cư sĩ nên đem câu hỏi cuối đến hỏi Đức Thế Tôn.
Điều làm bài kinh này đáng nhớ không chỉ là nội dung. Một cư sĩ tại gia hỏi, một vị ni trả lời trọn vẹn, và Đức Thế Tôn kết luận rằng nếu chính Ngài được hỏi, Ngài cũng sẽ trả lời y hệt. Bài kinh vì thế vừa là một bản đồ cô đọng của giáo pháp — từ khổ đau, nguồn gốc khổ đau, đến thiền định và giải thoát — vừa là một lời nhắc rằng tuệ giác không tùy thuộc vào giới tính hay địa vị của người nói ra nó.
Bản dịch chia đoạn theo từng segment của SuttaCentral, nên người đọc có thể đối chiếu với bản Pali hoặc bản tiếng Anh của Bhikkhu Sujato ở bất cứ dòng nào. Các chỗ Pali viết tắt bằng dấu lược đều được viết ra đầy đủ, và những chú thích của người dịch được ghi rõ là của người dịch.
Tôi nghe như vầy.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Rājagaha (Vương Xá), trong rừng tre Veḷuvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng sóc (Kalandakanivāpa).
Rồi cư sĩ Visākha đi đến chỗ tỳ-kheo-ni Dhammadinnā. Đến nơi, ông đảnh lễ tỳ-kheo-ni Dhammadinnā rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, cư sĩ Visākha thưa với tỳ-kheo-ni Dhammadinnā:
[Chú thích: Cả hai nhân vật này đều ít được nhắc đến trong kinh tạng, khác với bài Đại Kinh Phương Quảng trước, nơi hai vị tỳ-kheo nổi tiếng về tuệ đối thoại với nhau. Tỳ-kheo-ni Dhammadinnā được tôn là bậc nhất về thuyết pháp trong hàng ni chúng, có lẽ nhờ chính bài kinh này, và chỉ có một bài kệ mang tên bà. Cư sĩ Visākha không xuất hiện ở chỗ nào khác trong kinh tạng; chú giải nói ông không phải vị tỳ-kheo Visākha, con của Pañcāli.]
"Thưa Ni sư, người ta nói đến 'hữu thân', 'hữu thân'.
[Chú thích: Ayyā là cách gọi thông thường dành cho các vị ni, bắt nguồn từ ariya, tức bậc thánh. Sakkāya là từ ghép của sat, 'có thật', và kāya, 'khối thân', chỉ cái mà người ta lầm tưởng là tự ngã; các nhà chú giải hiểu đó là cả ba cõi luân hồi, tức tất cả những gì đang hiện hữu.]
Hữu thân mà Đức Thế Tôn nói đến là gì?"
"Năm thủ uẩn này, này Visākha, được Đức Thế Tôn gọi là hữu thân,
đó là: sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.
Năm thủ uẩn này, này Visākha, được Đức Thế Tôn gọi là hữu thân."
[Chú thích: Tôn giả Sāriputta cũng dẫn lời Đức Thế Tôn như vậy trong Tương Ưng Bộ Kinh 38.15; cả hai nguồn đều có lẽ lấy từ Tương Ưng 22.105 và 22.103.]
"Lành thay, thưa Ni sư", cư sĩ Visākha hoan hỷ, tán thán lời tỳ-kheo-ni Dhammadinnā dạy, rồi hỏi thêm một câu nữa:
"Thưa Ni sư, người ta nói đến 'nguồn gốc của hữu thân', 'nguồn gốc của hữu thân'.
Nguồn gốc của hữu thân mà Đức Thế Tôn nói đến là gì?"
"Này Visākha, chính là tham ái đưa đến tái sinh, đi kèm với thích thú và tham đắm, tìm vui chỗ này chỗ kia, tức là:
[Chú thích: Ở đây hữu thân được trình bày theo khuôn bốn sự thật cao quý, cách làm cũng gặp ở nhiều chỗ khác như Tăng Chi Bộ 4.33 và Tương Ưng 22.103, 22.105, 22.78.]
tham ái đối với dục lạc, tham ái đối với sự hiện hữu, và tham ái đối với sự không hiện hữu.
Này Visākha, đây là nguồn gốc của hữu thân mà Đức Thế Tôn nói đến."
"Thưa Ni sư, người ta nói đến 'sự chấm dứt của hữu thân', 'sự chấm dứt của hữu thân'.
Sự chấm dứt của hữu thân mà Đức Thế Tôn nói đến là gì?"
"Này Visākha, chính là sự ly tham và chấm dứt không còn dư tàn đối với chính tham ái ấy; là sự buông bỏ, sự từ bỏ, sự giải thoát, sự không bám víu.
Này Visākha, đây là sự chấm dứt của hữu thân mà Đức Thế Tôn nói đến."
"Thưa Ni sư, người ta nói đến 'con đường đưa đến sự chấm dứt của hữu thân', 'con đường đưa đến sự chấm dứt của hữu thân'.
Con đường đưa đến sự chấm dứt của hữu thân mà Đức Thế Tôn nói đến là gì?"
"Này Visākha, chính Bát chánh đạo, tức con đường tám nhánh của bậc thánh, là con đường đưa đến sự chấm dứt của hữu thân mà Đức Thế Tôn nói đến, đó là:
chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định."
"Thưa Ni sư, chấp thủ ấy có phải chính là năm thủ uẩn không, hay chấp thủ là một thứ khác ngoài năm thủ uẩn?"
[Chú thích: Xem thêm Trung Bộ Kinh 109:6.1 và Tương Ưng 22.82:4.4.]
"Này Visākha, chấp thủ ấy không phải chính là năm thủ uẩn, cũng không phải chấp thủ là một thứ khác ngoài năm thủ uẩn.
Này Visākha, lòng ham muốn và tham đắm đối với năm thủ uẩn — đó chính là chấp thủ ở nơi ấy."
[Chú thích: Năm uẩn không phải là một cái khung gom hết mọi thứ đang hiện hữu, mà là năm loại hiện tượng khơi lên sự bám víu, làm nền cho cái mà ta tưởng là tự ngã. Chính lòng ham muốn thúc đẩy sự bám víu, nhưng muốn vận hành thì phải có đủ các uẩn. Vì thế uẩn được gọi là 'thủ' theo cái tay đang nắm lấy.]
"Nhưng thưa Ni sư, hữu thân kiến hình thành như thế nào?"
"Ở đây, này Visākha, kẻ phàm phu không nghe Pháp, chưa từng thấy các bậc thánh, không rành Pháp của các bậc thánh, chưa được huấn luyện trong Pháp của các bậc thánh; chưa từng thấy những bậc chân nhân, không rành Pháp của những bậc chân nhân, chưa được huấn luyện trong Pháp của những bậc chân nhân.
Người ấy xem sắc là tự ngã, hoặc xem tự ngã là có sắc, hoặc xem sắc ở trong tự ngã, hoặc xem tự ngã ở trong sắc.
[Chú thích: Đây là hai mươi kiểu hữu thân kiến.]
Người ấy xem cảm thọ là tự ngã, hoặc xem tự ngã là có cảm thọ, hoặc xem cảm thọ ở trong tự ngã, hoặc xem tự ngã ở trong cảm thọ.
Người ấy xem tưởng là tự ngã, hoặc xem tự ngã là có tưởng, hoặc xem tưởng ở trong tự ngã, hoặc xem tự ngã ở trong tưởng.
Người ấy xem các hành là tự ngã, hoặc xem tự ngã là có các hành, hoặc xem các hành ở trong tự ngã, hoặc xem tự ngã ở trong các hành.
Người ấy xem thức là tự ngã, hoặc xem tự ngã là có thức, hoặc xem thức ở trong tự ngã, hoặc xem tự ngã ở trong thức.
Này Visākha, hữu thân kiến hình thành như vậy đó."
"Nhưng thưa Ni sư, làm thế nào để hữu thân kiến không hình thành?"
"Ở đây, này Visākha, bậc thánh đệ tử đã nghe Pháp, đã thấy các bậc thánh, rành Pháp của các bậc thánh, đã được khéo huấn luyện trong Pháp của các bậc thánh; đã thấy những bậc chân nhân, rành Pháp của những bậc chân nhân, đã được khéo huấn luyện trong Pháp của những bậc chân nhân.
Vị ấy không xem sắc là tự ngã, không xem tự ngã là có sắc, không xem sắc ở trong tự ngã, không xem tự ngã ở trong sắc.
Vị ấy không xem cảm thọ là tự ngã, không xem tự ngã là có cảm thọ, không xem cảm thọ ở trong tự ngã, không xem tự ngã ở trong cảm thọ.
Vị ấy không xem tưởng là tự ngã, không xem tự ngã là có tưởng, không xem tưởng ở trong tự ngã, không xem tự ngã ở trong tưởng.
Vị ấy không xem các hành là tự ngã, không xem tự ngã là có các hành, không xem các hành ở trong tự ngã, không xem tự ngã ở trong các hành.
Vị ấy không xem thức là tự ngã, không xem tự ngã là có thức, không xem thức ở trong tự ngã, không xem tự ngã ở trong thức.
Này Visākha, hữu thân kiến không hình thành như vậy đó."
"Nhưng thưa Ni sư, Bát chánh đạo là gì?"
"Đó chính là Bát chánh đạo, này Visākha, tức là:
chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định."
"Nhưng thưa Ni sư, Bát chánh đạo là pháp do điều kiện tạo thành, hay là pháp không do điều kiện tạo thành?"
"Này Visākha, Bát chánh đạo là pháp do điều kiện tạo thành."
"Thưa Ni sư, ba uẩn có được gồm vào Bát chánh đạo không, hay Bát chánh đạo được gồm vào ba uẩn?"
[Chú thích: Đây là ba uẩn giới, định và tuệ. Lối gọi tắt gộp chúng thành một nhóm ba là nét đặc trưng của những tầng văn bản Pali về sau, tuy cũng gặp trong Trường Bộ Kinh. Chữ khandha ở đây cũng mang nghĩa gốc là 'khối', 'nhóm', như kāya trong sakkāya.]
Này Visākha, ba uẩn không được gồm vào Bát chánh đạo; mà chính Bát chánh đạo được gồm vào ba uẩn.
[Chú thích: Hai cách dạy phủ cùng một địa hạt, nhưng các chi tiết cụ thể hơn của Bát chánh đạo nằm gọn trong ba phạm trù rộng hơn kia.]
Này Visākha, chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng — những pháp này được gồm vào giới uẩn.
Này Visākha, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định — những pháp này được gồm vào định uẩn.
Này Visākha, chánh kiến và chánh tư duy — những pháp này được gồm vào tuệ uẩn.
"Nhưng thưa Ni sư, định là gì? Những pháp nào là nhân của định? Những pháp nào là phụ trợ của định? Thế nào là sự tu tập định?"
"Này Visākha, sự nhất tâm của tâm, đó là định.
[Chú thích: Nhất tâm, định và thiền-na là những từ gần nghĩa, tuy mỗi từ có sắc thái riêng. Cách hiểu này phổ biến trong các truyền thống Ấn Độ đương thời, có thể chịu ảnh hưởng của Phật giáo. Chẳng hạn, Yogasūtra của Patañjali cũng định nghĩa định là sự nhất tâm.]
Bốn niệm xứ là nhân của định.
[Chú thích: Nhân của định là những phép tu dẫn tới thiền-na; ở đây nimitta mang nghĩa 'nguyên nhân', và chú giải gọi đó là paccaya.]
Bốn chánh cần là phụ trợ của định.
[Chú thích: Hành thiền niệm xứ thành công là nhân trực tiếp của định, nhưng muốn có cả niệm xứ lẫn định thì trước hết phải nỗ lực, và nỗ lực ấy là thứ phụ trợ.]
Sự thân cận, tu tập và làm cho sung mãn chính những pháp ấy — đó là sự tu tập định."
[Chú thích: Tu tập ở đây có nghĩa là làm cho lớn lên, làm cho mạnh thêm.]
"Có bao nhiêu hành, thưa Ni sư?"
"Có ba hành này, này Visākha:
thân hành, khẩu hành, tâm hành."
[Chú thích: Ba hành này thuộc về việc tu tập thiền định; cần phân biệt với ba loại hành tạo nghiệp dẫn đến tái sinh. Ở nhóm thứ hai, chi cuối thường là ý hành chứ không phải tâm hành: mano nghiêng về ý chí, còn citta nghiêng về sự nhận biết, dù cả hai đều là tâm.]
"Nhưng thưa Ni sư, thân hành là gì, khẩu hành là gì, tâm hành là gì?"
"Này Visākha, hơi thở vào và hơi thở ra là thân hành; tầm và tứ là khẩu hành; tưởng và thọ là tâm hành."
"Nhưng thưa Ni sư, vì sao hơi thở vào ra là thân hành, vì sao tầm và tứ là khẩu hành, vì sao tưởng và thọ là tâm hành?"
"Này Visākha, hơi thở vào ra thuộc về thân; những pháp ấy gắn liền với thân, vì thế hơi thở vào ra là thân hành.
[Chú thích: Hơi thở được gọi là thân hành trong phép quán hơi thở để nhấn mạnh sự lắng dịu tự nhiên khi định càng sâu. Như trong bài Đại Kinh Phương Quảng, các câu hỏi ở đây đang dọn đường cho phần bàn về định sâu, nên cái được nói tới không phải mọi hoạt động nói chung, mà là những dấu vết hoạt động cuối cùng, khi chúng lắng xuống thì tâm bước sang một tầng khác.]
Này Visākha, trước hết phải tầm, phải tứ, rồi sau mới bật ra lời nói; vì thế tầm và tứ là khẩu hành.
[Chú thích: Tầm và tứ có nghĩa thông thường là 'suy nghĩ' và 'suy xét', còn trong các tầng thiền-na thì nghĩa là 'đặt tâm lên' và 'giữ tâm nơi đó'. Chúng là điều kiện để bật ra lời nói, nên dù chỉ là một chuyển động rất vi tế cũng phải buông bỏ.]
Tưởng và thọ thuộc về tâm; những pháp ấy gắn liền với tâm, vì thế tưởng và thọ là tâm hành."
[Chú thích: Cũng như khẩu hành, chính hai pháp đi cùng nhau mới hợp thành một hành.]
"Nhưng thưa Ni sư, làm thế nào để nhập định diệt thọ tưởng?"
"Này Visākha, vị tỳ-kheo đang nhập định diệt thọ tưởng không nghĩ rằng:
'Ta sẽ nhập định diệt thọ tưởng', hay 'Ta đang nhập định diệt thọ tưởng', hay 'Ta đã nhập định diệt thọ tưởng'.
Mà tâm của vị ấy đã được tu tập từ trước, đến mức dẫn được tới trạng thái ấy."
[Chú thích: So sánh Trung Bộ Kinh 43:28.2.]
"Nhưng thưa Ni sư, khi một vị tỳ-kheo nhập định diệt thọ tưởng, những pháp nào diệt trước — thân hành, khẩu hành hay tâm hành?"
"Này Visākha, khi một vị tỳ-kheo nhập định diệt thọ tưởng, khẩu hành diệt trước, rồi đến thân hành, rồi đến tâm hành."
[Chú thích: Khẩu hành lắng xuống ở tầng thiền-na thứ nhất, hơi thở lắng xuống ở tầng thứ tư, còn thọ và tưởng thì lắng xuống trong định diệt thọ tưởng.]
"Nhưng thưa Ni sư, sự xuất khỏi định diệt thọ tưởng diễn ra như thế nào?"
"Này Visākha, vị tỳ-kheo đang xuất khỏi định diệt thọ tưởng không nghĩ rằng:
'Ta sẽ xuất khỏi định diệt thọ tưởng', hay 'Ta đang xuất khỏi định diệt thọ tưởng', hay 'Ta đã xuất khỏi định diệt thọ tưởng'.
Mà tâm của vị ấy đã được tu tập từ trước, đến mức dẫn được tới trạng thái ấy."
"Nhưng thưa Ni sư, khi một vị tỳ-kheo xuất khỏi định diệt thọ tưởng, những pháp nào sinh trước — thân hành, khẩu hành hay tâm hành?"
"Này Visākha, khi một vị tỳ-kheo xuất khỏi định diệt thọ tưởng, tâm hành sinh trước, rồi đến thân hành, rồi đến khẩu hành."
"Nhưng thưa Ni sư, khi một vị tỳ-kheo đã xuất khỏi định diệt thọ tưởng, bao nhiêu loại xúc chạm đến vị ấy?"
"Này Visākha, khi một vị tỳ-kheo đã xuất khỏi định diệt thọ tưởng, ba loại xúc chạm đến vị ấy: xúc không, xúc vô tướng, xúc vô nguyện."
[Chú thích: Xem phần bàn về các lối giải thoát của tâm trong Trung Bộ Kinh 43:26.1. Ở đây, khi ra khỏi định diệt thọ tưởng, ý nói tới hình thức giải thoát cao hơn, vì tâm của hành giả tự nhiên nghiêng về tuệ giác giải thoát.]
"Nhưng thưa Ni sư, khi một vị tỳ-kheo đã xuất khỏi định diệt thọ tưởng, tâm của vị ấy nghiêng về đâu, chảy về đâu, hướng về đâu?"
"Này Visākha, khi một vị tỳ-kheo đã xuất khỏi định diệt thọ tưởng, tâm của vị ấy nghiêng về viễn ly, chảy về viễn ly, hướng về viễn ly."
[Chú thích: Ở đây cũng vậy, viễn ly được hiểu theo nghĩa cao hơn, tức Niết-bàn. Lối nói 'nghiêng về viễn ly' về sau được Patañjali dùng trong Yogasūtra 4.26.]
"Có bao nhiêu cảm thọ, thưa Ni sư?"
"Có ba cảm thọ này, này Visākha:
lạc thọ, khổ thọ, và thọ không khổ không lạc."
"Nhưng thưa Ni sư, thế nào là lạc thọ, thế nào là khổ thọ, thế nào là thọ không khổ không lạc?"
"Này Visākha, cái gì được cảm nhận là lạc, là dễ chịu, thuộc thân hay thuộc tâm:
đó là lạc thọ.
Cái gì được cảm nhận là khổ, là khó chịu, thuộc thân hay thuộc tâm:
đó là khổ thọ.
Cái gì được cảm nhận là không dễ chịu cũng không khó chịu, thuộc thân hay thuộc tâm:
đó là thọ không khổ không lạc."
"Nhưng thưa Ni sư, lạc thọ thì lạc ở chỗ nào và khổ ở chỗ nào? Khổ thọ thì lạc ở chỗ nào và khổ ở chỗ nào? Thọ không khổ không lạc thì lạc ở chỗ nào và khổ ở chỗ nào?"
"Này Visākha, lạc thọ thì lạc khi còn tồn tại, khổ khi biến đổi.
Khổ thọ thì khổ khi còn tồn tại, lạc khi biến đổi.
Thọ không khổ không lạc thì lạc khi có trí hiểu biết, khổ khi không có trí hiểu biết."
[Chú thích: Chính trí hiểu biết phân biệt xả với sự lãnh đạm.]
"Thưa Ni sư, nơi lạc thọ, tùy miên nào ngủ ngầm? Nơi khổ thọ, tùy miên nào ngủ ngầm? Nơi thọ không khổ không lạc, tùy miên nào ngủ ngầm?"
"Này Visākha, nơi lạc thọ, tham tùy miên ngủ ngầm; nơi khổ thọ, sân tùy miên ngủ ngầm; nơi thọ không khổ không lạc, vô minh tùy miên ngủ ngầm."
"Thưa Ni sư, có phải nơi mọi lạc thọ, tham tùy miên đều ngủ ngầm; nơi mọi khổ thọ, sân tùy miên đều ngủ ngầm; nơi mọi thọ không khổ không lạc, vô minh tùy miên đều ngủ ngầm?"
"Này Visākha, không phải vậy. Không phải nơi mọi lạc thọ, tham tùy miên ngủ ngầm; không phải nơi mọi khổ thọ, sân tùy miên ngủ ngầm; không phải nơi mọi thọ không khổ không lạc, vô minh tùy miên ngủ ngầm."
[Chú thích: Bậc A-la-hán vẫn có cảm thọ, nhưng không còn tùy miên nào.]
"Nhưng thưa Ni sư, nơi lạc thọ, cái gì cần được đoạn trừ? Nơi khổ thọ, cái gì cần được đoạn trừ? Nơi thọ không khổ không lạc, cái gì cần được đoạn trừ?"
"Này Visākha, nơi lạc thọ, tham tùy miên cần được đoạn trừ; nơi khổ thọ, sân tùy miên cần được đoạn trừ; nơi thọ không khổ không lạc, vô minh tùy miên cần được đoạn trừ."
"Thưa Ni sư, có phải nơi mọi lạc thọ, tham tùy miên đều cần được đoạn trừ; nơi mọi khổ thọ, sân tùy miên đều cần được đoạn trừ; nơi mọi thọ không khổ không lạc, vô minh tùy miên đều cần được đoạn trừ?"
"Này Visākha, không phải vậy. Không phải nơi mọi lạc thọ, tham tùy miên cần được đoạn trừ; không phải nơi mọi khổ thọ, sân tùy miên cần được đoạn trừ; không phải nơi mọi thọ không khổ không lạc, vô minh tùy miên cần được đoạn trừ.
Ở đây, này Visākha, có vị tỳ-kheo ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng đạt và an trú vào thiền-na thứ nhất, có tầm, có tứ, có hỷ và lạc do sự ly dục sinh ra.
Nhờ đó vị ấy đoạn trừ tham, và nơi ấy tham tùy miên không ngủ ngầm.
[Chú thích: Lạc của thiền-na phát sinh từ sự buông bỏ, nên tự nó không phải là nguồn của sự bám víu.]
Ở đây, này Visākha, có vị tỳ-kheo suy xét như vầy:
'Bao giờ ta mới chứng đạt và an trú được vào xứ ấy, xứ mà các bậc thánh hôm nay đang chứng đạt và an trú?'
[Chú thích: Câu này cũng gặp ở Trung Bộ Kinh 137. 'Xứ ấy' đôi khi được hiểu là Niết-bàn, nhưng cũng có khi chỉ các tầng định; ở đây hẳn là nghĩa sau, vì nó được đồng nhất với một trong các lối giải thoát, mà các lối giải thoát thường chỉ những trạng thái định khác nhau.]
Khi vị ấy nuôi dưỡng lòng mong mỏi như vậy đối với những sự giải thoát tối thượng, nỗi ưu não sinh khởi do nhân mong mỏi.
[Chú thích: Đây là một kiểu khổ không thuộc về xác thịt, như đã trình bày trong bài Niệm Xứ.]
Nhờ đó vị ấy đoạn trừ sân, và nơi ấy sân tùy miên không ngủ ngầm.
Ở đây, này Visākha, có vị tỳ-kheo do đoạn trừ lạc, đoạn trừ khổ, và trước đó đã chấm dứt hỷ và ưu, chứng đạt và an trú vào thiền-na thứ tư, không khổ không lạc, thanh tịnh nhờ xả và chánh niệm.
Nhờ đó vị ấy đoạn trừ vô minh, và nơi ấy vô minh tùy miên không ngủ ngầm."
"Nhưng thưa Ni sư, cái gì là đối ứng của lạc thọ?"
"Này Visākha, đối ứng của lạc thọ là khổ thọ."
"Nhưng thưa Ni sư, cái gì là đối ứng của khổ thọ?"
"Này Visākha, đối ứng của khổ thọ là lạc thọ."
"Nhưng thưa Ni sư, cái gì là đối ứng của thọ không khổ không lạc?"
"Này Visākha, đối ứng của thọ không khổ không lạc là vô minh."
"Nhưng thưa Ni sư, cái gì là đối ứng của vô minh?"
"Này Visākha, đối ứng của vô minh là minh."
"Nhưng thưa Ni sư, cái gì là đối ứng của minh?"
"Này Visākha, đối ứng của minh là giải thoát."
"Nhưng thưa Ni sư, cái gì là đối ứng của giải thoát?"
"Này Visākha, đối ứng của giải thoát là Niết-bàn."
"Nhưng thưa Ni sư, cái gì là đối ứng của Niết-bàn?"
"Câu hỏi đã vượt quá giới hạn rồi, này Visākha. Ông không thể nắm được chỗ tận cùng của câu hỏi.
[Chú thích: Câu này cũng gặp ở Tương Ưng 23.1 và 48.42. Trong Chāndogya Upaniṣad 1.8.5, người hỏi cũng được cảnh báo đừng vượt quá đích đến.]
Vì này Visākha, đời sống phạm hạnh lấy Niết-bàn làm chỗ nương, lấy Niết-bàn làm đích đến, lấy Niết-bàn làm chỗ kết thúc.
Nếu muốn, này Visākha, ông hãy đến chỗ Đức Thế Tôn mà hỏi Ngài về điều này; Ngài trả lời thế nào thì ông hãy ghi nhớ như thế."
Rồi cư sĩ Visākha hoan hỷ, tán thán lời tỳ-kheo-ni Dhammadinnā dạy, đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ tỳ-kheo-ni Dhammadinnā, đi nhiễu quanh vị ni theo phía bên phải, rồi đi đến chỗ Đức Thế Tôn. Đến nơi, ông đảnh lễ Đức Thế Tôn và ngồi xuống một bên.
Ngồi một bên, cư sĩ Visākha thuật lại cho Đức Thế Tôn nghe toàn bộ cuộc đàm đạo với tỳ-kheo-ni Dhammadinnā.
Khi ông nói xong, Đức Thế Tôn bảo cư sĩ Visākha:
"Này Visākha, tỳ-kheo-ni Dhammadinnā là bậc trí. Này Visākha, tỳ-kheo-ni Dhammadinnā có tuệ lớn.
Này Visākha, nếu ông đến hỏi ta điều này, ta cũng sẽ trả lời y như tỳ-kheo-ni Dhammadinnā đã trả lời.
Ý nghĩa là như vậy đó. Ông hãy ghi nhớ như thế."
Đức Thế Tôn nói như vậy.
Cư sĩ Visākha hoan hỷ, tán thán lời Đức Thế Tôn dạy.
Tiểu Kinh Phương Quảng, bài thứ tư, đến đây là hết.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.