Trung Bộ Kinh · bài 7/152
Kinh Ví Dụ Tấm Vải
Vatthūpama Sutta — bài kinh về tấm vải dơ và tấm vải sạch
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Ví Dụ Tấm Vải (Vatthūpama Sutta) là bài kinh thứ bảy trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), bộ kinh gồm 152 bài kinh cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Bài kinh ngắn, gần như không có giáo lý siêu hình, và gói trọn ý chính trong một hình ảnh duy nhất: một tấm vải đem đi nhuộm.
Hình ảnh ấy rất đơn giản. Một tấm vải dơ, dính đầy cáu ghét, thì người thợ nhuộm có nhúng vào thuốc màu đẹp đến đâu, màu cũng chỉ ra xấu và không trong sạch. Một tấm vải sạch thì màu nào cũng lên đẹp. Đức Thế Tôn dùng chuyện ấy để nói về tâm: tâm bị cấu uế thì dẫn đến cõi ác, tâm trong sạch thì dẫn đến cõi lành. Điều đáng chú ý là hình ảnh không hề nói tấm vải vốn dĩ phải dơ. Nó chỉ nói: dơ thì nhuộm không ăn màu, sạch thì ăn màu — và việc giặt là hoàn toàn có thể.
Tiếp đó Đức Thế Tôn kể ra mười sáu thứ làm tâm ô nhiễm. Đó không phải những tội lỗi ghê gớm mà là những thứ rất quen: tham lam, sân hận, giận dữ, oán hận, chê bai, khinh miệt, ganh tị, keo kiệt, xảo trá, gian xảo, cố chấp, hung hăng, ngã mạn, kiêu căng, tự phụ, phóng dật. Với từng thứ, vị tỳ-kheo nhận diện nó là cấu uế của tâm rồi buông bỏ nó. Bản Pali lặp đi lặp lại cùng một khuôn mười sáu lần; cái lặp ấy chính là cách bài kinh dạy: đây là một danh sách để tự kiểm tra, không phải một bài giảng để nghe cho biết.
Khi tâm đã sạch, bài kinh đi tiếp theo một đường rất tự nhiên. Vị ấy có lòng tin vững chắc nơi Đức Thế Tôn, nơi Pháp và nơi Tăng đoàn — thứ lòng tin đã tự mình thể nghiệm, không phải tin vì nghe người khác nói. Niềm vui sinh khởi, thân lắng dịu, an lạc xuất hiện, và tâm nhập định. Từ nền tảng ấy, vị ấy tu bốn tâm thái rộng lớn: lòng từ, lòng bi, lòng vui mừng, lòng xả. Rồi vị ấy thấy rõ các tầng nhận thức của mình, biết còn cái cao hơn, và cuối cùng giải thoát hoàn toàn. Bài kinh gọi đó là "tắm bằng cách tắm bên trong".
Nửa cuối bài kinh là một cuộc gặp. Bà-la-môn Sundarikabhāradvāja ngồi gần đó, tin rằng tắm sông Bāhukā sẽ rửa sạch tội. Đức Thế Tôn hỏi lại: sông ấy làm được gì? Rồi Ngài nói bằng kệ rằng nước sông không rửa sạch được nghiệp đen; chỉ người trong sạch, không nói dối, không hại ai, không lấy của không cho, có lòng tin và không keo kiệt, mới thật sự thanh tịnh — và với người ấy, giếng nước của mình cũng chính là Gayā. Vị bà-la-môn nghe xong xin xuất gia, và không lâu sau chứng quả A-la-hán.
Người đọc lần đầu có thể đọc bài này như một lời nhắc rất thực tế. Không cần tin vào điều gì trước, chỉ cần nhìn vào danh sách mười sáu thứ kia và tự hỏi hôm nay mình đang mang thứ nào. Tấm vải trong ví dụ chính là tâm mình; và điều bài kinh khẳng định là tấm vải ấy giặt được.
[Chú thích của người dịch: Vattha là "tấm vải", upama là "ví dụ, so sánh". Tên kinh lấy hình ảnh tấm vải dơ và tấm vải sạch để nói về tâm bị cấu uế và tâm trong sạch.]
Tôi nghe như vầy.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).
Tại đó, Đức Thế Tôn gọi các tỳ-kheo:
"Này các tỳ-kheo!"
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," các tỳ-kheo đáp lời Đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn nói như vầy:
Này các tỳ-kheo, ví như một tấm vải dơ bẩn, vấy đầy cáu bẩn.
Người thợ nhuộm có nhúng nó vào thuốc nhuộm nào đi nữa — xanh, vàng, đỏ hay đỏ tía — thì nó cũng chỉ ra màu nhuộm xấu, màu không trong sạch.
Vì sao vậy?
Vì tấm vải ấy không trong sạch, này các tỳ-kheo.
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, khi tâm bị ô nhiễm thì chỉ có thể mong đợi cõi ác.
[Chú thích: Cõi ác (duggati) là mọi cõi thấp hơn cõi người, gồm cõi súc sinh, cõi ngạ quỷ và cõi địa ngục.]
Này các tỳ-kheo, ví như một tấm vải trong sạch, tinh khiết.
Người thợ nhuộm có nhúng nó vào thuốc nhuộm nào đi nữa — xanh, vàng, đỏ hay đỏ tía — thì nó cũng ra màu nhuộm đẹp, màu trong sạch.
Vì sao vậy?
Vì tấm vải ấy trong sạch, này các tỳ-kheo.
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, khi tâm không bị ô nhiễm thì có thể mong đợi cõi lành.
Và này các tỳ-kheo, những cấu uế của tâm là gì?
[Chú thích: Ở đây bản Pali chuyển từ saṅkiliṭṭha (bị ô nhiễm) sang upakkilesa (cấu uế, tức vết nhơ làm tâm ô nhiễm). Cả hai đều là cách gọi chung những phẩm chất bất thiện của tâm, nên đổi tiền tố không làm đổi nghĩa.]
Tham muốn và tham lam bất chính là cấu uế của tâm; sân hận là cấu uế của tâm; giận dữ là cấu uế của tâm; oán hận là cấu uế của tâm; chê bai là cấu uế của tâm; khinh miệt là cấu uế của tâm; ganh tị là cấu uế của tâm; keo kiệt là cấu uế của tâm; xảo trá là cấu uế của tâm; gian xảo là cấu uế của tâm; cố chấp là cấu uế của tâm; hung hăng là cấu uế của tâm; ngã mạn là cấu uế của tâm; kiêu căng là cấu uế của tâm; tự phụ là cấu uế của tâm; phóng dật là cấu uế của tâm.
Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo biết rõ "tham muốn và tham lam bất chính là cấu uế của tâm", rồi từ bỏ tham muốn và tham lam bất chính, cấu uế của tâm.
Vị ấy biết rõ "sân hận là cấu uế của tâm".
Sau khi biết như vậy, vị ấy từ bỏ sân hận, cấu uế của tâm.
Vị ấy biết rõ "giận dữ là cấu uế của tâm".
Sau khi biết như vậy, vị ấy từ bỏ giận dữ, cấu uế của tâm.
Vị ấy biết rõ "oán hận là cấu uế của tâm".
Sau khi biết như vậy, vị ấy từ bỏ oán hận, cấu uế của tâm.
Vị ấy biết rõ "chê bai là cấu uế của tâm".
Sau khi biết như vậy, vị ấy từ bỏ chê bai, cấu uế của tâm.
Vị ấy biết rõ "khinh miệt là cấu uế của tâm".
Sau khi biết như vậy, vị ấy từ bỏ khinh miệt, cấu uế của tâm.
Vị ấy biết rõ "ganh tị là cấu uế của tâm".
Sau khi biết như vậy, vị ấy từ bỏ ganh tị, cấu uế của tâm.
Vị ấy biết rõ "keo kiệt là cấu uế của tâm".
Sau khi biết như vậy, vị ấy từ bỏ keo kiệt, cấu uế của tâm.
Vị ấy biết rõ "xảo trá là cấu uế của tâm".
Sau khi biết như vậy, vị ấy từ bỏ xảo trá, cấu uế của tâm.
Vị ấy biết rõ "gian xảo là cấu uế của tâm".
Sau khi biết như vậy, vị ấy từ bỏ gian xảo, cấu uế của tâm.
Vị ấy biết rõ "cố chấp là cấu uế của tâm".
Sau khi biết như vậy, vị ấy từ bỏ cố chấp, cấu uế của tâm.
Vị ấy biết rõ "hung hăng là cấu uế của tâm".
Sau khi biết như vậy, vị ấy từ bỏ hung hăng, cấu uế của tâm.
Vị ấy biết rõ "ngã mạn là cấu uế của tâm".
Sau khi biết như vậy, vị ấy từ bỏ ngã mạn, cấu uế của tâm.
Vị ấy biết rõ "kiêu căng là cấu uế của tâm".
Sau khi biết như vậy, vị ấy từ bỏ kiêu căng, cấu uế của tâm.
Vị ấy biết rõ "tự phụ là cấu uế của tâm".
Sau khi biết như vậy, vị ấy từ bỏ tự phụ, cấu uế của tâm.
Vị ấy biết rõ "phóng dật là cấu uế của tâm".
Sau khi biết như vậy, vị ấy từ bỏ phóng dật, cấu uế của tâm.
Này các tỳ-kheo, khi vị tỳ-kheo đã biết rõ "tham muốn và tham lam bất chính là cấu uế của tâm", thì tham muốn và tham lam bất chính, cấu uế của tâm, đã được vị ấy từ bỏ.
Vị ấy biết rõ "sân hận là cấu uế của tâm".
Sau khi biết như vậy, sân hận, cấu uế của tâm, đã được vị ấy từ bỏ.
Vị ấy biết rõ "giận dữ là cấu uế của tâm".
Sau khi biết như vậy, giận dữ, cấu uế của tâm, đã được vị ấy từ bỏ.
Vị ấy biết rõ "oán hận là cấu uế của tâm".
Sau khi biết như vậy, oán hận, cấu uế của tâm, đã được vị ấy từ bỏ.
Vị ấy biết rõ "chê bai là cấu uế của tâm".
Sau khi biết như vậy, chê bai, cấu uế của tâm, đã được vị ấy từ bỏ.
Vị ấy biết rõ "khinh miệt là cấu uế của tâm".
Sau khi biết như vậy, khinh miệt, cấu uế của tâm, đã được vị ấy từ bỏ.
Vị ấy biết rõ "ganh tị là cấu uế của tâm".
Sau khi biết như vậy, ganh tị, cấu uế của tâm, đã được vị ấy từ bỏ.
Vị ấy biết rõ "keo kiệt là cấu uế của tâm".
Sau khi biết như vậy, keo kiệt, cấu uế của tâm, đã được vị ấy từ bỏ.
Vị ấy biết rõ "xảo trá là cấu uế của tâm".
Sau khi biết như vậy, xảo trá, cấu uế của tâm, đã được vị ấy từ bỏ.
Vị ấy biết rõ "gian xảo là cấu uế của tâm".
Sau khi biết như vậy, gian xảo, cấu uế của tâm, đã được vị ấy từ bỏ.
Vị ấy biết rõ "cố chấp là cấu uế của tâm".
Sau khi biết như vậy, cố chấp, cấu uế của tâm, đã được vị ấy từ bỏ.
Vị ấy biết rõ "hung hăng là cấu uế của tâm".
Sau khi biết như vậy, hung hăng, cấu uế của tâm, đã được vị ấy từ bỏ.
Vị ấy biết rõ "ngã mạn là cấu uế của tâm".
Sau khi biết như vậy, ngã mạn, cấu uế của tâm, đã được vị ấy từ bỏ.
Vị ấy biết rõ "kiêu căng là cấu uế của tâm".
Sau khi biết như vậy, kiêu căng, cấu uế của tâm, đã được vị ấy từ bỏ.
Vị ấy biết rõ "tự phụ là cấu uế của tâm".
Sau khi biết như vậy, tự phụ, cấu uế của tâm, đã được vị ấy từ bỏ.
Vị ấy biết rõ "phóng dật là cấu uế của tâm".
Sau khi biết như vậy, phóng dật, cấu uế của tâm, đã được vị ấy từ bỏ.
Vị ấy có lòng tin đã tự mình thể nghiệm nơi Đức Thế Tôn:
[Chú thích: "Thể nghiệm" dịch chữ avecca, nghĩa đen là "đã trải qua". Đây là lòng tin của bậc đã nhập dòng thánh, người tự mình thấy chứ không tin theo lời người khác.]
"Ngài là bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đầy đủ minh và hạnh, bậc Thiện thệ, bậc thấu hiểu thế gian, bậc tối thượng dẫn dắt những người cần được điều ngự, bậc thầy của trời và người, bậc Giác ngộ, bậc Thế Tôn."
[Chú thích: Vị ấy có lòng tin đã thể nghiệm nơi Đức Thế Tôn với tư cách người thầy, vì đã đi theo con đường Ngài dạy và tự mình chứng được kết quả Ngài nói.]
Vị ấy có lòng tin đã tự mình thể nghiệm nơi Pháp:
"Pháp đã được Đức Thế Tôn khéo giảng, thiết thực ngay trong hiện tại, không chờ thời gian, đến để thấy, có sức dẫn dắt, và chỉ người trí mới tự mình biết được."
[Chú thích: Bậc đã nhập dòng thánh trực tiếp chứng nghiệm bốn sự thật cao quý, nên tự mình xác nhận rằng Pháp này quả thật chứng ngộ được ngay trong đời này.]
Vị ấy có lòng tin đã tự mình thể nghiệm nơi Tăng đoàn:
"Tăng đoàn đệ tử của Đức Thế Tôn đã thực hành con đường lành, đã thực hành con đường ngay thẳng, đã thực hành con đường đúng phương pháp, đã thực hành con đường đúng phép tắc. Đó là bốn đôi, tám vị. Tăng đoàn đệ tử của Đức Thế Tôn đây xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được tiếp đón, xứng đáng được nhận lễ vật, xứng đáng được chắp tay kính lễ, là ruộng phước vô thượng cho đời."
[Chú thích: Kinh điển phân biệt hai nghĩa của Tăng đoàn. "Tăng đoàn tỳ-kheo" là cộng đồng xuất gia theo quy ước, còn "Tăng đoàn đệ tử" là bốn đôi, tám vị: bốn bậc thánh, mỗi bậc chia thành người đang tu tập để chứng quả và người đã chứng quả. Ở đây chữ Tăng đoàn không có nghĩa là một cộng đồng tâm linh nói chung.]
Khi vị ấy đã dứt bỏ, nôn ra, buông bỏ, từ bỏ và không còn dính mắc đến mức ấy, vị ấy nghĩ "ta có lòng tin đã tự mình thể nghiệm nơi Đức Thế Tôn", và được phấn khởi nơi nghĩa, phấn khởi nơi Pháp, cùng niềm hoan hỷ gắn liền với Pháp.
Với người đã hoan hỷ, hỷ sinh khởi. Tâm tràn đầy hỷ thì thân lắng dịu. Thân đã lắng dịu thì cảm nhận an lạc. Người an lạc thì tâm nhập định.
Vị ấy nghĩ "ta có lòng tin đã tự mình thể nghiệm nơi Pháp", và được phấn khởi nơi nghĩa, phấn khởi nơi Pháp, cùng niềm hoan hỷ gắn liền với Pháp.
Vị ấy nghĩ "ta có lòng tin đã tự mình thể nghiệm nơi Tăng đoàn", và được phấn khởi nơi nghĩa, phấn khởi nơi Pháp, cùng niềm hoan hỷ gắn liền với Pháp.
Với người đã hoan hỷ, hỷ sinh khởi. Tâm tràn đầy hỷ thì thân lắng dịu. Thân đã lắng dịu thì cảm nhận an lạc. Người an lạc thì tâm nhập định.
Vị ấy nghĩ "ta đã dứt bỏ, nôn ra, buông bỏ, từ bỏ và không còn dính mắc đến mức ấy", và được phấn khởi nơi nghĩa, phấn khởi nơi Pháp, cùng niềm hoan hỷ gắn liền với Pháp.
Với người đã hoan hỷ, hỷ sinh khởi. Tâm tràn đầy hỷ thì thân lắng dịu. Thân đã lắng dịu thì cảm nhận an lạc. Người an lạc thì tâm nhập định.
[Chú thích: Suy xét về sự tiến bộ của mình sinh ra niềm vui và thúc đẩy tiến xa hơn. Niềm vui ấy có thể mạnh đến mức trở thành nền tảng cho định.]
Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo có giới như vậy, có phẩm chất như vậy, có tuệ như vậy, dù có ăn cơm gạo trắng hảo hạng đã nhặt hết hạt đen, với nhiều món canh và nhiều món ăn kèm, thì điều đó cũng không thành chướng ngại cho vị ấy.
[Chú thích: Một bữa ăn ngon thường là cám dỗ dục lạc lớn nhất trong ngày của một vị tỳ-kheo. Trong bản Hán tương ứng, Tăng Nhất A-hàm 13.5, chi tiết này chỉ được nhắc đến sau khi đã chứng quả A-la-hán.]
Này các tỳ-kheo, ví như một tấm vải dơ bẩn, vấy đầy cáu bẩn, nhờ nước trong mà trở nên trong sạch, tinh khiết; hay như vàng tự nhiên, nhờ lò rèn mà trở nên trong sạch, sáng đẹp.
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo có giới như vậy, có phẩm chất như vậy, có tuệ như vậy, dù có ăn cơm gạo trắng hảo hạng đã nhặt hết hạt đen, với nhiều món canh và nhiều món ăn kèm, thì điều đó cũng không thành chướng ngại cho vị ấy.
Vị ấy trú với tâm câu hữu với lòng từ, trải khắp một phương; cũng vậy với phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư. Như vậy, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, không sót chỗ nào, vị ấy trải khắp toàn bộ thế giới bằng tâm câu hữu với lòng từ — rộng lớn, quảng đại, vô lượng, không oán thù, không ác ý.
[Chú thích: "Câu hữu" nghĩa là "đi cùng, có mặt cùng"; ở đây Đức Thế Tôn nói đến bốn tâm thái thường được gọi là bốn pháp vô lượng, có thể tu tập làm nền tảng cho định. Các tâm thái này có từ trước thời Đức Thế Tôn và cũng xuất hiện trong những văn bản ngoài Phật giáo về sau. "Từ" là lòng quan tâm tốt lành phổ quát, không kèm ham muốn hay dính mắc riêng tư.]
Vị ấy trú với tâm câu hữu với lòng bi, trải khắp một phương; cũng vậy với phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư. Như vậy, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, không sót chỗ nào, vị ấy trải khắp toàn bộ thế giới bằng tâm câu hữu với lòng bi — rộng lớn, quảng đại, vô lượng, không oán thù, không ác ý.
[Chú thích: "Bi" là khả năng cảm thông với nỗi khổ của người khác hoặc của chính mình, cùng với mong muốn gỡ bỏ nỗi khổ ấy.]
Vị ấy trú với tâm câu hữu với lòng vui mừng, trải khắp một phương; cũng vậy với phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư. Như vậy, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, không sót chỗ nào, vị ấy trải khắp toàn bộ thế giới bằng tâm câu hữu với lòng vui mừng — rộng lớn, quảng đại, vô lượng, không oán thù, không ác ý.
[Chú thích: "Vui mừng" là niềm vui chia sẻ trước thành công của người khác hoặc của chính mình, không có ganh tị hay dè bỉu.]
Vị ấy trú với tâm câu hữu với lòng xả, trải khắp một phương; cũng vậy với phương thứ hai, phương thứ ba, phương thứ tư. Như vậy, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, không sót chỗ nào, vị ấy trải khắp toàn bộ thế giới bằng tâm câu hữu với lòng xả — rộng lớn, quảng đại, vô lượng, không oán thù, không ác ý.
[Chú thích: "Xả" nghĩa đen là "nhìn gần", không can thiệp nhưng sẵn sàng khi cần. Đây không phải thờ ơ, nên nó chỉ xuất hiện cuối cùng, sau khi các tâm thái tích cực đã được tu dưỡng.]
Vị ấy biết rõ: "Có cái này, có cái thấp kém hơn, có cái cao thượng hơn, và có một lối thoát vượt ra khỏi phạm vi của tưởng".
[Chú thích: Đây là mô tả tuệ quán sâu xa của một bậc đã nhập dòng thánh. Hành giả hiểu rõ trạng thái hiện tại của mình là do duyên mà thành nên có thể suy giảm, biết còn những trạng thái tâm cao hơn có thể tu tập, và biết rằng tuy mọi tầng thiền đều nằm trong phạm vi của tưởng, vẫn có một lối thoát tối hậu là Niết-bàn.]
Với vị ấy, khi biết như vậy và thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi lậu hoặc của dục, tâm được giải thoát khỏi lậu hoặc của hữu, tâm được giải thoát khỏi lậu hoặc của vô minh.
Khi đã giải thoát, vị ấy biết "ta đã giải thoát".
Vị ấy biết: 'Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa.'
Này các tỳ-kheo, đây được gọi là:
"Vị tỳ-kheo đã tắm bằng cách tắm bên trong".
[Chú thích: Kinh Tương Ưng 55.30 dùng cách nói "sự tắm rửa bên trong" với cùng ý nghĩa này. "Đã tắm" là chữ sināta, một cách viết hiếm của nhata. Về sau, các văn bản bà-la-môn cho rằng tắm bên ngoài chỉ có giá trị tâm linh khi đi kèm sự thanh tịnh bên trong, như sách Mahābhārata nói người tắm bằng tự chế ngự thì sạch cả trong lẫn ngoài.]
Lúc bấy giờ, bà-la-môn Sundarikabhāradvāja đang ngồi cách Đức Thế Tôn không xa.
[Chú thích: Dường như Đức Thế Tôn cố ý nhắc đến sự tắm rửa bên trong để khơi chuyện với vị bà-la-môn này. Bốn trong sáu bản Hán tương ứng đặt đoạn này bên bờ một con sông.]
Rồi bà-la-môn Sundarikabhāradvāja thưa với Đức Thế Tôn:
"Thưa ngài Gotama, ngài có đi đến sông Bāhukā để tắm không?"
"Này bà-la-môn, sông Bāhukā thì có gì?"
"Sông Bāhukā làm được gì?"
"Thưa ngài Gotama, nhiều người cho rằng sông Bāhukā đưa người đến cõi trời, nhiều người cho rằng sông Bāhukā ban phước. Thưa ngài Gotama, người ta rửa trôi nghiệp ác đã làm nơi sông Bāhukā."
[Chú thích: "Lokkha" ở đây dịch là "đưa đến cõi trời"; chữ này chỉ gặp một lần trong kinh Pali, tương ứng với lokya trong các văn bản bà-la-môn cổ. Tắm để được sạch tội là tục lệ bà-la-môn có trước thời Đức Thế Tôn. Nữ tỳ-kheo Puṇṇikā từng phản bác: nếu tắm sông mà sạch tội thì cá, ếch và rùa đã lên cõi trời cả rồi.]
Rồi Đức Thế Tôn nói với bà-la-môn Sundarikabhāradvāja bằng những câu kệ:
Bāhukā và Adhikakkā,
[Chú thích: Sông Bāhukā chỉ được nhắc ở đây, có lẽ là sông Bāhudā trong các văn bản Phạn ngữ; cả hai tên đều mang nghĩa "ban cho sự sung túc". Adhikakkā cũng chỉ được nhắc ở đây, và chú giải nói đó là một bến sông.]
Gayā và Sundarikā,
[Chú thích: Gayā là một bến sông trên dòng Phalgu, cạnh thị trấn Gayā, đến nay vẫn là nơi tắm lễ linh thiêng. Sundarikā là một con sông ở Kosala, dùng cho các nghi lễ bà-la-môn; tắm ở bến sông ấy được cho là đem lại sắc đẹp.]
Sarasvatī cùng Payāga,
[Chú thích: Sarasvatī là dòng sông nổi tiếng nhất trong kinh Vệ-đà, nay đã mất dòng chảy. Payāga là bến sông linh thiêng ở chỗ hợp lưu sông Hằng và sông Yamunā, nay là Prayagraj.]
và dòng sông Bāhumatī.
[Chú thích: Sông Bāhumatī chỉ được nhắc qua loa trong các sách tra cứu Phạn ngữ; là một biệt danh của Indra, chữ này có nghĩa "cánh tay mạnh".]
kẻ ngu vẫn lao mình xuống đó mãi,
nhưng nghiệp đen chẳng được rửa sạch.
Sông Sundarikā làm được gì,
Payāga hay Bāhukā làm được gì?
Một kẻ hung ác, kẻ đã gây tội,
các dòng sông ấy không rửa sạch được.
Với người trong sạch, lễ Phaggu luôn có đó,
với người trong sạch, ngày trai giới luôn có đó.
[Chú thích: Lễ Phaggu được cho là tổ chức tại Gayā, tuy một số nguồn Phạn ngữ lại coi đó là tên một con sông ở Gayā.]
Với người trong sạch, người hành động thanh tịnh,
lời nguyện của họ luôn được thành tựu.
Này bà-la-môn, hãy tắm ngay tại đây,
và hãy làm nơi nương an ổn cho mọi loài.
[Chú thích: "Khema" là nơi trú ẩn an toàn cho muôn loài, một ý nghĩa xuất hiện trong nhiều chuyện Jātaka.]
Nếu ông không nói lời dối trá,
nếu ông không làm hại sinh mạng nào,
nếu ông không lấy của gì chưa được cho,
có lòng tin và không keo kiệt,
thì đi đến Gayā để làm gì?
[Chú thích: Đây là lời đáp lại quan niệm trong Vāyu Purāṇa rằng chỉ cần dâng lễ ở Gayā thì mọi phương tiện giải thoát khác đều trở nên thừa.]
giếng nước của ông cũng chính là Gayā.
Khi nghe nói vậy, bà-la-môn Sundarikabhāradvāja thưa với Đức Thế Tôn:
"Thật tuyệt vời, thưa ngài Gotama, thật tuyệt vời!"
"Thưa ngài Gotama, như người dựng lại vật đã bị lật úp, mở ra vật đã bị che kín, chỉ đường cho người lạc lối, đem đèn dầu vào chỗ tối để những người có mắt thấy được các sắc — cũng vậy, ngài Gotama đã dùng nhiều cách khác nhau để làm sáng tỏ Pháp."
"Con xin quy y ngài Gotama, quy y Pháp và Tăng đoàn tỳ-kheo."
"Con xin được xuất gia trong giáo pháp của ngài Gotama, con xin được thọ cụ túc giới."
Bà-la-môn Sundarikabhāradvāja đã được xuất gia và thọ cụ túc giới trong giáo pháp của Đức Thế Tôn.
Không lâu sau khi thọ cụ túc giới, tôn giả Bhāradvāja sống một mình, xa lánh, không buông lơi, nhiệt tâm và quyết chí. Chẳng bao lâu, ngay trong đời này, vị ấy tự mình chứng ngộ bằng thắng trí và an trú vào sự viên mãn tối thượng của đời sống phạm hạnh — mục đích mà những người con trai tốt lành đúng đắn xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình, sống không nhà.
Vị ấy biết rõ: "Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa".
Và tôn giả Bhāradvāja trở thành một trong những bậc A-la-hán.
Kinh Ví Dụ Tấm Vải, bài thứ bảy, kết thúc tại đây.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.