buppou

Trung Bộ Kinh · bài 8/152

Kinh Loại Bỏ

Sallekha Sutta — bài kinh về sự loại bỏ những pháp bất thiện

33 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Loại Bỏ (Sallekha Sutta) là bài kinh thứ tám trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Chữ sallekha trong tên bài có nghĩa là "cọ xóa, loại bỏ" — như người ta cọ xóa một dòng chữ đã viết trên bảng. Ở đây nó nói đến việc cọ rửa những thói xấu trong tâm mình, chứ không phải một nghi lễ hay một phép lạ nào.

Bài kinh mở đầu bằng một câu hỏi rất cụ thể. Tôn giả Mahācunda, vào một buổi chiều, đến hỏi Đức Thế Tôn: trong đời có vô số quan điểm trái nhau về "ta là ai" và "thế giới này là gì"; vậy một người tu, khi bắt đầu chú tâm, làm thế nào để buông được những quan điểm ấy? Đức Thế Tôn trả lời gọn: buông được khi thấy đúng như thật rằng "cái này không phải của ta, ta không phải cái này, cái này không phải tự ngã của ta". Nói cách khác, không phải tranh cãi cho quan điểm này thắng quan điểm kia, mà là nhìn thẳng vào chỗ mình đang bám.

Rồi bài kinh đi qua một loạt tầng thiền định. Người tu lần lượt vào bốn tầng thiền-na, rồi bốn trạng thái vô sắc, nơi nhận thức chỉ còn là không gian vô biên, là thức vô biên, là sự không có gì, và sau cùng là một trạng thái không có tưởng mà cũng không phải không có tưởng. Ai đạt được những tầng ấy cũng dễ tưởng rằng mình đang thực hành sự loại bỏ, đã cọ rửa xong. Đức Thế Tôn chỉnh lại: trong sự huấn luyện của bậc thánh, những tầng ấy chỉ được gọi là "những sự an trú an lạc ngay trong đời này" và "những sự an trú tịch tĩnh" — chúng đáng quý, nhưng chưa phải là sự loại bỏ.

Sự loại bỏ thật sự, theo bài kinh, là một việc làm hằng ngày và rất đời thường. Đức Thế Tôn nêu bốn mươi bốn cặp đối lập, mỗi cặp nói theo cùng một khuôn: "Người khác sẽ như thế này, còn ở đây chúng ta sẽ như thế kia." Người khác sẽ hung bạo, mình sẽ không hung bạo. Người khác sẽ nói dối, mình sẽ không nói dối. Người khác sẽ có tà kiến, tức cái nhìn sai lệch, mình sẽ có chánh kiến, tức cái nhìn đúng. Điểm tựa không phải là so mình với người khác cho hơn, mà là tự chọn cho mình một hướng đi không tùy thuộc vào việc thiên hạ làm gì.

Bốn mươi bốn cặp ấy được trình bày năm lần, theo năm cách nhìn, và đó là năm phần của bài kinh: loại bỏ (cứ thế mà làm), khởi tâm (chỉ cần nghĩ đến việc làm tốt cũng đã có ích), vòng qua (như có đường gồ ghề thì đi đường bằng phẳng khác), hướng thượng (mọi pháp thiện đều dẫn lên, mọi pháp bất thiện đều dẫn xuống), và Niết-bàn (người còn lún trong bùn thì không kéo được ai ra khỏi bùn). Bài kinh khép lại bằng lời khích lệ quen thuộc: đây là những gốc cây, đây là những căn nhà trống, hãy thực hành thiền-na, chớ phóng dật, chớ để về sau phải hối hận.

Người đọc lần đầu có thể lấy bài kinh này làm một bảng tự kiểm tra. Không cần tin trước điều gì, chỉ cần đọc từng cặp và tự hỏi: hôm nay mình đang đứng ở bên nào? Điều bài kinh khẳng định rất rõ: hướng đi ấy không tùy thuộc vào việc người khác có làm đúng hay không.

[Chú thích của người dịch: Sallekha là "sự cọ xóa, loại bỏ", theo hình ảnh xóa đi một dòng chữ đã viết. Tên kinh nói đến việc cọ rửa những pháp bất thiện trong tâm bằng cách nuôi dưỡng pháp đối lập với chúng.]

Mục lục bài kinh
  1. Pháp môn loại bỏ
  2. Pháp môn khởi tâm
  3. Pháp môn vòng qua
  4. Pháp môn hướng thượng
  5. Pháp môn Niết-bàn

Tôi nghe như vầy.

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).

[Chú thích: Trong hai bản tương ứng của bài kinh này, MA 91 diễn ra tại tịnh xá Ghositārāma ở Kosambī, còn EA 47.9 thì ở Khu Vườn Sóc tại Rājagaha. Phần bối cảnh tự sự thường khác nhau như vậy; chúng không phải là "lời của Đức Thế Tôn" mà do những người biên tập thêm vào ở một thời điểm nào đó.]

Rồi vào buổi chiều, Tôn giả Mahācunda từ chỗ độc cư bước ra, đi đến chỗ Đức Thế Tôn. Đến rồi, ngài đảnh lễ Đức Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahācunda bạch Đức Thế Tôn:

[Chú thích: Có nhiều vị tên Cunda mà lai lịch không rõ. Mahācunda là một trong những đệ tử lớn, về sau đem Pháp đến xứ Cetī; chú giải nói ngài là em trai của Sāriputta. Chú giải cũng đồng nhất ngài với vị sa-di Cunda trong một số kinh, và không rõ có đồng nhất với Cundaka trong DN 16 hay không.]

Bạch Thế Tôn, có nhiều quan điểm đủ loại khởi lên ở đời —

gắn với lời bàn về tự ngã hoặc gắn với lời bàn về thế gian —

[Chú thích: Các quan điểm này được bàn nhiều lần trong kinh: về tự ngã ở MN 2 và MN 44, về thế gian ở MN 63 và MN 72, về cả hai ở DN 1 và MN 102.]

khi một tỳ-kheo tác ý ngay từ đầu, thì các quan điểm ấy được từ bỏ và buông bỏ như thế nào, bạch Thế Tôn?

[Chú thích: Thành ngữ ādimeva thường xuất hiện khi Đức Thế Tôn dặn một tỳ-kheo tu tập, nghĩa là làm trong sạch ngay từ đầu các pháp thiện, tức giới và kiến. Bản Pali hỏi trực tiếp, nhưng thành ngữ evametāsaṁ cho thấy ý hỏi "bằng cách nào"; hai bản Hán cũng dùng chữ chỉ nghĩa "như thế nào" ở đây.]

Này Cunda, có nhiều quan điểm đủ loại khởi lên ở đời —

gắn với lời bàn về tự ngã hoặc gắn với lời bàn về thế gian —

Chỗ nào các quan điểm ấy khởi lên, lắng lại và biểu hiện, thì với người thấy như thật bằng chánh tuệ rằng "cái này không phải của ta, ta không phải cái này, cái này không phải tự ngã của ta", các quan điểm ấy được từ bỏ, được buông bỏ.

[Chú thích: Đây là tuệ của bậc Dự lưu, nơi tà kiến bị từ bỏ hoàn toàn nhờ tuệ thấy rõ sự thật về duyên khởi. Phần còn lại của bài kinh bàn về con đường tu tập dẫn đến điểm này.]

Này Cunda, có thể xảy ra chuyện một tỳ-kheo nọ, xa lìa các dục và xa lìa các pháp bất thiện, chứng đạt và an trú vào thiền-na thứ nhất, tầng thiền có tầm có tứ, với hỷ và lạc sinh ra từ sự ly dục.

Vị ấy nghĩ:

"Mình đang thực hành sự loại bỏ."

[Chú thích: Sallekha là "sự loại bỏ", theo nghĩa cọ xóa đi một dòng chữ đã viết. Ở đây nó chỉ sức mạnh nội tâm để bền bỉ loại bỏ các pháp bất thiện bằng cách nuôi dưỡng pháp đối lập, bất kể người khác làm gì. Đừng lẫn với sallekhanā của đạo Jain, nơi người tu gần chết thì từ chối mọi thức ăn.]

Nhưng này Cunda, trong sự huấn luyện của bậc thánh, những thứ ấy không được gọi là sự loại bỏ.

Trong sự huấn luyện của bậc thánh, chúng được gọi là những sự an trú an lạc ngay trong đời này.

[Chú thích: Bài kinh không hề chê các tầng thiền, vì thiền-na là phần nền tảng của con đường và về sau được xếp vào chánh định. Ý ở đây là phải chủ động tu mọi mặt của con đường, thấp hay cao, và đưa chúng vào mọi mặt của đời sống, chứ không chỉ nương vào sự ngồi thiền nơi vắng vẻ.]

Này Cunda, có thể xảy ra chuyện một tỳ-kheo nọ, khi các tầm và tứ lắng xuống, chứng đạt và an trú vào thiền-na thứ hai, tầng thiền có sự trong sáng nội tâm, tâm chuyên nhất, không tầm không tứ, với hỷ và lạc sinh ra từ định.

Vị ấy nghĩ:

"Mình đang thực hành sự loại bỏ."

Nhưng này Cunda, trong sự huấn luyện của bậc thánh, những thứ ấy không được gọi là sự loại bỏ.

Trong sự huấn luyện của bậc thánh, chúng được gọi là những sự an trú an lạc ngay trong đời này.

Này Cunda, có thể xảy ra chuyện một tỳ-kheo nọ, khi hỷ phai nhạt, trú với xả, chánh niệm và tỉnh giác, cảm nhận sự an lạc nơi thân — điều mà các bậc thánh nói là "xả, có chánh niệm, sống an lạc" — chứng đạt và an trú vào thiền-na thứ ba.

Vị ấy nghĩ:

"Mình đang thực hành sự loại bỏ."

Nhưng này Cunda, trong sự huấn luyện của bậc thánh, những thứ ấy không được gọi là sự loại bỏ.

Trong sự huấn luyện của bậc thánh, chúng được gọi là những sự an trú an lạc ngay trong đời này.

Này Cunda, có thể xảy ra chuyện một tỳ-kheo nọ, khi từ bỏ lạc và từ bỏ khổ, khi hỷ và ưu trước đây đã lắng xuống, chứng đạt và an trú vào thiền-na thứ tư, tầng thiền không khổ không lạc, với xả và chánh niệm trong sạch.

Vị ấy nghĩ:

"Mình đang thực hành sự loại bỏ."

Nhưng này Cunda, trong sự huấn luyện của bậc thánh, những thứ ấy không được gọi là sự loại bỏ.

Trong sự huấn luyện của bậc thánh, chúng được gọi là những sự an trú an lạc ngay trong đời này.

Này Cunda, có thể xảy ra chuyện một tỳ-kheo nọ, vượt qua hoàn toàn các tưởng về sắc, khi các tưởng về sự va chạm đã lắng xuống, không tác ý đến các tưởng sai biệt, biết rằng "không gian là vô biên", chứng đạt và an trú vào xứ không gian vô biên.

Vị ấy nghĩ:

"Mình đang thực hành sự loại bỏ."

Nhưng này Cunda, trong sự huấn luyện của bậc thánh, những thứ ấy không được gọi là sự loại bỏ.

Trong sự huấn luyện của bậc thánh, chúng được gọi là những sự an trú tịch tĩnh.

Này Cunda, có thể xảy ra chuyện một tỳ-kheo nọ, vượt qua hoàn toàn xứ không gian vô biên, biết rằng "thức là vô biên", chứng đạt và an trú vào xứ thức vô biên.

Vị ấy nghĩ:

"Mình đang thực hành sự loại bỏ."

Nhưng này Cunda, trong sự huấn luyện của bậc thánh, những thứ ấy không được gọi là sự loại bỏ.

Trong sự huấn luyện của bậc thánh, chúng được gọi là những sự an trú tịch tĩnh.

Này Cunda, có thể xảy ra chuyện một tỳ-kheo nọ, vượt qua hoàn toàn xứ thức vô biên, biết rằng "không có gì cả", chứng đạt và an trú vào xứ không có gì.

Vị ấy nghĩ:

"Mình đang thực hành sự loại bỏ."

Nhưng này Cunda, trong sự huấn luyện của bậc thánh, những thứ ấy không được gọi là sự loại bỏ.

Trong sự huấn luyện của bậc thánh, chúng được gọi là những sự an trú tịch tĩnh.

Này Cunda, có thể xảy ra chuyện một tỳ-kheo nọ, vượt qua hoàn toàn xứ không có gì, chứng đạt và an trú vào xứ không có tưởng cũng không phải không có tưởng.

Vị ấy nghĩ:

"Mình đang thực hành sự loại bỏ."

Nhưng này Cunda, trong sự huấn luyện của bậc thánh, những thứ ấy không được gọi là sự loại bỏ.

Trong sự huấn luyện của bậc thánh, chúng được gọi là những sự an trú tịch tĩnh.


1. Pháp môn loại bỏ

Ở đây, này Cunda, các ông phải thực hành sự loại bỏ.

[Chú thích: Cụm "phải thực hành sự loại bỏ" lặp lại trong từng mục nhưng bản dịch Anh lược bớt. Nó gợi nhớ cụm "phải làm việc học tập" kết thúc mỗi điều học trong Luật tạng; cả hai đều nhấn mạnh sự nỗ lực chủ động.]

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ hung bạo, còn ở đây chúng ta sẽ không hung bạo."

[Chú thích: Danh sách các pháp bất thiện này là bộ xương của phần còn lại, được lặp năm lần với cách trình bày khác nhau. Bản Pali có 44 mục, MA 91 có 31, EA 47.9 có 16. Không hung bạo đứng đầu vì đó là nền tảng của các pháp thiện và là giới thứ nhất.]

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ giết hại sinh vật, còn ở đây chúng ta sẽ từ bỏ việc giết hại sinh vật."

[Chú thích: Mười mục này hợp thành mười cách hành động thiện.]

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ trộm cắp, còn ở đây chúng ta sẽ từ bỏ trộm cắp."

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ sống không phạm hạnh, còn ở đây chúng ta sẽ sống phạm hạnh."

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ nói dối, còn ở đây chúng ta sẽ từ bỏ nói dối."

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ nói lời chia rẽ, còn ở đây chúng ta sẽ từ bỏ lời chia rẽ."

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ nói lời thô ác, còn ở đây chúng ta sẽ từ bỏ lời thô ác."

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ nói lời nhảm nhí, còn ở đây chúng ta sẽ từ bỏ lời nhảm nhí."

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ tham muốn, còn ở đây chúng ta sẽ không tham muốn."

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ có tâm sân hận, còn ở đây chúng ta sẽ không có tâm sân hận."

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ có tà kiến, còn ở đây chúng ta sẽ có chánh kiến."

[Chú thích: Mục này làm hai việc: vừa là mục cuối của mười cách hành động thiện, vừa là mục đầu của con đường tám chi phần của bậc thánh.]

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ có tà tư duy, còn ở đây chúng ta sẽ có chánh tư duy."

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ có tà ngữ, còn ở đây chúng ta sẽ có chánh ngữ."

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ có tà nghiệp, còn ở đây chúng ta sẽ có chánh nghiệp."

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ có tà mạng, còn ở đây chúng ta sẽ có chánh mạng."

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ có tà tinh tấn, còn ở đây chúng ta sẽ có chánh tinh tấn."

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ có tà niệm, còn ở đây chúng ta sẽ có chánh niệm."

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ có tà định, còn ở đây chúng ta sẽ có chánh định."

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ có tà trí, còn ở đây chúng ta sẽ có chánh trí."

[Chú thích: Hai mục này đôi khi được thêm vào con đường tám chi phần để thành mười, chẳng hạn ở MN 117. Cả hai bản tương ứng đều thiếu hai mục này.]

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ có tà giải thoát, còn ở đây chúng ta sẽ có chánh giải thoát."

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ bị hôn trầm buồn ngủ chi phối, còn ở đây chúng ta sẽ thoát khỏi hôn trầm buồn ngủ."

[Chú thích: Đây là triền cái thứ ba trong năm triền cái, và hai triền cái cuối theo ngay sau. Hai triền cái đầu đã xuất hiện ở trên, mang tên "tham muốn" và "tâm sân hận".]

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ bồn chồn, còn ở đây chúng ta sẽ không bồn chồn."

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ nghi ngờ, còn ở đây chúng ta sẽ vượt qua nghi ngờ."

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ giận dữ, còn ở đây chúng ta sẽ không giận dữ."

[Chú thích: Mười mục này nằm trong mười sáu cấu uế của tâm ở MN 7.]

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ oán hận, còn ở đây chúng ta sẽ không oán hận."

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ chê bai, còn ở đây chúng ta sẽ không chê bai."

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ khinh miệt, còn ở đây chúng ta sẽ không khinh miệt."

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ ganh tị, còn ở đây chúng ta sẽ không ganh tị."

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ keo kiệt, còn ở đây chúng ta sẽ không keo kiệt."

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ gian xảo, còn ở đây chúng ta sẽ không gian xảo."

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ xảo trá, còn ở đây chúng ta sẽ không xảo trá."

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ cứng nhắc, còn ở đây chúng ta sẽ không cứng nhắc."

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ kiêu căng, còn ở đây chúng ta sẽ không kiêu căng."

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ khó dạy bảo, còn ở đây chúng ta sẽ dễ dạy bảo."

[Chú thích: Ba mục này không thuộc một bộ nào đã được định nghĩa, và cũng vắng mặt trong MA 91.]

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ có bạn xấu, còn ở đây chúng ta sẽ có bạn lành."

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ phóng dật, còn ở đây chúng ta sẽ không phóng dật."

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ không có lòng tin, còn ở đây chúng ta sẽ có lòng tin."

[Chú thích: Bảy mục bắt đầu từ đây là bảy phẩm chất tốt, tương ứng với bảy phẩm chất xấu, ở MN 53.]

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ không biết hổ thẹn, còn ở đây chúng ta sẽ biết hổ thẹn."

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ không biết sợ điều ác, còn ở đây chúng ta sẽ biết sợ điều ác."

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ ít học, còn ở đây chúng ta sẽ học rộng."

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ lười biếng, còn ở đây chúng ta sẽ siêng năng tinh tấn."

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ mất chánh niệm, còn ở đây chúng ta sẽ giữ vững chánh niệm."

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ kém tuệ, còn ở đây chúng ta sẽ đầy đủ tuệ."

Phải thực hành sự loại bỏ như vầy: "Người khác sẽ bám giữ quan điểm riêng, nắm chặt và khó buông bỏ, còn ở đây chúng ta sẽ không bám giữ quan điểm riêng, không nắm chặt và dễ buông bỏ."

[Chú thích: Mục này thường đi sau "ước muốn xấu và tà kiến", nên không thuộc một bộ đã định nghĩa trong bài này, và cũng vắng mặt trong MA 91.]


2. Pháp môn khởi tâm

Này Cunda, Ta nói rằng ngay cả việc khởi lên ý nghĩ về các pháp thiện cũng có nhiều lợi ích, huống chi là thực hành theo bằng thân và lời.

[Chú thích: Vòng này nhấn mạnh điểm khởi đầu. Trước khi làm điều gì, ta nghĩ đến việc làm điều ấy, và chính ý nghĩ ấy đã có sức mạnh vì nó định hướng tâm. Với Đức Thế Tôn, ý định làm nền cho hành vi thân và lời là điều cốt yếu; với đạo Jain thì chính hành vi thân mới là điều quan trọng.]

Vì vậy, này Cunda, phải khởi lên ý nghĩ như vầy: "Người khác sẽ hung bạo, còn ở đây chúng ta sẽ không hung bạo."

Phải khởi lên ý nghĩ như vầy: "Người khác sẽ giết hại sinh vật, còn ở đây chúng ta sẽ từ bỏ việc giết hại sinh vật"; "Người khác sẽ trộm cắp, còn ở đây chúng ta sẽ từ bỏ trộm cắp"; "Người khác sẽ sống không phạm hạnh, còn ở đây chúng ta sẽ sống phạm hạnh"; "Người khác sẽ nói dối, còn ở đây chúng ta sẽ từ bỏ nói dối"; "Người khác sẽ nói lời chia rẽ, còn ở đây chúng ta sẽ từ bỏ lời chia rẽ"; "Người khác sẽ nói lời thô ác, còn ở đây chúng ta sẽ từ bỏ lời thô ác"; "Người khác sẽ nói lời nhảm nhí, còn ở đây chúng ta sẽ từ bỏ lời nhảm nhí"; "Người khác sẽ tham muốn, còn ở đây chúng ta sẽ không tham muốn"; "Người khác sẽ có tâm sân hận, còn ở đây chúng ta sẽ không có tâm sân hận"; "Người khác sẽ có tà kiến, còn ở đây chúng ta sẽ có chánh kiến"; "Người khác sẽ có tà tư duy, còn ở đây chúng ta sẽ có chánh tư duy"; "Người khác sẽ có tà ngữ, còn ở đây chúng ta sẽ có chánh ngữ"; "Người khác sẽ có tà nghiệp, còn ở đây chúng ta sẽ có chánh nghiệp"; "Người khác sẽ có tà mạng, còn ở đây chúng ta sẽ có chánh mạng"; "Người khác sẽ có tà tinh tấn, còn ở đây chúng ta sẽ có chánh tinh tấn"; "Người khác sẽ có tà niệm, còn ở đây chúng ta sẽ có chánh niệm"; "Người khác sẽ có tà định, còn ở đây chúng ta sẽ có chánh định"; "Người khác sẽ có tà trí, còn ở đây chúng ta sẽ có chánh trí"; "Người khác sẽ có tà giải thoát, còn ở đây chúng ta sẽ có chánh giải thoát"; "Người khác sẽ bị hôn trầm buồn ngủ chi phối, còn ở đây chúng ta sẽ thoát khỏi hôn trầm buồn ngủ"; "Người khác sẽ bồn chồn, còn ở đây chúng ta sẽ không bồn chồn"; "Người khác sẽ nghi ngờ, còn ở đây chúng ta sẽ vượt qua nghi ngờ"; "Người khác sẽ giận dữ, còn ở đây chúng ta sẽ không giận dữ"; "Người khác sẽ oán hận, còn ở đây chúng ta sẽ không oán hận"; "Người khác sẽ chê bai, còn ở đây chúng ta sẽ không chê bai"; "Người khác sẽ khinh miệt, còn ở đây chúng ta sẽ không khinh miệt"; "Người khác sẽ ganh tị, còn ở đây chúng ta sẽ không ganh tị"; "Người khác sẽ keo kiệt, còn ở đây chúng ta sẽ không keo kiệt"; "Người khác sẽ gian xảo, còn ở đây chúng ta sẽ không gian xảo"; "Người khác sẽ xảo trá, còn ở đây chúng ta sẽ không xảo trá"; "Người khác sẽ cứng nhắc, còn ở đây chúng ta sẽ không cứng nhắc"; "Người khác sẽ kiêu căng, còn ở đây chúng ta sẽ không kiêu căng"; "Người khác sẽ khó dạy bảo, còn ở đây chúng ta sẽ dễ dạy bảo"; "Người khác sẽ có bạn xấu, còn ở đây chúng ta sẽ có bạn lành"; "Người khác sẽ phóng dật, còn ở đây chúng ta sẽ không phóng dật"; "Người khác sẽ không có lòng tin, còn ở đây chúng ta sẽ có lòng tin"; "Người khác sẽ không biết hổ thẹn, còn ở đây chúng ta sẽ biết hổ thẹn"; "Người khác sẽ không biết sợ điều ác, còn ở đây chúng ta sẽ biết sợ điều ác"; "Người khác sẽ ít học, còn ở đây chúng ta sẽ học rộng"; "Người khác sẽ lười biếng, còn ở đây chúng ta sẽ siêng năng tinh tấn"; "Người khác sẽ mất chánh niệm, còn ở đây chúng ta sẽ giữ vững chánh niệm"; "Người khác sẽ kém tuệ, còn ở đây chúng ta sẽ đầy đủ tuệ".

Phải khởi lên ý nghĩ như vầy: "Người khác sẽ bám giữ quan điểm riêng, nắm chặt và khó buông bỏ, còn ở đây chúng ta sẽ không bám giữ quan điểm riêng, không nắm chặt và dễ buông bỏ."


3. Pháp môn vòng qua

Này Cunda, ví như có một con đường gồ ghề, và có một con đường bằng phẳng khác để đi vòng qua nó.

[Chú thích: Khi con đường gồ ghề, Đức Thế Tôn khuyên tìm con đường bằng phẳng hơn. Những việc phải làm trên con đường nên dễ chịu và đưa đến an lạc; khó khăn tự nó không có giá trị. Điều này ngầm đối lập với đạo Jain, nơi người tu tự hành xác để đốt cháy nghiệp.]

Hay ví như có một chỗ lội qua sông gập ghềnh, và có một chỗ lội qua sông bằng phẳng khác để đi vòng qua nó.

Cũng vậy, này Cunda, với người hung bạo, sự không hung bạo là lối vòng qua; với người giết hại sinh vật, sự từ bỏ việc giết hại sinh vật là lối vòng qua; với người trộm cắp, sự từ bỏ trộm cắp là lối vòng qua; với người sống không phạm hạnh, sự từ bỏ đời sống không phạm hạnh là lối vòng qua; với người nói dối, sự từ bỏ nói dối là lối vòng qua; với người nói lời chia rẽ, sự từ bỏ lời chia rẽ là lối vòng qua; với người nói lời thô ác, sự từ bỏ lời thô ác là lối vòng qua; với người nói lời nhảm nhí, sự từ bỏ lời nhảm nhí là lối vòng qua; với người tham muốn, sự không tham muốn là lối vòng qua; với người có tâm sân hận, sự không có tâm sân hận là lối vòng qua.

Với người có tà kiến, chánh kiến là lối vòng qua; với người có tà tư duy, chánh tư duy là lối vòng qua; với người có tà ngữ, chánh ngữ là lối vòng qua; với người có tà nghiệp, chánh nghiệp là lối vòng qua; với người có tà mạng, chánh mạng là lối vòng qua; với người có tà tinh tấn, chánh tinh tấn là lối vòng qua; với người có tà niệm, chánh niệm là lối vòng qua; với người có tà định, chánh định là lối vòng qua; với người có tà trí, chánh trí là lối vòng qua; với người có tà giải thoát, chánh giải thoát là lối vòng qua.

Với người bị hôn trầm buồn ngủ chi phối, sự thoát khỏi hôn trầm buồn ngủ là lối vòng qua; với người bồn chồn, sự không bồn chồn là lối vòng qua; với người nghi ngờ, sự vượt qua nghi ngờ là lối vòng qua; với người giận dữ, sự không giận dữ là lối vòng qua; với người oán hận, sự không oán hận là lối vòng qua; với người chê bai, sự không chê bai là lối vòng qua; với người khinh miệt, sự không khinh miệt là lối vòng qua; với người ganh tị, sự không ganh tị là lối vòng qua; với người keo kiệt, sự không keo kiệt là lối vòng qua; với người gian xảo, sự không gian xảo là lối vòng qua; với người xảo trá, sự không xảo trá là lối vòng qua; với người cứng nhắc, sự không cứng nhắc là lối vòng qua; với người kiêu căng, sự không kiêu căng là lối vòng qua; với người khó dạy bảo, sự dễ dạy bảo là lối vòng qua; với người có bạn xấu, tình bạn lành là lối vòng qua; với người phóng dật, sự không phóng dật là lối vòng qua; với người không có lòng tin, lòng tin là lối vòng qua; với người không biết hổ thẹn, sự biết hổ thẹn là lối vòng qua; với người không biết sợ điều ác, sự biết sợ điều ác là lối vòng qua; với người ít học, sự học rộng là lối vòng qua; với người lười biếng, sự siêng năng tinh tấn là lối vòng qua; với người mất chánh niệm, sự giữ vững chánh niệm là lối vòng qua; với người kém tuệ, sự đầy đủ tuệ là lối vòng qua; với người bám giữ quan điểm riêng, nắm chặt và khó buông bỏ, sự không bám giữ quan điểm riêng, không nắm chặt và dễ buông bỏ là lối vòng qua.


4. Pháp môn hướng thượng

Này Cunda, phàm có những pháp bất thiện nào, tất cả đều dẫn xuống phía dưới; phàm có những pháp thiện nào, tất cả đều dẫn lên phía trên.

[Chú thích: Vòng này nhấn mạnh tính đồng nhất của thiện và bất thiện: mọi việc thiện, dù nhỏ đến đâu, đều dẫn về cùng một hướng.]

Cũng vậy, này Cunda, với người hung bạo, sự không hung bạo dẫn lên phía trên; với người giết hại sinh vật, sự từ bỏ việc giết hại sinh vật dẫn lên phía trên; với người trộm cắp, sự từ bỏ trộm cắp dẫn lên phía trên; với người sống không phạm hạnh, sự từ bỏ đời sống không phạm hạnh dẫn lên phía trên; với người nói dối, sự từ bỏ nói dối dẫn lên phía trên; với người nói lời chia rẽ, sự từ bỏ lời chia rẽ dẫn lên phía trên; với người nói lời thô ác, sự từ bỏ lời thô ác dẫn lên phía trên; với người nói lời nhảm nhí, sự từ bỏ lời nhảm nhí dẫn lên phía trên; với người tham muốn, sự không tham muốn dẫn lên phía trên; với người có tâm sân hận, sự không có tâm sân hận dẫn lên phía trên; với người có tà kiến, chánh kiến dẫn lên phía trên; với người có tà tư duy, chánh tư duy dẫn lên phía trên; với người có tà ngữ, chánh ngữ dẫn lên phía trên; với người có tà nghiệp, chánh nghiệp dẫn lên phía trên; với người có tà mạng, chánh mạng dẫn lên phía trên; với người có tà tinh tấn, chánh tinh tấn dẫn lên phía trên; với người có tà niệm, chánh niệm dẫn lên phía trên; với người có tà định, chánh định dẫn lên phía trên; với người có tà trí, chánh trí dẫn lên phía trên; với người có tà giải thoát, chánh giải thoát dẫn lên phía trên; với người bị hôn trầm buồn ngủ chi phối, sự thoát khỏi hôn trầm buồn ngủ dẫn lên phía trên; với người bồn chồn, sự không bồn chồn dẫn lên phía trên; với người nghi ngờ, sự vượt qua nghi ngờ dẫn lên phía trên; với người giận dữ, sự không giận dữ dẫn lên phía trên; với người oán hận, sự không oán hận dẫn lên phía trên; với người chê bai, sự không chê bai dẫn lên phía trên; với người khinh miệt, sự không khinh miệt dẫn lên phía trên; với người ganh tị, sự không ganh tị dẫn lên phía trên; với người keo kiệt, sự không keo kiệt dẫn lên phía trên; với người gian xảo, sự không gian xảo dẫn lên phía trên; với người xảo trá, sự không xảo trá dẫn lên phía trên; với người cứng nhắc, sự không cứng nhắc dẫn lên phía trên; với người kiêu căng, sự không kiêu căng dẫn lên phía trên; với người khó dạy bảo, sự dễ dạy bảo dẫn lên phía trên; với người có bạn xấu, tình bạn lành dẫn lên phía trên; với người phóng dật, sự không phóng dật dẫn lên phía trên; với người không có lòng tin, lòng tin dẫn lên phía trên; với người không biết hổ thẹn, sự biết hổ thẹn dẫn lên phía trên; với người không biết sợ điều ác, sự biết sợ điều ác dẫn lên phía trên; với người ít học, sự học rộng dẫn lên phía trên; với người lười biếng, sự siêng năng tinh tấn dẫn lên phía trên; với người mất chánh niệm, sự giữ vững chánh niệm dẫn lên phía trên; với người kém tuệ, sự đầy đủ tuệ dẫn lên phía trên.

Với người bám giữ quan điểm riêng, nắm chặt và khó buông bỏ, sự không bám giữ quan điểm riêng, không nắm chặt và dễ buông bỏ dẫn lên phía trên.


5. Pháp môn Niết-bàn

Này Cunda, chuyện chính mình đang lún trong bùn mà kéo được người khác đang lún trong bùn lên — điều ấy không thể xảy ra.

Này Cunda, chuyện chính mình không lún trong bùn mà kéo được người khác đang lún trong bùn lên — điều ấy có thể xảy ra.

Này Cunda, chuyện chính mình chưa tự mình điều phục, chưa tự mình huấn luyện, chưa tự mình tịch diệt, mà điều phục, huấn luyện và làm cho tịch diệt được người khác — điều ấy không thể xảy ra.

Này Cunda, chuyện chính mình đã tự mình điều phục, đã tự mình huấn luyện, đã tự mình tịch diệt, mà điều phục, huấn luyện và làm cho tịch diệt được người khác — điều ấy có thể xảy ra.

[Chú thích: Đức Thế Tôn chỉ dạy người khác làm điều chính Ngài đã làm được, theo đúng con đường Ngài đã tìm ra.]

Cũng vậy, này Cunda, với người hung bạo, sự không hung bạo dẫn đến Niết-bàn; với người giết hại sinh vật, sự từ bỏ việc giết hại sinh vật dẫn đến Niết-bàn.

Với người trộm cắp, sự từ bỏ trộm cắp dẫn đến Niết-bàn.

Với người sống không phạm hạnh, sự từ bỏ đời sống không phạm hạnh dẫn đến Niết-bàn.

Với người nói dối, sự từ bỏ nói dối dẫn đến Niết-bàn.

Với người nói lời chia rẽ, sự từ bỏ lời chia rẽ dẫn đến Niết-bàn.

Với người nói lời thô ác, sự từ bỏ lời thô ác dẫn đến Niết-bàn.

Với người nói lời nhảm nhí, sự từ bỏ lời nhảm nhí dẫn đến Niết-bàn.

Với người tham muốn, sự không tham muốn dẫn đến Niết-bàn.

Với người có tâm sân hận, sự không có tâm sân hận dẫn đến Niết-bàn.

Với người có tà kiến, chánh kiến dẫn đến Niết-bàn.

Với người có tà tư duy, chánh tư duy dẫn đến Niết-bàn.

Với người có tà ngữ, chánh ngữ dẫn đến Niết-bàn.

Với người có tà nghiệp, chánh nghiệp dẫn đến Niết-bàn.

Với người có tà mạng, chánh mạng dẫn đến Niết-bàn.

Với người có tà tinh tấn, chánh tinh tấn dẫn đến Niết-bàn.

Với người có tà niệm, chánh niệm dẫn đến Niết-bàn.

Với người có tà định, chánh định dẫn đến Niết-bàn.

Với người có tà trí, chánh trí dẫn đến Niết-bàn.

Với người có tà giải thoát, chánh giải thoát dẫn đến Niết-bàn.

Với người bị hôn trầm buồn ngủ chi phối, sự thoát khỏi hôn trầm buồn ngủ dẫn đến Niết-bàn.

Với người bồn chồn, sự không bồn chồn dẫn đến Niết-bàn.

Với người nghi ngờ, sự vượt qua nghi ngờ dẫn đến Niết-bàn.

Với người giận dữ, sự không giận dữ dẫn đến Niết-bàn.

Với người oán hận, sự không oán hận dẫn đến Niết-bàn.

Với người chê bai, sự không chê bai dẫn đến Niết-bàn.

Với người khinh miệt, sự không khinh miệt dẫn đến Niết-bàn.

Với người ganh tị, sự không ganh tị dẫn đến Niết-bàn.

Với người keo kiệt, sự không keo kiệt dẫn đến Niết-bàn.

Với người gian xảo, sự không gian xảo dẫn đến Niết-bàn.

Với người xảo trá, sự không xảo trá dẫn đến Niết-bàn.

Với người cứng nhắc, sự không cứng nhắc dẫn đến Niết-bàn.

Với người kiêu căng, sự không kiêu căng dẫn đến Niết-bàn.

Với người khó dạy bảo, sự dễ dạy bảo dẫn đến Niết-bàn.

Với người có bạn xấu, tình bạn lành dẫn đến Niết-bàn.

Với người phóng dật, sự không phóng dật dẫn đến Niết-bàn.

Với người không có lòng tin, lòng tin dẫn đến Niết-bàn.

Với người không biết hổ thẹn, sự biết hổ thẹn dẫn đến Niết-bàn.

Với người không biết sợ điều ác, sự biết sợ điều ác dẫn đến Niết-bàn.

Với người ít học, sự học rộng dẫn đến Niết-bàn.

Với người lười biếng, sự siêng năng tinh tấn dẫn đến Niết-bàn.

Với người mất chánh niệm, sự giữ vững chánh niệm dẫn đến Niết-bàn.

Với người kém tuệ, sự đầy đủ tuệ dẫn đến Niết-bàn.

Với người bám giữ quan điểm riêng, nắm chặt và khó buông bỏ, sự không bám giữ quan điểm riêng, không nắm chặt và dễ buông bỏ dẫn đến Niết-bàn.

Như vậy, này Cunda, Ta đã giảng pháp môn loại bỏ, đã giảng pháp môn khởi tâm, đã giảng pháp môn vòng qua, đã giảng pháp môn hướng thượng, đã giảng pháp môn Niết-bàn.

[Chú thích: Ở đây Đức Thế Tôn liệt kê năm vòng của bốn mươi bốn mục.]

Này Cunda, vì lòng thương tưởng, một bậc đạo sư mong điều tốt lành cho các đệ tử phải làm gì, thì Ta đã làm xong việc ấy cho các ông.

Này Cunda, đây là những gốc cây, đây là những căn nhà trống. Hãy thực hành thiền-na, này Cunda! Chớ phóng dật! Chớ để về sau phải hối hận! Đây là lời giáo huấn của Ta.

[Chú thích: Câu khích lệ này tuy hướng đến Cunda nhưng dùng dạng số nhiều, cho thấy là nói cho cả hội chúng.]

Đức Thế Tôn nói như vậy.

Tôn giả Mahācunda hoan hỷ, tán thán lời Ngài dạy.

Bốn mươi bốn điều đã được nói ra,

[Chú thích: Việc thêm một bài kệ tóm tắt (uddāna) vào một bài kinh riêng lẻ là điều lạ thường: bài kệ này không được nhắc trong chú giải hay phụ chú, không có trong bản PTS, và không có bản tương đương trong cả hai bản Hán. Rõ ràng nó đã được những người biên tập thêm vào ở một thời điểm nào đó. Bài kệ được dịch ở đây vì nó đáng chú ý; thường thì các uddāna ở cuối phẩm được để nguyên, vì chúng chỉ là danh sách tên các bài kinh.]

được giảng thành năm phần;

bài kinh mang tên Loại Bỏ,

sâu thẳm như biển cả.

Kinh Loại Bỏ, bài thứ tám, đã hoàn thành.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →