buppou

Trung Bộ Kinh · bài 9/152

Kinh Chánh Kiến

Sammādiṭṭhi Sutta — bài kinh về chánh kiến, tức cái thấy đúng

48 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Chánh Kiến (Sammādiṭṭhi Sutta) là bài thứ chín trong Trung Bộ Kinh, bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Bài giảng diễn ra tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà). Điều đáng chú ý là người nói không phải Đức Thế Tôn mà là Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất), một trong hai vị đệ tử chính của Ngài, nổi tiếng nhất về trí tuệ. Ông dạy một nhóm tỳ-kheo, tức những vị xuất gia sống bằng khất thực, về chánh kiến.

Chánh kiến nghĩa là cái thấy đúng, và đây là yếu tố đầu tiên trong con đường tám nhánh dẫn đến chấm dứt khổ. Nhưng thấy đúng là thấy cái gì? Bài kinh trả lời câu hỏi ấy bằng nhiều lớp, và mỗi lớp lại đặt ra một câu hỏi mới. Cách dạy này khiến người đọc hôm nay có thể theo dõi từng bước, không phải nuốt trọn một khối giáo lý.

Sāriputta mở đầu bằng một câu trả lời thật giản dị: bậc thánh đệ tử có chánh kiến khi hiểu rõ điều bất thiện và gốc rễ của nó, điều thiện và gốc rễ của nó. Rồi các tỳ-kheo hỏi: còn cách nào khác để nói về người có chánh kiến không? Ông đáp: có thể có, và đưa ra một khung khác. Cuộc đối thoại cứ thế tiếp diễn, mỗi lần một tầng sâu hơn, cho đến khi bao trùm gần trọn chuỗi nhân duyên mà đạo Phật gọi là duyên khởi.

Khung ấy là Bốn Sự Thật, nhưng được xoay vòng qua từng đối tượng: hiểu một thứ, hiểu nguồn gốc của nó, hiểu sự chấm dứt của nó, và hiểu con đường dẫn đến sự chấm dứt ấy. Sāriputta lần lượt áp dụng khuôn này cho dưỡng chất, cho khổ, cho già và chết, cho sự tái sinh, cho sự tồn tại, cho sự bám giữ, cho tham ái, cho cảm thọ, cho sự tiếp xúc, cho sáu xứ, cho danh sắc, cho thức, cho tạo tác, cho vô minh và cuối cùng là lậu hoặc.

Nhìn theo một chiều, các mục ấy nối thành một chuỗi mười hai mắt xích: vô minh làm duyên cho tạo tác, tạo tác làm duyên cho thức, thức cho danh sắc, danh sắc cho sáu xứ, sáu xứ cho xúc, xúc cho thọ, thọ cho tham ái, tham ái cho bám giữ, bám giữ cho sự tồn tại, sự tồn tại cho tái sinh, tái sinh cho già và chết. Nhìn theo chiều ngược lại, mỗi mắt xích đều có thể tháo ra: khi nguyên nhân chấm dứt thì kết quả chấm dứt. Con đường tháo gỡ ấy chính là con đường tám nhánh, và bài kinh lặp lại câu này ở mỗi chặng.

Điều bài kinh muốn nói với người chưa quen đạo Phật rất cụ thể: quan điểm không chỉ là ý kiến nằm trong đầu. Cách ta hiểu về thân, về cảm giác, về cái tôi sẽ quyết định cách ta ham muốn, bám giữ và hành động, rồi những hành động ấy lại nuôi dưỡng cách hiểu cũ. Khi chuỗi ấy được thấy rõ và tháo ra, người ta không còn bị nó dẫn đi nữa, và bài kinh gọi đó là chấm dứt khổ ngay trong đời này. Bản dịch dưới đây chia đoạn đúng theo từng đoạn của bản Pali, nên người đọc có thể so lại từng câu nếu muốn.


Tôi nghe như vầy.

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).

Tại đó, Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất) gọi các tỳ-kheo:

[Chú thích: Bản Hán và bản Phạn song song ghi bài kinh này là cuộc đối thoại giữa Sāriputta và Mahākoṭṭhita, một bối cảnh có lẽ đã bị mất trong bản Pali. Bài kinh mở đầu bằng cách phân tích chánh kiến thật đơn giản rồi lần bước vào chỗ sâu hơn. Phần lớn nội dung được diễn đạt bằng lý duyên khởi, nhưng trọng tâm là các pháp do duyên sinh chứ không phải tiến trình nhân quả.]

"Này các hiền giả, này các tỳ-kheo!"

"Thưa vâng, thưa Tôn giả," các tỳ-kheo đáp lời Tôn giả Sāriputta.

Tôn giả Sāriputta nói điều này:

"Chánh kiến, chánh kiến" — này các vị, người ta gọi như vậy.

Đến mức nào, này các vị, thì được gọi là bậc thánh đệ tử có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này?

[Chú thích: Nói cách khác, đây là bậc Dự lưu. Kinh MN 141 cho biết Sāriputta dạy học trò đến quả Dự lưu, còn Moggallāna dẫn họ đến quả A-la-hán.]

Thưa Tôn giả, dù phải đi một quãng đường xa, chúng tôi cũng sẽ đến chỗ Tôn giả Sāriputta để hiểu ý nghĩa của lời ấy.

Lành thay, xin Tôn giả Sāriputta tự mình làm sáng tỏ ý nghĩa của lời ấy.

Sau khi nghe Tôn giả Sāriputta, các tỳ-kheo sẽ ghi nhớ.

"Vậy thì, này các vị, hãy lắng nghe và khéo chú tâm, ta sẽ nói."

"Thưa vâng, thưa Tôn giả," các tỳ-kheo đáp lời Tôn giả Sāriputta.

Tôn giả Sāriputta nói điều này:

Khi bậc thánh đệ tử, này các vị, hiểu được bất thiện và gốc rễ của bất thiện, hiểu được thiện và gốc rễ của thiện—

[Chú thích: Tức là hành vi và động lực thúc đẩy hành vi ấy.]

Đến mức ấy, này các vị, bậc thánh đệ tử đã có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này.

[Chú thích: Sāriputta dạy có chủ ý, có hệ thống và không vội vàng. Trước hết ông nêu một câu hỏi nền tảng, ở đây là quả Dự lưu; sau đó trả lời đơn giản và thiết thực; rồi lần lượt rút ra những hệ quả rộng và sâu.]

"Nhưng thưa Tôn giả, bất thiện là gì, gốc rễ của bất thiện là gì, thiện là gì, gốc rễ của thiện là gì?"

Này các vị, giết hại chúng sinh là bất thiện, trộm cắp là bất thiện, tà hạnh trong các dục là bất thiện, nói dối là bất thiện, nói lời chia rẽ là bất thiện, nói lời thô ác là bất thiện, nói lời vô nghĩa là bất thiện, tham lam là bất thiện, sân hận là bất thiện, tà kiến là bất thiện—

[Chú thích: Tham lam, sân hận và tà kiến là những dạng mạnh của tham, sân và si.]

Đó, này các vị, được gọi là bất thiện.

Và này các vị, thế nào là gốc rễ của bất thiện?

Tham là gốc rễ của bất thiện, sân là gốc rễ của bất thiện, si là gốc rễ của bất thiện—

Đó, này các vị, được gọi là gốc rễ của bất thiện.

Và này các vị, thế nào là thiện?

Không giết hại chúng sinh là thiện, không trộm cắp là thiện, không tà hạnh trong các dục là thiện, không nói dối là thiện, không nói lời chia rẽ là thiện, không nói lời thô ác là thiện, không nói lời vô nghĩa là thiện, không tham lam là thiện, không sân hận là thiện, chánh kiến là thiện—

[Chú thích: Đây là mười cách tạo nghiệp thiện. Kinh MN 41 giải thích chi tiết từng cách.]

Đó, này các vị, được gọi là thiện.

Và này các vị, thế nào là gốc rễ của thiện?

Không tham là gốc rễ của thiện, không sân là gốc rễ của thiện, không si là gốc rễ của thiện—

Đó, này các vị, được gọi là gốc rễ của thiện.

Khi bậc thánh đệ tử, này các vị, hiểu như vậy về bất thiện, hiểu như vậy về gốc rễ của bất thiện, hiểu như vậy về thiện, hiểu như vậy về gốc rễ của thiện, vị ấy đoạn trừ hoàn toàn khuynh hướng ngầm của tham, xua tan khuynh hướng ngầm của sân, nhổ sạch khuynh hướng ngầm của tà kiến và ngã mạn "ta là", đoạn trừ vô minh, làm phát sinh minh, và ngay trong đời này, vị ấy chấm dứt khổ đau—

[Chú thích: Đoạn này, được lặp lại suốt bài kinh, chỉ về quả vị A-la-hán. Cách hành văn gây khó, vì nó như nói rằng chỉ sau khi đoạn tận mọi phiền não mới có chánh kiến, trong khi chánh kiến khởi lên từ quả Dự lưu. Bản Hán tương ứng là MA 29 và SA 344 không có đoạn này, nên nhiều khả năng bản Pali đã bị lỗi truyền tụng.]

Đến mức ấy, này các vị, bậc thánh đệ tử đã có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này.

"Lành thay, thưa Tôn giả," các tỳ-kheo hoan hỷ, tán thán lời Tôn giả Sāriputta dạy, rồi hỏi thêm Tôn giả một câu:

"Nhưng thưa Tôn giả, có thể có cách khác để nói về bậc thánh đệ tử có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này chăng?"

[Chú thích: Trả lời ngắn gọn cho một câu hỏi sâu, Sāriputta để người nghe có chỗ hỏi tiếp. Cách dạy này giữ người nghe dõi theo và đưa thông tin thành từng phần dễ hiểu.]

Có thể có, này các vị.

Khi bậc thánh đệ tử, này các vị, hiểu dưỡng chất, hiểu nguồn gốc của dưỡng chất, hiểu sự chấm dứt của dưỡng chất, và hiểu con đường dẫn đến sự chấm dứt của dưỡng chất—

[Chú thích: Ở đây Sāriputta dùng khuôn Bốn Sự Thật nhưng đặt dưỡng chất vào vị trí của khổ. Dưỡng chất (āhāra) chỉ cả thứ làm duyên nuôi dưỡng lẫn sự nắm giữ, bám víu vào thứ ấy.]

Đến mức ấy, này các vị, bậc thánh đệ tử đã có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này.

Nhưng thưa Tôn giả, dưỡng chất là gì, nguồn gốc của dưỡng chất là gì, sự chấm dứt của dưỡng chất là gì, và con đường dẫn đến sự chấm dứt của dưỡng chất là gì?

Này các vị, có bốn loại dưỡng chất để duy trì các chúng sinh đã sinh và để hỗ trợ những chúng sinh sắp sinh.

[Chú thích: Bốn loại dưỡng chất cũng được nói ở MN 38 và nhiều bài trong Tương Ưng Bộ. "Những chúng sinh sắp sinh" dịch theo nghĩa phân từ tương lai; chú giải lại hiểu là "đang tìm cách sinh". Cụm từ này là một trong vài chỗ trong kinh gợi đến trạng thái trung gian giữa hai đời sống, dù A-tỳ-đàm Thượng tọa bộ chính thức bác bỏ quan điểm ấy.]

Bốn là những gì?

Thứ nhất là dưỡng chất đồ ăn, thô hay tế; thứ hai là xúc; thứ ba là ý chí trong tâm; thứ tư là thức.

[Chú thích: Đồ ăn thô nuôi thân các loài người và vật, đồ ăn tế nuôi chư thiên và tổ tiên. Xúc là sự gặp gỡ giữa thế giới bên trong và bên ngoài, làm khởi lên thọ và rồi tham muốn. Ý chí cho phép ta hành động trong thế giới ấy, còn thức là cái biết trải nghiệm tất cả và góp phần tạo nên đời sống mới.]

Do tham ái sinh khởi nên dưỡng chất sinh khởi. Do tham ái chấm dứt nên dưỡng chất chấm dứt. Con đường dẫn đến sự chấm dứt của dưỡng chất chính là con đường tám nhánh cao quý này, đó là—

[Chú thích: Chữ āhāra nghĩa đen là "cái được đưa vào", cùng gốc với upādāna, "nắm lấy". Cả hai đều mang hai nghĩa: một là chất nuôi dưỡng, hai là sự nắm giữ, bám víu.]

chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

Khi bậc thánh đệ tử, này các vị, hiểu như vậy về dưỡng chất, hiểu như vậy về nguồn gốc của dưỡng chất, hiểu như vậy về sự chấm dứt của dưỡng chất, hiểu như vậy về con đường dẫn đến sự chấm dứt của dưỡng chất, vị ấy đoạn trừ hoàn toàn khuynh hướng ngầm của tham, xua tan khuynh hướng ngầm của sân, nhổ sạch khuynh hướng ngầm của tà kiến và ngã mạn "ta là", đoạn trừ vô minh, làm phát sinh minh, và ngay trong đời này, vị ấy chấm dứt khổ đau—

Đến mức ấy, này các vị, bậc thánh đệ tử đã có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này.

"Lành thay, thưa Tôn giả," các tỳ-kheo hoan hỷ, tán thán lời Tôn giả Sāriputta dạy, rồi hỏi thêm Tôn giả một câu:

"Nhưng thưa Tôn giả, có thể có cách khác để nói về bậc thánh đệ tử có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này chăng?"

Có thể có, này các vị.

Khi bậc thánh đệ tử, này các vị, hiểu khổ, hiểu nguồn gốc của khổ, hiểu sự chấm dứt của khổ, và hiểu con đường dẫn đến sự chấm dứt của khổ—

[Chú thích: Đây là cách trình bày quen thuộc của Bốn Sự Thật, lấy khổ làm điểm xuất phát.]

Đến mức ấy, này các vị, bậc thánh đệ tử đã có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này.

Nhưng thưa Tôn giả, khổ là gì, nguồn gốc của khổ là gì, sự chấm dứt của khổ là gì, và con đường dẫn đến sự chấm dứt của khổ là gì?

Sinh là khổ, già là khổ, chết là khổ; sầu, bi, khổ, ưu, não cũng là khổ; phải gần gũi những gì mình ghét là khổ; phải xa lìa những gì mình thương là khổ; cầu mong mà không được cũng là khổ. Tóm lại, năm uẩn bám giữ là khổ—

[Chú thích: Những định nghĩa này trích nguyên từ bài giảng đầu tiên của Đức Thế Tôn, kinh Chuyển Pháp Luân (SN 56.11). Sāriputta đặc biệt nhấn mạnh chúng và còn đi sâu hơn ở MN 28 và MN 141.]


Đó, này các vị, được gọi là khổ.

Và này các vị, nguồn gốc của khổ là gì?

Chính là tham ái đưa đến tái sinh, đi kèm với thích thú và tham đắm, tìm vui chỗ này chỗ kia, đó là—

[Chú thích: Định nghĩa này làm rõ hai hiểu lầm thường gặp: không phải mọi ước muốn đều gây khổ, và tái sinh không phải phần phụ gắn thêm mà nằm trong chính nghĩa của Bốn Sự Thật. Cụm tatratatra nghĩa đen là "chỗ này chỗ kia", nhưng ở đây mang nghĩa phân phối, tức khắp mọi nơi.]

Tham ái đối với dục lạc, tham ái đối với sự tồn tại, tham ái đối với sự không tồn tại—

[Chú thích: Tham ái đối với dục lạc là muốn hưởng thú vui qua năm giác quan. Tham ái đối với sự tồn tại là muốn tiếp tục sống dưới một hình thức nào đó sau khi chết. Tham ái đối với sự không tồn tại là muốn tự huỷ diệt chính mình.]

Đó, này các vị, được gọi là nguồn gốc của khổ.

Và này các vị, sự chấm dứt của khổ là gì?

Đó là sự ly tham và chấm dứt hoàn toàn, không còn sót lại, của chính tham ái ấy; là sự buông bỏ, sự từ bỏ, sự giải thoát, sự không bám víu—

[Chú thích: Các từ này được dùng rộng rãi với nhiều nghĩa, nhưng ở đây đều là từ đồng nghĩa của Niết-bàn. Đáng chú ý là sự xuất hiện của cāga, "sự cho đi": bố thí là nền tảng đạo đức sơ đẳng nhất, vậy mà ngay hình thức đơn giản ấy cũng cùng bản chất với Niết-bàn.]

Đó, này các vị, được gọi là sự chấm dứt của khổ.

Và này các vị, con đường dẫn đến sự chấm dứt của khổ là gì?

Đó chính là con đường tám nhánh cao quý này, đó là—

Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định—

Đó, này các vị, được gọi là con đường dẫn đến sự chấm dứt của khổ.

Khi bậc thánh đệ tử, này các vị, hiểu như vậy về khổ, hiểu như vậy về nguồn gốc của khổ, hiểu như vậy về sự chấm dứt của khổ, hiểu như vậy về con đường dẫn đến sự chấm dứt của khổ, vị ấy đoạn trừ hoàn toàn khuynh hướng ngầm của tham, xua tan khuynh hướng ngầm của sân, nhổ sạch khuynh hướng ngầm của tà kiến và ngã mạn "ta là", đoạn trừ vô minh, làm phát sinh minh, và ngay trong đời này, vị ấy chấm dứt khổ đau—

Đến mức ấy, này các vị, bậc thánh đệ tử đã có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này.

"Lành thay, thưa Tôn giả," các tỳ-kheo hoan hỷ, tán thán lời Tôn giả Sāriputta dạy, rồi hỏi thêm Tôn giả một câu:

"Nhưng thưa Tôn giả, có thể có cách khác để nói về bậc thánh đệ tử có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này chăng?"

Có thể có, này các vị.

Khi bậc thánh đệ tử, này các vị, hiểu già và chết, hiểu nguồn gốc của già và chết, hiểu sự chấm dứt của già và chết, và hiểu con đường dẫn đến sự chấm dứt của già và chết—

[Chú thích: Đây là ví dụ rõ về trí phân tích của Sāriputta. Ông lấy "già và chết" từ phần giải thích về khổ rồi đặt nó vào khuôn Bốn Sự Thật, vừa nối tiếp phần trước vừa mở sang chuỗi duyên khởi quen thuộc.]

Đến mức ấy, này các vị, bậc thánh đệ tử đã có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này.

Nhưng thưa Tôn giả, già và chết là gì, nguồn gốc của già và chết là gì, sự chấm dứt của già và chết là gì, và con đường dẫn đến sự chấm dứt của già và chết là gì?

Sự già nua, sự suy nhược, răng rụng, tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ giảm sút, các căn chín muồi của các chúng sinh trong từng loài chúng sinh—

[Chú thích: Jarā không phải quá trình già đi, cũng không phải ẩn dụ tâm lý, mà là trạng thái thân thể đã già. Định nghĩa về chết và tái sinh cũng theo nghĩa ấy.]

Đó, này các vị, được gọi là già.

Và này các vị, chết là gì?

[Chú thích: Bản Pali thiếu câu hỏi "già là gì?" đáng lẽ phải có ở đoạn trước.]

Sự từ trần, sự qua đời, sự tan rã, sự biến mất, sự chết, sự mệnh chung, sự lìa cõi đời, sự tan rã các uẩn, sự bỏ lại thân xác, sự cắt đứt mạng sống của các chúng sinh trong từng loài chúng sinh—

Đó, này các vị, được gọi là chết.

Như vậy, đây là già và đây là chết—

Đó, này các vị, được gọi là già và chết.

Do sự tái sinh sinh khởi nên già và chết sinh khởi. Do sự tái sinh chấm dứt nên già và chết chấm dứt. Con đường dẫn đến sự chấm dứt của già và chết chính là con đường tám nhánh cao quý này, đó là—

[Chú thích: Jāti chỉ sự đầu thai tiếp diễn vào những đời sống mới. Cách duy nhất thoát khỏi già và chết là không còn tái sinh.]

Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

Khi bậc thánh đệ tử, này các vị, hiểu như vậy về già và chết, hiểu như vậy về nguồn gốc của già và chết, hiểu như vậy về sự chấm dứt của già và chết, hiểu như vậy về con đường dẫn đến sự chấm dứt của già và chết, vị ấy đoạn trừ hoàn toàn khuynh hướng ngầm của tham, xua tan khuynh hướng ngầm của sân, nhổ sạch khuynh hướng ngầm của tà kiến và ngã mạn "ta là", đoạn trừ vô minh, làm phát sinh minh, và ngay trong đời này, vị ấy chấm dứt khổ đau—

Đến mức ấy, này các vị, bậc thánh đệ tử đã có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này.

"Lành thay, thưa Tôn giả," các tỳ-kheo hoan hỷ, tán thán lời Tôn giả Sāriputta dạy, rồi hỏi thêm Tôn giả một câu:

"Nhưng thưa Tôn giả, có thể có cách khác để nói về bậc thánh đệ tử có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này chăng?"

Có thể có, này các vị.

Khi bậc thánh đệ tử, này các vị, hiểu sự tái sinh, hiểu nguồn gốc của sự tái sinh, hiểu sự chấm dứt của sự tái sinh, và hiểu con đường dẫn đến sự chấm dứt của sự tái sinh—

Đến mức ấy, này các vị, bậc thánh đệ tử đã có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này.

Nhưng thưa Tôn giả, sự tái sinh là gì, nguồn gốc của sự tái sinh là gì, sự chấm dứt của sự tái sinh là gì, và con đường dẫn đến sự chấm dứt của sự tái sinh là gì?

Sự sinh, sự ra đời, sự nhập thai, sự hình thành, sự xuất hiện của các uẩn, sự có được các xứ của các chúng sinh trong từng loài chúng sinh—

Đó, này các vị, được gọi là sự tái sinh.

Do sự tồn tại sinh khởi nên sự tái sinh sinh khởi. Do sự tồn tại chấm dứt nên sự tái sinh chấm dứt. Con đường dẫn đến sự chấm dứt của sự tái sinh chính là con đường tám nhánh cao quý này, đó là—

Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

Khi bậc thánh đệ tử, này các vị, hiểu như vậy về sự tái sinh, hiểu như vậy về nguồn gốc của sự tái sinh, hiểu như vậy về sự chấm dứt của sự tái sinh, hiểu như vậy về con đường dẫn đến sự chấm dứt của sự tái sinh, vị ấy đoạn trừ hoàn toàn khuynh hướng ngầm của tham, xua tan khuynh hướng ngầm của sân, nhổ sạch khuynh hướng ngầm của tà kiến và ngã mạn "ta là", đoạn trừ vô minh, làm phát sinh minh, và ngay trong đời này, vị ấy chấm dứt khổ đau—

Đến mức ấy, này các vị, bậc thánh đệ tử đã có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này.

"Lành thay, thưa Tôn giả," các tỳ-kheo hoan hỷ, tán thán lời Tôn giả Sāriputta dạy, rồi hỏi thêm Tôn giả một câu:

"Nhưng thưa Tôn giả, có thể có cách khác để nói về bậc thánh đệ tử có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này chăng?"

Có thể có, này các vị.

Khi bậc thánh đệ tử, này các vị, hiểu sự tồn tại, hiểu nguồn gốc của sự tồn tại, hiểu sự chấm dứt của sự tồn tại, và hiểu con đường dẫn đến sự chấm dứt của sự tồn tại—

[Chú thích: Bhava nghĩa là "sự tồn tại, đời sống", theo nghĩa những đời sống quá khứ và tương lai. Khái niệm này gồm cả mặt chủ động lẫn mặt kết quả của đời sống: tâm tạo ra ý tưởng và ý chí, hướng về một cõi nào đó, rồi khi tái sinh thì cõi ấy thành hiện thực.]

Đến mức ấy, này các vị, bậc thánh đệ tử đã có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này.

Nhưng thưa Tôn giả, sự tồn tại là gì, nguồn gốc của sự tồn tại là gì, sự chấm dứt của sự tồn tại là gì, và con đường dẫn đến sự chấm dứt của sự tồn tại là gì?

Này các vị, có ba sự tồn tại—

[Chú thích: Ý niệm ba "thế giới" hay ba "trạng thái tồn tại" được cả Phật giáo, Ấn Độ giáo và Kỳ-na giáo chia sẻ. Ban đầu nó chỉ mặt đất, khoảng giữa trời và đất, và trời, tức nơi ở của loài người, tổ tiên và chư thiên.]


Tồn tại trong cõi dục, tồn tại trong cõi sắc, tồn tại trong cõi vô sắc.

[Chú thích: Cõi dục gồm mọi cõi từ địa ngục thấp nhất đến các cõi trời cao nhất của dục giới. Cõi sắc là các cõi Phạm Thiên đạt được nhờ tâm sáng của thiền-na. Cõi vô sắc đạt được nhờ các tầng thiền vô sắc.]

Do sự bám giữ sinh khởi nên sự tồn tại sinh khởi. Do sự bám giữ chấm dứt nên sự tồn tại chấm dứt. Con đường dẫn đến sự chấm dứt của sự tồn tại chính là con đường tám nhánh cao quý này, đó là—

Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

Khi bậc thánh đệ tử, này các vị, hiểu như vậy về sự tồn tại, hiểu như vậy về nguồn gốc của sự tồn tại, hiểu như vậy về sự chấm dứt của sự tồn tại, hiểu như vậy về con đường dẫn đến sự chấm dứt của sự tồn tại, vị ấy đoạn trừ hoàn toàn khuynh hướng ngầm của tham, xua tan khuynh hướng ngầm của sân, nhổ sạch khuynh hướng ngầm của tà kiến và ngã mạn "ta là", đoạn trừ vô minh, làm phát sinh minh, và ngay trong đời này, vị ấy chấm dứt khổ đau—

Đến mức ấy, này các vị, bậc thánh đệ tử đã có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này.

"Lành thay, thưa Tôn giả," các tỳ-kheo hoan hỷ, tán thán lời Tôn giả Sāriputta dạy, rồi hỏi thêm Tôn giả một câu:

"Nhưng thưa Tôn giả, có thể có cách khác để nói về bậc thánh đệ tử có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này chăng?"

Có thể có, này các vị.

Khi bậc thánh đệ tử, này các vị, hiểu sự bám giữ, hiểu nguồn gốc của sự bám giữ, hiểu sự chấm dứt của sự bám giữ, và hiểu con đường dẫn đến sự chấm dứt của sự bám giữ—

[Chú thích: Upādāna mang nghĩa chủ động là "nắm lấy" một đời sống mới, không chỉ bám vào cái đang có. Như āhāra, nó cũng có nghĩa là chất liệu nuôi dưỡng ngọn lửa tồn tại.]

Đến mức ấy, này các vị, bậc thánh đệ tử đã có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này.

Nhưng thưa Tôn giả, sự bám giữ là gì, nguồn gốc của sự bám giữ là gì, sự chấm dứt của sự bám giữ là gì, và con đường dẫn đến sự chấm dứt của sự bám giữ là gì?

Này các vị, có bốn sự bám giữ—

Bám giữ vào dục lạc, bám giữ vào quan điểm, bám giữ vào giới cấm và lễ nghi, bám giữ vào lý thuyết về ngã.

[Chú thích: Sự bám giữ khởi đầu từ ham muốn giác quan, nhưng ba loại sau thuộc về nhận thức và khá tinh vi. Chỉ một người trưởng thành có ngôn ngữ phát triển mới hình thành được một quan điểm để bám vào, cũng như bám vào giới cấm lễ nghi hay lý thuyết về ngã.]

Do tham ái sinh khởi nên sự bám giữ sinh khởi. Do tham ái chấm dứt nên sự bám giữ chấm dứt. Con đường dẫn đến sự chấm dứt của sự bám giữ chính là con đường tám nhánh cao quý này, đó là—

Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

Khi bậc thánh đệ tử, này các vị, hiểu như vậy về sự bám giữ, hiểu như vậy về nguồn gốc của sự bám giữ, hiểu như vậy về sự chấm dứt của sự bám giữ, hiểu như vậy về con đường dẫn đến sự chấm dứt của sự bám giữ, vị ấy đoạn trừ hoàn toàn khuynh hướng ngầm của tham, xua tan khuynh hướng ngầm của sân, nhổ sạch khuynh hướng ngầm của tà kiến và ngã mạn "ta là", đoạn trừ vô minh, làm phát sinh minh, và ngay trong đời này, vị ấy chấm dứt khổ đau—

Đến mức ấy, này các vị, bậc thánh đệ tử đã có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này.

"Lành thay, thưa Tôn giả," các tỳ-kheo hoan hỷ, tán thán lời Tôn giả Sāriputta dạy, rồi hỏi thêm Tôn giả một câu:

"Nhưng thưa Tôn giả, có thể có cách khác để nói về bậc thánh đệ tử có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này chăng?"

Có thể có, này các vị.

Khi bậc thánh đệ tử, này các vị, hiểu tham ái, hiểu nguồn gốc của tham ái, hiểu sự chấm dứt của tham ái, và hiểu con đường dẫn đến sự chấm dứt của tham ái—

Đến mức ấy, này các vị, bậc thánh đệ tử đã có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này.

Nhưng thưa Tôn giả, tham ái là gì, nguồn gốc của tham ái là gì, sự chấm dứt của tham ái là gì, và con đường dẫn đến sự chấm dứt của tham ái là gì?

Này các vị, có sáu loại tham ái—

Tham ái đối với hình sắc, tham ái đối với âm thanh, tham ái đối với mùi hương, tham ái đối với vị nếm, tham ái đối với xúc chạm, tham ái đối với ý niệm.

[Chú thích: Ở trên đã nói ba loại tham ái; ở đây tham ái được phân tích theo sáu giác quan, nối nó với các mục tiếp theo. Tham ái đối với ý niệm không chỉ là ham thích tư duy, mà là mọi tham muốn đối với hiện tượng tâm, kể cả thú vui tinh thần của thiền sâu.]

Do thọ sinh khởi nên tham ái sinh khởi. Do thọ chấm dứt nên tham ái chấm dứt. Con đường dẫn đến sự chấm dứt của tham ái chính là con đường tám nhánh cao quý này, đó là—

Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

Khi bậc thánh đệ tử, này các vị, hiểu như vậy về tham ái, hiểu như vậy về nguồn gốc của tham ái, hiểu như vậy về sự chấm dứt của tham ái, hiểu như vậy về con đường dẫn đến sự chấm dứt của tham ái, vị ấy đoạn trừ hoàn toàn khuynh hướng ngầm của tham, xua tan khuynh hướng ngầm của sân, nhổ sạch khuynh hướng ngầm của tà kiến và ngã mạn "ta là", đoạn trừ vô minh, làm phát sinh minh, và ngay trong đời này, vị ấy chấm dứt khổ đau—

Đến mức ấy, này các vị, bậc thánh đệ tử đã có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này.

"Lành thay, thưa Tôn giả," các tỳ-kheo hoan hỷ, tán thán lời Tôn giả Sāriputta dạy, rồi hỏi thêm Tôn giả một câu:

"Nhưng thưa Tôn giả, có thể có cách khác để nói về bậc thánh đệ tử có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này chăng?"

Có thể có, này các vị.

Khi bậc thánh đệ tử, này các vị, hiểu thọ, hiểu nguồn gốc của thọ, hiểu sự chấm dứt của thọ, và hiểu con đường dẫn đến sự chấm dứt của thọ—

[Chú thích: Thọ (vedanā) là sắc thái dễ chịu, khó chịu hay trung tính của kinh nghiệm.]

Đến mức ấy, này các vị, bậc thánh đệ tử đã có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này.

Nhưng thưa Tôn giả, thọ là gì, nguồn gốc của thọ là gì, sự chấm dứt của thọ là gì, và con đường dẫn đến sự chấm dứt của thọ là gì?

Này các vị, có sáu loại thọ—

Thọ sinh ra từ xúc qua mắt, thọ sinh ra từ xúc qua tai, thọ sinh ra từ xúc qua mũi, thọ sinh ra từ xúc qua lưỡi, thọ sinh ra từ xúc qua thân, thọ sinh ra từ xúc qua ý.

Do xúc sinh khởi nên thọ sinh khởi. Do xúc chấm dứt nên thọ chấm dứt. Con đường dẫn đến sự chấm dứt của thọ chính là con đường tám nhánh cao quý này, đó là—

Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

Khi bậc thánh đệ tử, này các vị, hiểu như vậy về thọ, hiểu như vậy về nguồn gốc của thọ, hiểu như vậy về sự chấm dứt của thọ, hiểu như vậy về con đường dẫn đến sự chấm dứt của thọ, vị ấy đoạn trừ hoàn toàn khuynh hướng ngầm của tham, xua tan khuynh hướng ngầm của sân, nhổ sạch khuynh hướng ngầm của tà kiến và ngã mạn "ta là", đoạn trừ vô minh, làm phát sinh minh, và ngay trong đời này, vị ấy chấm dứt khổ đau—

Đến mức ấy, này các vị, bậc thánh đệ tử đã có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này.

"Lành thay, thưa Tôn giả," các tỳ-kheo hoan hỷ, tán thán lời Tôn giả Sāriputta dạy, rồi hỏi thêm Tôn giả một câu:

"Nhưng thưa Tôn giả, có thể có cách khác để nói về bậc thánh đệ tử có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này chăng?"

Có thể có, này các vị.

Khi bậc thánh đệ tử, này các vị, hiểu xúc, hiểu nguồn gốc của xúc, hiểu sự chấm dứt của xúc, và hiểu con đường dẫn đến sự chấm dứt của xúc—

[Chú thích: Xúc (phassa) là sự gặp gỡ giữa đối tượng giác quan và cơ quan giác quan trong kinh nghiệm.]

Đến mức ấy, này các vị, bậc thánh đệ tử đã có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này.

Nhưng thưa Tôn giả, xúc là gì, nguồn gốc của xúc là gì, sự chấm dứt của xúc là gì, và con đường dẫn đến sự chấm dứt của xúc là gì?

Này các vị, có sáu loại xúc—

Xúc qua mắt, xúc qua tai, xúc qua mũi, xúc qua lưỡi, xúc qua thân, xúc qua ý.

[Chú thích: Xúc qua các giác quan thân diễn ra bằng sự va chạm hay sức cản vật lý. Xúc qua ý diễn ra bằng sự đặt tên, khái niệm hoá.]

Do sáu xứ sinh khởi nên xúc sinh khởi. Do sáu xứ chấm dứt nên xúc chấm dứt. Con đường dẫn đến sự chấm dứt của xúc chính là con đường tám nhánh cao quý này, đó là—


Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

Khi bậc thánh đệ tử, này các vị, hiểu như vậy về xúc, hiểu như vậy về nguồn gốc của xúc, hiểu như vậy về sự chấm dứt của xúc, hiểu như vậy về con đường dẫn đến sự chấm dứt của xúc, vị ấy đoạn trừ hoàn toàn khuynh hướng ngầm của tham, xua tan khuynh hướng ngầm của sân, nhổ sạch khuynh hướng ngầm của tà kiến và ngã mạn "ta là", đoạn trừ vô minh, làm phát sinh minh, và ngay trong đời này, vị ấy chấm dứt khổ đau—

Đến mức ấy, này các vị, bậc thánh đệ tử đã có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này.

"Lành thay, thưa Tôn giả," các tỳ-kheo hoan hỷ, tán thán lời Tôn giả Sāriputta dạy, rồi hỏi thêm Tôn giả một câu:

"Nhưng thưa Tôn giả, có thể có cách khác để nói về bậc thánh đệ tử có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này chăng?"

Có thể có, này các vị.

Khi bậc thánh đệ tử, này các vị, hiểu sáu xứ, hiểu nguồn gốc của sáu xứ, hiểu sự chấm dứt của sáu xứ, và hiểu con đường dẫn đến sự chấm dứt của sáu xứ—

[Chú thích: "Xứ" (āyatana) nghĩa đen là "sự duỗi ra", tức một lĩnh vực hay một chiều của kinh nghiệm.]

Đến mức ấy, này các vị, bậc thánh đệ tử đã có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này.

Nhưng thưa Tôn giả, sáu xứ là gì, nguồn gốc của sáu xứ là gì, sự chấm dứt của sáu xứ là gì, và con đường dẫn đến sự chấm dứt của sáu xứ là gì?

Này các vị, có sáu xứ—

Xứ của mắt, xứ của tai, xứ của mũi, xứ của lưỡi, xứ của thân, xứ của ý.

[Chú thích: Trong Phật giáo, ý là giác quan thứ sáu, biết các hiện tượng tâm cũng như các giác quan thân biết các hiện tượng vật lý.]

Do danh sắc sinh khởi nên sáu xứ sinh khởi. Do danh sắc chấm dứt nên sáu xứ chấm dứt. Con đường dẫn đến sự chấm dứt của sáu xứ chính là con đường tám nhánh cao quý này, đó là—

Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

Khi bậc thánh đệ tử, này các vị, hiểu như vậy về sáu xứ, hiểu như vậy về nguồn gốc của sáu xứ, hiểu như vậy về sự chấm dứt của sáu xứ, hiểu như vậy về con đường dẫn đến sự chấm dứt của sáu xứ, vị ấy đoạn trừ hoàn toàn khuynh hướng ngầm của tham, xua tan khuynh hướng ngầm của sân, nhổ sạch khuynh hướng ngầm của tà kiến và ngã mạn "ta là", đoạn trừ vô minh, làm phát sinh minh, và ngay trong đời này, vị ấy chấm dứt khổ đau—

Đến mức ấy, này các vị, bậc thánh đệ tử đã có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này.

"Lành thay, thưa Tôn giả," các tỳ-kheo hoan hỷ, tán thán lời Tôn giả Sāriputta dạy, rồi hỏi thêm Tôn giả một câu:

"Nhưng thưa Tôn giả, có thể có cách khác để nói về bậc thánh đệ tử có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này chăng?"

Có thể có, này các vị.

Khi bậc thánh đệ tử, này các vị, hiểu danh sắc, hiểu nguồn gốc của danh sắc, hiểu sự chấm dứt của danh sắc, và hiểu con đường dẫn đến sự chấm dứt của danh sắc—

[Chú thích: Danh sắc là khái niệm có từ Vệ-đà, chỉ sự đa dạng của các hình tướng vật chất và những tên gọi đi kèm, nhất là các "chúng sinh" như chư thiên và loài người.]

Đến mức ấy, này các vị, bậc thánh đệ tử đã có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này.

Nhưng thưa Tôn giả, danh sắc là gì, nguồn gốc của danh sắc là gì, sự chấm dứt của danh sắc là gì, và con đường dẫn đến sự chấm dứt của danh sắc là gì?

Thọ, tưởng, ý chí, xúc, tác ý—

[Chú thích: Danh và sắc được phân tích thành các yếu tố, đưa chúng ra khỏi lĩnh vực siêu hình và đưa vào kinh nghiệm quán sát được. Năm yếu tố này là điều kiện để thức vận hành.]

Đó, này các vị, được gọi là danh;

Bốn đại chủng, và sắc do bốn đại chủng tạo ra—

[Chú thích: Bốn đại chủng là đất, nước, lửa, gió, tương ứng với các trạng thái rắn, lỏng, nhiệt và khí. Sắc do đại chủng tạo ra không được giải thích trong kinh, nhưng có chỗ cho thấy nó gồm cả không gian.]

Đó, này các vị, được gọi là sắc.

Như vậy, đây là danh và đây là sắc—

Đó, này các vị, được gọi là danh sắc.

Do thức sinh khởi nên danh sắc sinh khởi. Do thức chấm dứt nên danh sắc chấm dứt. Con đường dẫn đến sự chấm dứt của danh sắc chính là con đường tám nhánh cao quý này, đó là—

Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

Khi bậc thánh đệ tử, này các vị, hiểu như vậy về danh sắc, hiểu như vậy về nguồn gốc của danh sắc, hiểu như vậy về sự chấm dứt của danh sắc, hiểu như vậy về con đường dẫn đến sự chấm dứt của danh sắc, vị ấy đoạn trừ hoàn toàn khuynh hướng ngầm của tham, xua tan khuynh hướng ngầm của sân, nhổ sạch khuynh hướng ngầm của tà kiến và ngã mạn "ta là", đoạn trừ vô minh, làm phát sinh minh, và ngay trong đời này, vị ấy chấm dứt khổ đau—

Đến mức ấy, này các vị, bậc thánh đệ tử đã có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này.

"Lành thay, thưa Tôn giả," các tỳ-kheo hoan hỷ, tán thán lời Tôn giả Sāriputta dạy, rồi hỏi thêm Tôn giả một câu:

"Nhưng thưa Tôn giả, có thể có cách khác để nói về bậc thánh đệ tử có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này chăng?"

Có thể có, này các vị.

Khi bậc thánh đệ tử, này các vị, hiểu thức, hiểu nguồn gốc của thức, hiểu sự chấm dứt của thức, và hiểu con đường dẫn đến sự chấm dứt của thức—

[Chú thích: Thức là sự biết đơn thuần của chủ thể, là cái biết làm nên toàn bộ thế giới khái niệm và hình tướng.]

Đến mức ấy, này các vị, bậc thánh đệ tử đã có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này.

Nhưng thưa Tôn giả, thức là gì, nguồn gốc của thức là gì, sự chấm dứt của thức là gì, và con đường dẫn đến sự chấm dứt của thức là gì?

Này các vị, có sáu loại thức—

Thức của mắt, thức của tai, thức của mũi, thức của lưỡi, thức của thân, thức của ý.

[Chú thích: Thức nơi giác quan chỉ là sự biết thuần tuý về một thuộc tính vật lý: mắt chỉ biết ánh sáng. Ý, dựa vào năm yếu tố của "danh", xử lý dữ liệu ấy thành khái niệm có nghĩa.]

Do tạo tác sinh khởi nên thức sinh khởi. Do tạo tác chấm dứt nên thức chấm dứt. Con đường dẫn đến sự chấm dứt của thức chính là con đường tám nhánh cao quý này, đó là—

Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

Khi bậc thánh đệ tử, này các vị, hiểu như vậy về thức, hiểu như vậy về nguồn gốc của thức, hiểu như vậy về sự chấm dứt của thức, hiểu như vậy về con đường dẫn đến sự chấm dứt của thức, vị ấy đoạn trừ hoàn toàn khuynh hướng ngầm của tham, xua tan khuynh hướng ngầm của sân, nhổ sạch khuynh hướng ngầm của tà kiến và ngã mạn "ta là", đoạn trừ vô minh, làm phát sinh minh, và ngay trong đời này, vị ấy chấm dứt khổ đau—

Đến mức ấy, này các vị, bậc thánh đệ tử đã có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này.

"Lành thay, thưa Tôn giả," các tỳ-kheo hoan hỷ, tán thán lời Tôn giả Sāriputta dạy, rồi hỏi thêm Tôn giả một câu:

"Nhưng thưa Tôn giả, có thể có cách khác để nói về bậc thánh đệ tử có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này chăng?"

Có thể có, này các vị.

Khi bậc thánh đệ tử, này các vị, hiểu tạo tác, hiểu nguồn gốc của tạo tác, hiểu sự chấm dứt của tạo tác, và hiểu con đường dẫn đến sự chấm dứt của tạo tác—

[Chú thích: Đây là mục cuối cùng trong các bản Hán và Phạn song song.]

Đến mức ấy, này các vị, bậc thánh đệ tử đã có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này.

Nhưng thưa Tôn giả, tạo tác là gì, nguồn gốc của tạo tác là gì, sự chấm dứt của tạo tác là gì, và con đường dẫn đến sự chấm dứt của tạo tác là gì?

[Chú thích: Saṅkhāra có ba nghĩa chính trong Phật giáo sơ kỳ: nghĩa rộng nhất là mọi pháp hữu vi, tức mọi thứ trừ Niết-bàn; nghĩa thứ hai là một tiến trình hay hoạt động thân hoặc tâm; nghĩa thứ ba, trong năm uẩn và duyên khởi, là những ý chí có sức tạo nghiệp, đồng nghĩa với tư và nghiệp.]

Này các vị, có ba loại tạo tác—


Tạo tác qua thân, tạo tác qua lời nói, tạo tác qua ý.

[Chú thích: Ba loại này chỉ những hành vi tạo ra qua thân, lời nói và ý. Trong duyên khởi, chúng đồng nghĩa với nhau.]

Do vô minh sinh khởi nên tạo tác sinh khởi. Do vô minh chấm dứt nên tạo tác chấm dứt. Con đường dẫn đến sự chấm dứt của tạo tác chính là con đường tám nhánh cao quý này, đó là—

Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

Khi bậc thánh đệ tử, này các vị, hiểu như vậy về tạo tác, hiểu như vậy về nguồn gốc của tạo tác, hiểu như vậy về sự chấm dứt của tạo tác, hiểu như vậy về con đường dẫn đến sự chấm dứt của tạo tác, vị ấy đoạn trừ hoàn toàn khuynh hướng ngầm của tham, xua tan khuynh hướng ngầm của sân, nhổ sạch khuynh hướng ngầm của tà kiến và ngã mạn "ta là", đoạn trừ vô minh, làm phát sinh minh, và ngay trong đời này, vị ấy chấm dứt khổ đau—

Đến mức ấy, này các vị, bậc thánh đệ tử đã có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này.

"Lành thay, thưa Tôn giả," các tỳ-kheo hoan hỷ, tán thán lời Tôn giả Sāriputta dạy, rồi hỏi thêm Tôn giả một câu:

"Nhưng thưa Tôn giả, có thể có cách khác để nói về bậc thánh đệ tử có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này chăng?"

Có thể có, này các vị.

Khi bậc thánh đệ tử, này các vị, hiểu vô minh, hiểu nguồn gốc của vô minh, hiểu sự chấm dứt của vô minh, và hiểu con đường dẫn đến sự chấm dứt của vô minh—

[Chú thích: Vô minh là mục duy nhất không có trong các bản Hán và Phạn song song. Có lẽ hình thức ban đầu của bài kinh chỉ nói đến vô minh qua mặt đối lập của nó là chánh kiến.]

Đến mức ấy, này các vị, bậc thánh đệ tử đã có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này.

Nhưng thưa Tôn giả, vô minh là gì, nguồn gốc của vô minh là gì, sự chấm dứt của vô minh là gì, và con đường dẫn đến sự chấm dứt của vô minh là gì?

Này các vị, sự không biết về khổ, sự không biết về nguồn gốc của khổ, sự không biết về sự chấm dứt của khổ, sự không biết về con đường dẫn đến sự chấm dứt của khổ—

Đó, này các vị, được gọi là vô minh.

Do lậu hoặc sinh khởi nên vô minh sinh khởi. Do lậu hoặc chấm dứt nên vô minh chấm dứt. Con đường dẫn đến sự chấm dứt của vô minh chính là con đường tám nhánh cao quý này, đó là—

[Chú thích: Cách trình bày ở đây khá riêng, vì vô minh tự nó là một trong các lậu hoặc. Thông thường vô minh đứng cuối chuỗi duyên khởi, nhưng nhân quả không phải đường thẳng nên điểm khởi đầu chỉ được nêu vì mục đích thực hành.]

Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

Khi bậc thánh đệ tử, này các vị, hiểu như vậy về vô minh, hiểu như vậy về nguồn gốc của vô minh, hiểu như vậy về sự chấm dứt của vô minh, hiểu như vậy về con đường dẫn đến sự chấm dứt của vô minh, vị ấy đoạn trừ hoàn toàn khuynh hướng ngầm của tham, xua tan khuynh hướng ngầm của sân, nhổ sạch khuynh hướng ngầm của tà kiến và ngã mạn "ta là", đoạn trừ vô minh, làm phát sinh minh, và ngay trong đời này, vị ấy chấm dứt khổ đau—

Đến mức ấy, này các vị, bậc thánh đệ tử đã có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này.

"Lành thay, thưa Tôn giả," các tỳ-kheo hoan hỷ, tán thán lời Tôn giả Sāriputta dạy, rồi hỏi thêm Tôn giả một câu:

"Nhưng thưa Tôn giả, có thể có cách khác để nói về bậc thánh đệ tử có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này chăng?"

Có thể có, này các vị.

Khi bậc thánh đệ tử, này các vị, hiểu lậu hoặc, hiểu nguồn gốc của lậu hoặc, hiểu sự chấm dứt của lậu hoặc, và hiểu con đường dẫn đến sự chấm dứt của lậu hoặc—

[Chú thích: Việc lậu hoặc xuất hiện ở cuối là hợp lý, vì trong khuôn Bốn Sự Thật nó thường chỉ quả A-la-hán. Các bản Hán và Phạn song song lại đặt nó sớm hơn, sau bốn loại dưỡng chất.]

Đến mức ấy, này các vị, bậc thánh đệ tử đã có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này.

Nhưng thưa Tôn giả, lậu hoặc là gì, nguồn gốc của lậu hoặc là gì, sự chấm dứt của lậu hoặc là gì, và con đường dẫn đến sự chấm dứt của lậu hoặc là gì?

Này các vị, có ba lậu hoặc—

Lậu hoặc của dục, lậu hoặc của hữu, lậu hoặc của vô minh.

Do vô minh sinh khởi nên lậu hoặc sinh khởi. Do vô minh chấm dứt nên lậu hoặc chấm dứt. Con đường dẫn đến sự chấm dứt của lậu hoặc chính là con đường tám nhánh cao quý này, đó là—

[Chú thích: Vô minh và lậu hoặc làm duyên cho nhau trong một vòng tròn: vô minh sinh ra thêm vô minh. Hệ quả là không thể biết điểm khởi đầu của vô minh, cũng không thể biết điểm khởi đầu của luân hồi.]

Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

Khi bậc thánh đệ tử, này các vị, hiểu như vậy về lậu hoặc, hiểu như vậy về nguồn gốc của lậu hoặc, hiểu như vậy về sự chấm dứt của lậu hoặc, hiểu như vậy về con đường dẫn đến sự chấm dứt của lậu hoặc, vị ấy đoạn trừ hoàn toàn khuynh hướng ngầm của tham, xua tan khuynh hướng ngầm của sân, nhổ sạch khuynh hướng ngầm của tà kiến và ngã mạn "ta là", đoạn trừ vô minh, làm phát sinh minh, và ngay trong đời này, vị ấy chấm dứt khổ đau—

Đến mức ấy, này các vị, bậc thánh đệ tử đã có chánh kiến, cái thấy của vị ấy đã ngay thẳng, vị ấy thành tựu lòng tin không lay chuyển nơi Pháp và đã đến với Chánh Pháp này.

Tôn giả Sāriputta nói như vậy.

Các tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tán thán lời Tôn giả Sāriputta dạy.

Kinh Chánh Kiến, bài thứ chín, đến đây kết thúc.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →