Tương Ưng Bộ · SN 29.25
Kinh Bố Thí Vòng Hoa Cho Rồng Thai Sinh
Jalābujadānūpakārasutta — bài thứ hai mươi lăm
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Sang bài này, loạt bài chuyển sang rồng thai sinh (jalābuja). Loại này sinh ra từ bào thai, như loài thú và loài người.
Người ấy bố thí vòng hoa.
Lần này vật được bố thí là vòng hoa (māla).
Vòng hoa ở vị trí thứ năm. Danh sách vẫn đi đúng thứ tự cũ.
Ta có thể đọc bốn mươi bài này như một bảng: mười vật trên một trục, bốn loại rồng trên trục kia. Mỗi bài là một ô.
Điều đáng chú ý là cái động cơ. Vị ấy bố thí không phải vì muốn buông bỏ, mà vì muốn được — được sinh vào hàng ngũ thai sinh. Kinh kể chuyện ấy mà không lên án, cũng không khen. Nó chỉ nói: đây là nhân, đây là duyên, quả là như vậy.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Rồng (Nāgasaṃyutta), tương ưng thứ 29.
Phẩm Rồng (Nāgavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Rồng.
Kinh Bố Thí Vòng Hoa Cho Rồng Thai Sinh (Jalābujadānūpakārasutta) — bài thứ hai mươi lăm.
"Tại Sāvatthī.
Rồi một tỳ-kheo đi đến chỗ Đức Thế Tôn, đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, vị tỳ-kheo ấy bạch Đức Thế Tôn:
Bạch Đức Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, mà một số người, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào hàng ngũ rồng thai sinh?
Này tỳ-kheo, ở đây, một số người làm điều hai chiều bằng thân, bằng lời, bằng ý.
Người ấy nghe nói:
Rồng thai sinh sống lâu, có dung sắc, nhiều an lạc.
Người ấy nghĩ như vầy:
Mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta được sinh vào hàng ngũ rồng thai sinh.
Người ấy bố thí vòng hoa.
Sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sinh vào hàng ngũ rồng thai sinh.
Này tỳ-kheo, đó là nhân, đó là duyên, mà một số người, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào hàng ngũ rồng thai sinh."
Bài thứ hai mươi lăm.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.