buppou

Tương Ưng Bộ · SN 46.122

Kinh Ách

Yogasutta — bài thứ một trăm hai mươi hai

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Phần peyyāla, mười bài cuối của lượt đầu, nặng nhất về thuật ngữ.

Để thắng tri những nhóm pháp ấy, bảy giác chi cần được tu tập.

Bài kinh không giải thích vì sao, chỉ nói rằng đúng là như vậy.

Bài này tên là Kinh Ách, bài thứ một trăm lẻ hai mươi hai của tương ưng, nằm ở Phẩm Bộc Lưu.

Không có gì mới để hiểu, chỉ có một điều để làm.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Giác Chi (Bojjhaṅgasaṃyutta), tương ưng thứ 46.

Phẩm Bộc Lưu (Oghavagga) — phẩm thứ mười ba của Tương Ưng Giác Chi.

Kinh Ách (Yogasutta) — bài thứ một trăm hai mươi hai.


"Tại Sāvatthī.

Này các tỳ-kheo, có bốn ách.

Bốn ấy là gì?

Đó là ách dục, ách hữu, ách kiến, ách vô minh.

Này các tỳ-kheo, để thắng tri, để biến tri, để tận diệt, để đoạn trừ bốn ách ấy, bảy giác chi cần được tu tập.

Bảy ấy là gì?

Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập niệm giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; vị tỳ-kheo tu tập trạch pháp giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; vị tỳ-kheo tu tập tinh tấn giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; vị tỳ-kheo tu tập hỷ giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; vị tỳ-kheo tu tập khinh an giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; vị tỳ-kheo tu tập định giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ;

vị tỳ-kheo tu tập xả giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ.

Này các tỳ-kheo, để thắng tri, để biến tri, để tận diệt, để đoạn trừ bốn ách ấy, bảy giác chi này cần được tu tập."

Bài thứ một trăm lẻ hai mươi hai.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →