Tương Ưng Bộ · SN 38.12
Kinh Câu Hỏi Về Chấp Thủ
Upādānapañhāsutta — bài thứ mười hai
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ mười hai đưa vào nhóm bốn mục phức tạp nhất — và nó là bài duy nhất của tương ưng có một danh sách mà tôi cần giải thích.
Này hiền giả, có bốn chấp thủ này: dục chấp thủ, kiến chấp thủ, giới cấm thủ, ngã luận chấp thủ.
Upādāna — chấp thủ, nhiên liệu. Và bốn cái ấy là bốn loại nhiên liệu:
Kāmupādāna — nhiên liệu là dục. Diṭṭhupādāna — nhiên liệu là quan điểm. Sīlabbatupādāna — nhiên liệu là giới cấm và nghi lễ. Attavādupādāna — nhiên liệu là ngã luận, chuyện về cái tôi.
Cái thứ ba — giới cấm thủ — là cái khó hiểu nhất cho người đọc hiện đại, và nó đáng để nói rõ: không phải giữ giới. Nó là tin rằng giữ giới và làm lễ sẽ tự nó giải thoát, không cần cái hiểu.
Đó là một sự nhầm lẫn rất cụ thể, và nó là một cái chấp thủ — vì nó cũng là một chỗ để bám vào: bám vào việc mình đang làm đúng.
Và cái thứ tư — ngã luận chấp thủ — là cái gốc. Ba cái kia là những chỗ mà cái tôi bám vào, cái này là sự bám vào chính cái tôi.
Bốn loại nhiên liệu, một cái lửa. Và bài 15 — bài nói về thân kiến — sẽ cho thấy cái lửa ấy trông thế nào.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Jambukhādaka (Jambukhādakasaṃyutta), tương ưng thứ 38.
Phẩm Jambukhādaka (Jambukhādakavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Jambukhādaka.
Kinh Câu Hỏi Về Chấp Thủ (Upādānapañhāsutta) — bài thứ mười hai.
"Chấp thủ, chấp thủ, này hiền giả Sāriputta, người ta nói như vậy.
Chấp thủ ấy là gì, này hiền giả?
Này hiền giả, có bốn chấp thủ này.
Dục chấp thủ, kiến chấp thủ, giới cấm thủ, ngã luận chấp thủ —
này hiền giả, ấy là bốn chấp thủ.
Nhưng này hiền giả, có con đường, có sự thực hành để đoạn trừ các chấp thủ ấy không?
Này hiền giả, có con đường, có sự thực hành để đoạn trừ các chấp thủ ấy.
Nhưng này hiền giả, con đường ấy là gì, sự thực hành ấy là gì để đoạn trừ các chấp thủ ấy?
Này hiền giả, chính con đường tám nhánh cao quý này để đoạn trừ các chấp thủ ấy, ấy là:
chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
Này hiền giả, ấy là con đường, ấy là sự thực hành để đoạn trừ các chấp thủ ấy.
Thật là tốt lành, này hiền giả, con đường ấy; thật là tốt lành, sự thực hành ấy để đoạn trừ các chấp thủ ấy.
Và như vậy, này Tôn giả Sāriputta, là đủ để không phóng dật."
Bài thứ mười hai.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.