buppou

Tương Ưng Bộ · SN 38.11

Kinh Câu Hỏi Về Bộc Lưu

Oghapañhāsutta — bài thứ mười một

3 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ mười một đưa vào một trong những hình ảnh mạnh nhất của cả bộ kinh.

"Bộc lưu, bộc lưu", này hiền giả Sāriputta, người ta nói như vậy. Bộc lưu ấy là gì? Này hiền giả, có bốn bộc lưu này: dục bộc lưu, hữu bộc lưu, kiến bộc lưu, vô minh bộc lưu.

Ogha — bộc lưu, dòng nước lũ. Chữ gốc là √uh, chảy mạnh, cuốn đi.

Bốn dòng nước, và cái thứ ba — kiến bộc lưu — là cái đáng chú ý nhất, vì nó không có trong danh sách lậu hoặc.

Diṭṭhāsava không có, nhưng diṭṭhogha thì có.

Nghĩa là: quan điểm sai không phải một thứ "rỉ ra". Nó là một dòng nước, một cái cuốn. Và nó cuốn mạnh hơn cả dục.

Đó là một sự phân biệt rất sắc, và nó khớp với kinh nghiệm: người ta ít bị cuốn bởi dục hơn là bởi cái mình tin.

Và câu hỏi về con đường ở đây là đoạn trừ, không phải liễu tri — vì một dòng lũ không thể hiểu cho nó ngừng. Phải ra khỏi nó.

Bốn dòng, một bờ bên kia. Và chữ "bờ bên kia" — pāragata — sẽ không xuất hiện trong bài này, nhưng nó là toàn bộ nội dung ngầm.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Jambukhādaka (Jambukhādakasaṃyutta), tương ưng thứ 38.

Phẩm Jambukhādaka (Jambukhādakavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Jambukhādaka.

Kinh Câu Hỏi Về Bộc Lưu (Oghapañhāsutta) — bài thứ mười một.


"Bộc lưu, bộc lưu, này hiền giả Sāriputta, người ta nói như vậy.

Bộc lưu ấy là gì, này hiền giả?

Này hiền giả, có bốn bộc lưu này.

Dục bộc lưu, hữu bộc lưu, kiến bộc lưu, vô minh bộc lưu —

này hiền giả, ấy là bốn bộc lưu.

Nhưng này hiền giả, có con đường, có sự thực hành để đoạn trừ các bộc lưu ấy không?

Này hiền giả, có con đường, có sự thực hành để đoạn trừ các bộc lưu ấy.

Nhưng này hiền giả, con đường ấy là gì, sự thực hành ấy là gì để đoạn trừ các bộc lưu ấy?

Này hiền giả, chính con đường tám nhánh cao quý này để đoạn trừ các bộc lưu ấy, ấy là:

chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

Này hiền giả, ấy là con đường, ấy là sự thực hành để đoạn trừ các bộc lưu ấy.

Thật là tốt lành, này hiền giả, con đường ấy; thật là tốt lành, sự thực hành ấy để đoạn trừ các bộc lưu ấy.

Và như vậy, này Tôn giả Sāriputta, là đủ để không phóng dật."

Bài thứ mười một.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →