buppou

Tương Ưng Bộ · SN 39.13

Kinh Câu Hỏi Về Hữu

Bhavapañhāsutta — bài thứ mười ba

3 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ mười ba là bài ngắn và gọn nhất trong nhóm — và nó có một điều mà bài tương ứng bên SN 38 không có.

Này hiền giả, có ba hữu này: dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu.

Bhava — hữu, sự tồn tại. Và ba tầng ấy là ba cách cái tâm đang bận:

Kāmabhava — bận với các giác quan. Rūpabhava — bận với hình thức. Arūpabhava — bận với cái không có hình thức.

Ba tầng, cùng một sự bận. Và cái thứ ba là cái tinh tế nhất — một cái tâm đã buông dục và buông sắc, nhưng vẫn còn một chỗ để ở.

Đó là chỗ mà giáo lý này rất khắt khe: không có tầng nào là tầng cuối, trừ khi cái bận ấy chấm dứt hoàn toàn.

Và câu hỏi ở đây là liễu tri, không phải đoạn trừ — vì hữu không phải một lỗi. Nó là cái đang là. Hiểu nó, chứ không phải xóa nó.

Đó là một sự phân biệt mà người đọc dễ bỏ qua, và nó là chỗ mà nhiều người hiểu sai giáo lý: không phải mọi thứ trên đời đều cần bị bỏ. Có những thứ chỉ cần được hiểu đúng là gì.

Ba hữu, ba tầng bận, một sự hiểu.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sāmaṇḍaka (Sāmaṇḍakasaṃyutta), tương ưng thứ 39.

Phẩm Sāmaṇḍaka (Sāmaṇḍakavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Sāmaṇḍaka.

Kinh Câu Hỏi Về Hữu (Bhavapañhāsutta) — bài thứ mười ba.


"Hữu, hữu, này hiền giả Sāriputta, người ta nói như vậy.

Hữu ấy là gì, này hiền giả?

Này hiền giả, có ba hữu này.

Dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu —

này hiền giả, ấy là ba hữu.

Nhưng này hiền giả, có con đường, có sự thực hành để liễu tri các hữu ấy không?

Này hiền giả, có con đường, có sự thực hành để liễu tri các hữu ấy.

Nhưng này hiền giả, con đường ấy là gì, sự thực hành ấy là gì để liễu tri các hữu ấy?

Này hiền giả, chính con đường tám nhánh cao quý này để liễu tri các hữu ấy, ấy là:

chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

Này hiền giả, ấy là con đường, ấy là sự thực hành để liễu tri các hữu ấy.

Thật là tốt lành, này hiền giả, con đường ấy; thật là tốt lành, sự thực hành ấy để liễu tri các hữu ấy.

Và như vậy, này Tôn giả Sāriputta, là đủ để không phóng dật."

Bài thứ mười ba.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →