buppou

Tương Ưng Bộ · SN 39.12

Kinh Câu Hỏi Về Chấp Thủ

Upādānapañhāsutta — bài thứ mười hai

3 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ mười hai đưa vào bốn chấp thủ — và cái thứ ba là cái khó hiểu nhất cho người đọc hiện đại.

Này hiền giả, có bốn chấp thủ này: dục chấp thủ, kiến chấp thủ, giới cấm thủ, ngã luận chấp thủ.

Sīlabbatupādāna — giới cấm thủ. Và nó không phải giữ giới.

Nó là tin rằng giữ giới và làm lễ tự nó giải thoát, không cần cái hiểu.

Đó là một sự nhầm lẫn rất cụ thể, và nó là một cái chấp thủ — vì nó cũng là một chỗ để bám vào: bám vào việc mình đang làm đúng.

Và đây là chỗ mà bài kinh này khó: nó không nói "đừng giữ giới". Nó nói đừng lấy việc giữ giới làm cái để bám.

Giới là một phương tiện. Bám vào phương tiện là một chấp thủ. Và một người bám vào giới thì vẫn còn một cái tôi đang giữ giới — và cái tôi ấy là cái thứ tư: attavādupādāna, ngã luận chấp thủ.

Bốn loại nhiên liệu. Và cái cuối là cái gốc: ba cái kia là những chỗ cái tôi bám vào, cái này là sự bám vào chính cái tôi.

Đó là lý do bốn cái này được xếp chung: chúng là bốn cách mà cùng một cái lửa được nuôi.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sāmaṇḍaka (Sāmaṇḍakasaṃyutta), tương ưng thứ 39.

Phẩm Sāmaṇḍaka (Sāmaṇḍakavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Sāmaṇḍaka.

Kinh Câu Hỏi Về Chấp Thủ (Upādānapañhāsutta) — bài thứ mười hai.


"Chấp thủ, chấp thủ, này hiền giả Sāriputta, người ta nói như vậy.

Chấp thủ ấy là gì, này hiền giả?

Này hiền giả, có bốn chấp thủ này.

Dục chấp thủ, kiến chấp thủ, giới cấm thủ, ngã luận chấp thủ —

này hiền giả, ấy là bốn chấp thủ.

Nhưng này hiền giả, có con đường, có sự thực hành để đoạn trừ các chấp thủ ấy không?

Này hiền giả, có con đường, có sự thực hành để đoạn trừ các chấp thủ ấy.

Nhưng này hiền giả, con đường ấy là gì, sự thực hành ấy là gì để đoạn trừ các chấp thủ ấy?

Này hiền giả, chính con đường tám nhánh cao quý này để đoạn trừ các chấp thủ ấy, ấy là:

chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

Này hiền giả, ấy là con đường, ấy là sự thực hành để đoạn trừ các chấp thủ ấy.

Thật là tốt lành, này hiền giả, con đường ấy; thật là tốt lành, sự thực hành ấy để đoạn trừ các chấp thủ ấy.

Và như vậy, này Tôn giả Sāriputta, là đủ để không phóng dật."

Bài thứ mười hai.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →