Tương Ưng Bộ · SN 38.14
Kinh Câu Hỏi Về Khổ
Dukkhapañhāsutta — bài thứ mười bốn
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ mười bốn là bài cô đọng nhất của tương ưng — ba tính khổ trong hai dòng.
Này hiền giả, có ba tính khổ này: khổ do khổ, khổ do hành, khổ do biến đổi.
Dukkhatā — tính khổ, cái làm nên khổ.
Dukkhadukkhatā — khổ vì nó là khổ. Cái đau, tự nó là đau. Saṅkhāradukkhatā — khổ vì nó là hành. Cái bị làm ra, và vì bị làm ra nên nó đè. Vipariṇāmadukkhatā — khổ vì nó đổi thay. Cái đang vui, vì nó sẽ đổi, nên nó đã hàm chứa khổ.
Ba tầng, và chúng khó dần.
Tầng một thì ai cũng thấy. Đau là đau. Tầng hai thì cần một chút quán sát: cái gì bị làm ra thì nó đè lên. Không phải cái đau, mà là cái gánh của việc phải duy trì. Tầng ba thì khó nhất: cái đang vui cũng đã là khổ, vì nó không giữ được.
Và tầng thứ ba là tầng mà bài kinh này muốn nói tới — vì nếu chỉ có hai tầng đầu, thì khổ chỉ là chuyện của người bất hạnh.
Có tầng thứ ba thì khổ là chuyện của tất cả.
Đó là lý do nó đứng gần cuối tương ưng: sau khi đã liệt kê mọi thứ cần bỏ và cần hiểu, bài này nói rằng cái nền của tất cả những cái ấy là một cấu trúc, không phải một sự kiện.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Jambukhādaka (Jambukhādakasaṃyutta), tương ưng thứ 38.
Phẩm Jambukhādaka (Jambukhādakavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Jambukhādaka.
Kinh Câu Hỏi Về Khổ (Dukkhapañhāsutta) — bài thứ mười bốn.
"Khổ, khổ, này hiền giả Sāriputta, người ta nói như vậy.
Khổ ấy là gì, này hiền giả?
Này hiền giả, có ba tính khổ này.
Khổ do khổ, khổ do hành, khổ do biến đổi —
này hiền giả, ấy là ba tính khổ.
Nhưng này hiền giả, có con đường, có sự thực hành để liễu tri các tính khổ ấy không?
Này hiền giả, có con đường, có sự thực hành để liễu tri các tính khổ ấy.
Nhưng này hiền giả, con đường ấy là gì, sự thực hành ấy là gì để liễu tri các tính khổ ấy?
Này hiền giả, chính con đường tám nhánh cao quý này để liễu tri các tính khổ ấy, ấy là:
chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
Này hiền giả, ấy là con đường, ấy là sự thực hành để liễu tri các tính khổ ấy.
Thật là tốt lành, này hiền giả, con đường ấy; thật là tốt lành, sự thực hành ấy để liễu tri các tính khổ ấy.
Và như vậy, này Tôn giả Sāriputta, là đủ để không phóng dật."
Bài thứ mười bốn.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.