buppou

Tương Ưng Bộ · SN 40.7

Kinh Câu Hỏi Về Vô Sở Hữu Xứ

Ākiñcaññāyatanapañhāsutta — bài thứ bảy

3 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ bảy có một định nghĩa chỉ hai dòng — và nó là định nghĩa ngắn nhất của tương ưng.

Ở đây một tỳ-kheo, sau khi vượt qua hoàn toàn thức vô biên xứ, chứng và trú vô sở hữu xứ — với ý niệm "không có gì cả".

"Không có gì cả" — natthi kiñci. Ba chữ, và đó là toàn bộ tầng bảy.

Đó là một trong những chỗ mà ngôn ngữ Pali gọn đến mức khó tin: một tầng thiền được mô tả bằng ba chữ, và ba chữ ấy là một phủ định.

Và cái chen vào là thức vô biên xứ — tầng vừa bỏ.

Đọc bài này cạnh bài trước, ta thấy một cấu trúc rất đẹp: tầng sáu nói "thức là vô biên", tầng bảy nói "không có gì cả".

Hai câu ấy đứng cạnh nhau, và câu thứ hai không phủ định câu thứ nhất. Nó đi xa hơn: khi không còn gì, thì ngay cả "vô biên" cũng không còn là một chỗ để đứng.

Đó là lý do tầng bảy được gọi là "vô sở hữu" — không có gì là của mình, kể cả cái không có gì.

Và cái chen vào vẫn là tầng trước. Luôn luôn.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Moggallāna (Moggallānasaṃyutta), tương ưng thứ 40.

Phẩm Moggallāna (Moggallānavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Moggallāna.

Kinh Câu Hỏi Về Vô Sở Hữu Xứ (Ākiñcaññāyatanapañhāsutta) — bài thứ bảy.


"Vô sở hữu xứ, vô sở hữu xứ, này các hiền giả, người ta nói như vậy.

Vô sở hữu xứ ấy là gì, này các hiền giả?

Rồi, này các hiền giả, tôi suy nghĩ như sau:

ở đây một tỳ-kheo, sau khi vượt qua hoàn toàn thức vô biên xứ, chứng và trú vô sở hữu xứ — với ý niệm không có gì cả.

Ấy được gọi là vô sở hữu xứ.

Và này các hiền giả, chính tôi sau khi vượt qua hoàn toàn thức vô biên xứ, chứng và trú vô sở hữu xứ — với ý niệm không có gì cả.

Và này các hiền giả, khi tôi trú trong sự trú ấy, các tưởng và tác ý đi kèm với thức vô biên xứ khởi lên và chi phối.

Rồi, này các hiền giả, Đức Thế Tôn dùng thần thông đi đến chỗ tôi và nói như sau:

Moggallāna, Moggallāna.

Này Bà-la-môn, chớ phóng dật về vô sở hữu xứ. Hãy an trú tâm vào vô sở hữu xứ, hãy nhất tâm vào vô sở hữu xứ, hãy định tâm vào vô sở hữu xứ.

Và này các hiền giả, về sau, chính tôi sau khi vượt qua hoàn toàn thức vô biên xứ, chứng và trú vô sở hữu xứ — với ý niệm không có gì cả.

Và này các hiền giả, nếu có ai nói đúng mà nói về tôi: Vị đệ tử đã được bậc Đạo sư trợ giúp, đã đạt được đại thần thông — thì người ấy nói đúng về tôi: Vị đệ tử đã được bậc Đạo sư trợ giúp, đã đạt được đại thần thông."

Bài thứ bảy.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →