buppou

Tương Ưng Bộ · SN 40.6

Kinh Câu Hỏi Về Thức Vô Biên Xứ

Viññāṇañcāyatanapañhāsutta — bài thứ sáu

3 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ sáu là bài mà tôi muốn đọc kèm với một bài khác — vì nó là chỗ mà hai bộ kinh gặp nhau.

Ở đây một tỳ-kheo, sau khi vượt qua hoàn toàn không vô biên xứ, chứng và trú thức vô biên xứ — với ý niệm "thức là vô biên".

Thức vô biên xứ. Và ý niệm là "thức là vô biên".

Đó là một bước rất lạ về mặt lập luận: tầng trước bỏ cái có hình để còn hư không. Tầng này bỏ hư không để còn cái biết.

Và cái biết ấy được gọi là vô biên.

Đó là chỗ mà Phật giáo đặt một ranh giới rất rõ: cái biết không phải cái được biết. Khi hư không mất, cái biết vẫn còn — và nó không có bờ.

Và cái chen vào ở tầng này là không vô biên xứ — tầng vừa bỏ.

Đọc bảng chen vào từ đây trở đi, ta thấy một quy luật tuyệt đối: từ tầng năm trở lên, cái chen vào luôn là tên của tầng trước. Không phải một cảm giác, mà là một cái tên.

Đó là một sự tinh tế mà chỉ bảng ấy mới cho thấy: ở các tầng cao, cái còn lại không phải một ham muốn, mà là một ký ức về chỗ vừa rời.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Moggallāna (Moggallānasaṃyutta), tương ưng thứ 40.

Phẩm Moggallāna (Moggallānavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Moggallāna.

Kinh Câu Hỏi Về Thức Vô Biên Xứ (Viññāṇañcāyatanapañhāsutta) — bài thứ sáu.


"Thức vô biên xứ, thức vô biên xứ, này các hiền giả, người ta nói như vậy.

Thức vô biên xứ ấy là gì, này các hiền giả?

Rồi, này các hiền giả, tôi suy nghĩ như sau:

ở đây một tỳ-kheo, sau khi vượt qua hoàn toàn không vô biên xứ, chứng và trú thức vô biên xứ — với ý niệm thức là vô biên.

Ấy được gọi là thức vô biên xứ.

Và này các hiền giả, chính tôi sau khi vượt qua hoàn toàn không vô biên xứ, chứng và trú thức vô biên xứ — với ý niệm thức là vô biên.

Và này các hiền giả, khi tôi trú trong sự trú ấy, các tưởng và tác ý đi kèm với không vô biên xứ khởi lên và chi phối.

Rồi, này các hiền giả, Đức Thế Tôn dùng thần thông đi đến chỗ tôi và nói như sau:

Moggallāna, Moggallāna.

Này Bà-la-môn, chớ phóng dật về thức vô biên xứ. Hãy an trú tâm vào thức vô biên xứ, hãy nhất tâm vào thức vô biên xứ, hãy định tâm vào thức vô biên xứ.

Và này các hiền giả, về sau, chính tôi sau khi vượt qua hoàn toàn không vô biên xứ, chứng và trú thức vô biên xứ — với ý niệm thức là vô biên.

Và này các hiền giả, nếu có ai nói đúng mà nói về tôi: Vị đệ tử đã được bậc Đạo sư trợ giúp, đã đạt được đại thần thông — thì người ấy nói đúng về tôi: Vị đệ tử đã được bậc Đạo sư trợ giúp, đã đạt được đại thần thông."

Bài thứ sáu.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →