Tương Ưng Bộ · SN 56.25
Kinh Diệt Tận Lậu Hoặc
Āsavakkhayasutta — bài kinh về sự chấm dứt các lậu hoặc
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Diệt Tận Lậu Hoặc (Āsavakkhayasutta) là một câu chặn cửa rất sớm trong tương ưng: "Ta nói rằng các lậu hoặc chỉ chấm dứt nơi người biết và thấy — không phải nơi người không biết, không thấy."
Câu này chống lại một hiểu lầm quen thuộc: rằng tu là làm cho tâm trống ra, rằng cứ ngồi lâu, cứ kiêng cữ nhiều, thì các lậu hoặc tự khô. Kinh nói không. Chúng chấm dứt do biết và thấy — một hành động của trí, không phải của ý chí.
Rồi Ngài nói rõ biết cái gì, thấy cái gì: bốn sự thật. Cũng bốn câu ấy, lần thứ bao nhiêu trong tương ưng này.
Bài chỉ có bốn đoạn, và đoạn cuối lặp lại đoạn đầu bằng một cách nói khác. Có lẽ vì đây là một câu để nhớ, không phải một bài giảng để hiểu.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Tứ Đế (Saccasaṃyutta), tương ưng thứ 56.
Phẩm Làng Koṭi (Koṭigāmavagga) — phẩm thứ ba của Tương Ưng Tứ Đế.
Kinh Diệt Tận Lậu Hoặc (Āsavakkhayasutta) — bài thứ năm.
"Này các tỳ-kheo, Ta nói rằng các lậu hoặc chỉ chấm dứt nơi người biết và thấy, không phải nơi người không biết và không thấy.
Này các tỳ-kheo, biết và thấy điều gì thì các lậu hoặc chấm dứt?
Này các tỳ-kheo, biết và thấy: "Đây là khổ" thì các lậu hoặc chấm dứt; biết và thấy: "Đây là nguồn gốc của khổ" thì các lậu hoặc chấm dứt; biết và thấy: "Đây là sự chấm dứt của khổ" thì các lậu hoặc chấm dứt; biết và thấy: "Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của khổ" thì các lậu hoặc chấm dứt.
Này các tỳ-kheo, biết như vậy, thấy như vậy thì các lậu hoặc chấm dứt.
Vậy nên, này các tỳ-kheo, hãy nỗ lực để biết như thật: "Đây là khổ"; hãy nỗ lực để biết như thật: "Đây là nguồn gốc của khổ"; hãy nỗ lực để biết như thật: "Đây là sự chấm dứt của khổ"; hãy nỗ lực để biết như thật: "Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của khổ"."
Kinh Diệt Tận Lậu Hoặc, bài thứ năm, đến đây là hết.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.