Tương Ưng Bộ · SN 49.15
Kinh Đỉnh Mái Nhà
Kūṭāgārasutta — bài thứ mười lăm
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài này thuộc phẩm Không Dễ Duôi — mười bài, mỗi bài mở bằng một hình ảnh so sánh rồi khép lại bằng cùng một câu về sự không dễ duôi.
Này các tỳ-kheo, trong một ngôi nhà có nóc nhọn, các cây rui đều hướng về đỉnh, đều hội tụ về đỉnh — đỉnh là chỗ cao nhất trong các cây rui ấy.
Bốn câu định nghĩa trong bài này dài gần như nhau, và mỗi câu có bốn động từ nối tiếp: khởi lên ước muốn, nỗ lực, khởi lên tinh tấn, quyết tâm, cố gắng. Sự trùng lặp ấy không phải để cho đủ chữ; nó mô tả một sự cố gắng có nhiều lớp.
Ví dụ ở đây là ngôi nhà có nóc nhọn: mọi cây rui đều hướng về đỉnh, đều hội tụ về đỉnh. Đỉnh không phải một cây rui khác; nó là chỗ mà mọi cây rui gặp nhau.
Kinh không giải thích hình ảnh ấy. Nó để hình ảnh tự làm việc của mình.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Chánh Cần (Sammappadhānasaṃyutta), tương ưng thứ 49.
Phẩm Thứ Hai (Appamādavagga) — phẩm thứ hai của Tương Ưng Chánh Cần.
Kinh Đỉnh Mái Nhà (Kūṭāgārasutta) — bài thứ mười lăm.
"Tại Sāvatthī.
Này các tỳ-kheo, trong một ngôi nhà có nóc nhọn, các cây rui đều hướng về đỉnh, đều hội tụ về đỉnh — đỉnh là chỗ cao nhất trong các cây rui ấy.
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, mọi pháp thiện đều lấy không dễ duôi làm gốc, đều hội tụ về không dễ duôi; không dễ duôi được gọi là bậc tối thượng trong các pháp ấy.
Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo không dễ duôi thì có thể chờ đợi điều này: sẽ tu tập bốn chánh cần, sẽ làm cho chúng sung mãn.
Và này các tỳ-kheo, thế nào là vị tỳ-kheo không dễ duôi tu tập bốn chánh cần, làm cho chúng sung mãn?
Này các tỳ-kheo, ở đây vị tỳ-kheo khởi lên ước muốn, nỗ lực, khởi lên tinh tấn, quyết tâm, cố gắng — để cho các pháp ác, bất thiện chưa sinh không sinh khởi.
Vị ấy khởi lên ước muốn, nỗ lực, khởi lên tinh tấn, quyết tâm, cố gắng — để đoạn trừ các pháp ác, bất thiện đã sinh.
Vị ấy khởi lên ước muốn, nỗ lực, khởi lên tinh tấn, quyết tâm, cố gắng — để cho các pháp thiện chưa sinh được sinh khởi.
Vị ấy khởi lên ước muốn, nỗ lực, khởi lên tinh tấn, quyết tâm, cố gắng — để cho các pháp thiện đã sinh được an trú, không quên, tăng trưởng, sung mãn, được tu tập, đi đến viên mãn.
Như vậy, này các tỳ-kheo, là vị tỳ-kheo không dễ duôi tu tập bốn chánh cần, làm cho chúng sung mãn."
Bài thứ mười lăm.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.