Tương Ưng Bộ · SN 12.36
Kinh Do Vô Minh Làm Duyên (2)
Dutiyaavijjāpaccayasutta — bài thứ sáu
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Do Vô Minh Làm Duyên (2) (Dutiyaavijjāpaccayasutta) là bài trước, không có người hỏi.
Bài 12.35 mở bằng một tỳ-kheo giơ tay: "già chết là gì, và già chết ấy là của ai?" — rồi Đức Thế Tôn từ chối câu hỏi ấy, và cả bài là một cuộc đối đáp.
Bài này không có ai hỏi. Đức Thế Tôn nói thẳng:
Này các tỳ-kheo, nếu ai nói "già chết là gì, và già chết ấy là của ai?" — hay nếu ai nói "già chết là một cái, còn cái có già chết là một cái khác" — thì cả hai cách nói ấy đều cùng một nghĩa, chỉ khác chữ.
Cùng từng chữ. Cùng hai cực. Cùng trung đạo. Nhưng lần này không có câu hỏi nào để bác.
Và đó là chỗ đáng chú ý: khi lấy câu hỏi ra khỏi bài kinh, câu trả lời trở nên lạnh hơn, rõ hơn, và khó lảng tránh hơn. Người ta không còn đứng về phía người hỏi. Người ta chỉ còn nghe.
Phần thứ hai của bài cũng thế — bài trước lặp bốn lần khối "câu hỏi không hợp chỗ", bài này gom lại thành hai khối, và khối thứ hai kéo cả mười một mắt xích qua cùng một khuôn:
"sinh là gì, và sinh ấy là của ai"; "hữu là gì, và hữu ấy là của ai"; "thủ là gì, và thủ ấy là của ai"; "ái là gì, và ái ấy là của ai"; "thọ là gì, và thọ ấy là của ai"; "xúc là gì, và xúc ấy là của ai"; "sáu xứ là gì, và sáu xứ ấy là của ai"; "danh sắc là gì, và danh sắc ấy là của ai"; "thức là gì, và thức ấy là của ai"; "hành là gì, và hành ấy là của ai".
Rồi câu kết, cũng y nguyên:
tất cả những cái ấy đều bị đoạn tận, bị nhổ gốc, bị làm cho như cây thốt nốt bị chặt ngọn, không còn sinh khởi trong tương lai.
Đọc liền hai bài, người ta thấy rõ điều mà đọc một bài không thấy: giáo pháp này không cần người hỏi để đứng vững. Nó đứng một mình.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Nhân Duyên (Nidānasaṃyutta), tương ưng thứ 12.
Phẩm Kaḷāra Khattiya (Kaḷārakhattiyavagga) — phẩm thứ bốn của Tương Ưng Nhân Duyên.
Kinh Do Vô Minh Làm Duyên (2) (Dutiyaavijjāpaccayasutta) — bài thứ sáu.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī.
"Này các tỳ-kheo, do vô minh làm duyên nên có hành;
do hành làm duyên nên có thức; do thức làm duyên nên có danh sắc; do danh sắc làm duyên nên có sáu xứ; do sáu xứ làm duyên nên có xúc; do xúc làm duyên nên có thọ; do thọ làm duyên nên có ái; do ái làm duyên nên có thủ; do thủ làm duyên nên có hữu; do hữu làm duyên nên có sinh; do sinh làm duyên nên có già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
Như vậy là sự sinh khởi của toàn bộ khối khổ này.
Này các tỳ-kheo, nếu ai nói 'già chết là gì, và già chết ấy là của ai?' — hay nếu ai nói 'già chết là một cái, còn cái có già chết là một cái khác' — thì cả hai cách nói ấy đều cùng một nghĩa, chỉ khác chữ.
Này các tỳ-kheo, nếu có quan điểm 'linh hồn là thân xác' thì không có đời sống phạm hạnh.
Này các tỳ-kheo, nếu có quan điểm 'linh hồn là một cái, thân xác là một cái khác' thì cũng không có đời sống phạm hạnh.
Này các tỳ-kheo, không đi đến cả hai cực ấy, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo:
'Do sinh làm duyên nên có già chết'.
Sinh là gì, và sinh ấy là của ai?
Hữu là gì, và hữu ấy là của ai?
Thủ là gì, và thủ ấy là của ai?
Ái là gì, và ái ấy là của ai?
Thọ là gì, và thọ ấy là của ai?
Xúc là gì, và xúc ấy là của ai?
Sáu xứ là gì, và sáu xứ ấy là của ai?
Danh sắc là gì, và danh sắc ấy là của ai?
Thức là gì, và thức ấy là của ai?
Này các tỳ-kheo, nếu ai nói 'hành là gì, và hành ấy là của ai?' — hay nếu ai nói 'hành là một cái, còn cái có hành là một cái khác' — thì cả hai cách nói ấy đều cùng một nghĩa, chỉ khác chữ.
Này các tỳ-kheo, nếu có quan điểm 'linh hồn là thân xác' thì không có đời sống phạm hạnh.
Này các tỳ-kheo, nếu có quan điểm 'linh hồn là một cái, thân xác là một cái khác' thì cũng không có đời sống phạm hạnh.
Này các tỳ-kheo, không đi đến cả hai cực ấy, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo:
'Do vô minh làm duyên nên có hành'.
Này các tỳ-kheo, do vô minh ly tham và chấm dứt không còn dư tàn, nên những gì thuộc về xiên vẹo, quanh co, vùng vẫy ấy —
'già chết là gì, và già chết ấy là của ai', 'già chết là một cái, còn cái có già chết là một cái khác', 'linh hồn là thân xác', 'linh hồn là một cái, thân xác là một cái khác' —
tất cả những cái ấy đều bị đoạn tận, bị nhổ gốc, bị làm cho như cây thốt nốt bị chặt ngọn, bị làm cho không còn hiện hữu, không còn sinh khởi trong tương lai.
Này các tỳ-kheo, do vô minh ly tham và chấm dứt không còn dư tàn, nên những gì thuộc về xiên vẹo, quanh co, vùng vẫy ấy:
'sinh là gì, và sinh ấy là của ai';
'hữu là gì, và hữu ấy là của ai';
'thủ là gì, và thủ ấy là của ai';
'ái là gì, và ái ấy là của ai';
'thọ là gì, và thọ ấy là của ai';
'xúc là gì, và xúc ấy là của ai';
'sáu xứ là gì, và sáu xứ ấy là của ai';
'danh sắc là gì, và danh sắc ấy là của ai';
'thức là gì, và thức ấy là của ai';
'hành là gì, và hành ấy là của ai', 'hành là một cái, còn cái có hành là một cái khác'; 'linh hồn là thân xác', 'linh hồn là một cái, thân xác là một cái khác' —
tất cả những cái ấy đều bị đoạn tận, bị nhổ gốc, bị làm cho như cây thốt nốt bị chặt ngọn, bị làm cho không còn hiện hữu, không còn sinh khởi trong tương lai."
Kinh Do Vô Minh Làm Duyên (2), bài thứ sáu, đến đây là hết.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.