buppou

Tương Ưng Bộ · SN 35.180

Kinh Dục Nơi Khổ Ngoại Xứ

Bāhiradukkhachandādisutta — bài thứ mười ba

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ mười bốn mở khối khổ ở ngoại xứ.

Này các tỳ-kheo, cái gì là khổ thì ở đó dục của các vị cần được buông bỏ, tham cần được buông bỏ, dục tham cần được buông bỏ.

Rồi sáu cảnh: các sắc, các tiếng, các mùi, các vị, các vật chạm, các pháp — đều là khổ.

Có một điều nên nói ở đây về chữ khổ.

Trong tiếng Việt, khổ gần như đồng nghĩa với đau. Nhưng dukkha trong kinh Pali rộng hơn rất nhiều: nó gồm cả đau (dukkha-dukkhatā), cả cái bị biến đổi (vipariṇāma-dukkhatā), và cả cái bị điều kiện hóa (saṅkhāra-dukkhatā).

Ba nghĩa ấy không được nói ra ở đây. Nhưng chúng là lý do vì sao một cái tiếng cũng có thể được gọi là khổ — không phải vì nó làm ta đau, mà vì nó không giữ được.

Và đó là chỗ mà bài này khó nghe: cái đẹp cũng là khổ, không phải vì nó xấu, mà vì nó sẽ khác.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.

Phẩm Sáu Mươi Phép Lặp (Saṭṭhipeyyālavagga) — phẩm thứ mười bảy của Tương Ưng Sáu Xứ.

Kinh Dục Nơi Khổ Ngoại Xứ (Bāhiradukkhachandādisutta) — bài thứ mười ba.


"Cái gì là khổ, này các tỳ-kheo, thì ở đó dục của các vị cần được buông bỏ.

Và cái gì là khổ?

Các sắc là khổ; ở đó dục của các vị cần được buông bỏ.

Các tiếng là khổ; ở đó dục của các vị cần được buông bỏ.

Các mùi là khổ; ở đó dục của các vị cần được buông bỏ.

Các vị là khổ; ở đó dục của các vị cần được buông bỏ.

Các vật chạm là khổ; ở đó dục của các vị cần được buông bỏ.

Các pháp là khổ; ở đó dục của các vị cần được buông bỏ.

Cái gì là khổ, này các tỳ-kheo, thì ở đó dục của các vị cần được buông bỏ."

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →