Tương Ưng Bộ · SN 35.181
Kinh Tham Nơi Khổ Ngoại Xứ
Bāhiradukkhachandādisutta — bài thứ mười bốn
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ mười lăm là bài thứ hai của khối khổ ngoại xứ, và nó giữ nguyên câu.
Này các tỳ-kheo, cái gì là khổ thì ở đó dục, tham, dục tham của các vị cần được buông bỏ.
Rồi sáu cảnh, rồi câu kết.
Có một chi tiết về trật tự trong danh sách sáu cảnh đáng ghi: sắc, tiếng, mùi, vị, vật chạm, pháp.
Trật tự ấy không theo trật tự của sáu cửa (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) — nó đi theo trật tự ấy, nhưng ở phía đối tượng.
Nghĩa là: cái gì được mắt biết thì đứng đầu; cái gì được ý biết thì đứng cuối.
Đó là một trật tự không theo mức độ quan trọng, cũng không theo bảng chữ cái. Nó theo cửa.
Và sự nhất quán ấy — sáu cảnh luôn xuất hiện đúng thứ tự ấy, trong mọi bài, trong mọi bộ kinh — là một trong những dấu hiệu mạnh nhất cho thấy các bản kinh này được truyền miệng có kiểm soát.
Một danh sách sáu mục có thể bị đảo. Danh sách này không bị đảo, trong hàng trăm bài. Đó không phải may mắn.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.
Phẩm Sáu Mươi Phép Lặp (Saṭṭhipeyyālavagga) — phẩm thứ mười bảy của Tương Ưng Sáu Xứ.
Kinh Tham Nơi Khổ Ngoại Xứ (Bāhiradukkhachandādisutta) — bài thứ mười bốn.
"Cái gì là khổ, này các tỳ-kheo, thì ở đó tham của các vị cần được buông bỏ.
Và cái gì là khổ?
Các sắc là khổ; ở đó tham của các vị cần được buông bỏ.
Các tiếng là khổ; ở đó tham của các vị cần được buông bỏ.
Các mùi là khổ; ở đó tham của các vị cần được buông bỏ.
Các vị là khổ; ở đó tham của các vị cần được buông bỏ.
Các vật chạm là khổ; ở đó tham của các vị cần được buông bỏ.
Các pháp là khổ; ở đó tham của các vị cần được buông bỏ.
Cái gì là khổ, này các tỳ-kheo, thì ở đó tham của các vị cần được buông bỏ."
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.