Tương Ưng Bộ · SN 35.182
Kinh Dục Tham Nơi Khổ Ngoại Xứ
Bāhiradukkhachandādisutta — bài thứ mười lăm
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ mười sáu đóng khối khổ ngoại xứ.
Này các tỳ-kheo, cái gì là khổ thì ở đó dục, tham, dục tham của các vị cần được buông bỏ.
Mười sáu bài đã qua. Mười sáu bài còn gần như y hệt nhau, và đó là chỗ mà một người đọc trung thực phải nói: phẩm này khó đọc.
Nhưng có một cách đọc làm nó dễ hơn hẳn, và tôi muốn đề nghị nó.
Thay vì đọc từng bài, hãy đọc từng trục.
Trục thứ nhất: tính chất — vô thường, khổ, vô ngã. Ba cái ấy chiếm bài 168–185, tức mười tám bài.
Trục thứ hai: thời gian — quá khứ, vị lai, hiện tại. Ba cái ấy chiếm bài 186–203.
Trục thứ ba: suy luận — vô thường → khổ → vô ngã. Cái ấy chiếm bài 204–221.
Và sáu bài cuối (222–227) là bản rút gọn của cả ba trục.
Đọc theo trục, sáu mươi bài rút lại thành một trang. Và đó có lẽ là cách người xưa đọc nó.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.
Phẩm Sáu Mươi Phép Lặp (Saṭṭhipeyyālavagga) — phẩm thứ mười bảy của Tương Ưng Sáu Xứ.
Kinh Dục Tham Nơi Khổ Ngoại Xứ (Bāhiradukkhachandādisutta) — bài thứ mười lăm.
"Cái gì là khổ, này các tỳ-kheo, thì ở đó dục tham của các vị cần được buông bỏ.
Và cái gì là khổ?
Các sắc là khổ; ở đó dục tham của các vị cần được buông bỏ.
Các tiếng là khổ; ở đó dục tham của các vị cần được buông bỏ.
Các mùi là khổ; ở đó dục tham của các vị cần được buông bỏ.
Các vị là khổ; ở đó dục tham của các vị cần được buông bỏ.
Các vật chạm là khổ; ở đó dục tham của các vị cần được buông bỏ.
Các pháp là khổ; ở đó dục tham của các vị cần được buông bỏ.
Cái gì là khổ, này các tỳ-kheo, thì ở đó dục tham của các vị cần được buông bỏ."
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.