Tương Ưng Bộ · SN 35.183
Kinh Dục Nơi Vô Ngã Ngoại Xứ
Bāhirānattachandādisutta — bài thứ mười sáu
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ mười bảy mở khối vô ngã ở ngoại xứ, và nó là khối cuối của phần "tính chất".
Này các tỳ-kheo, cái gì là vô ngã thì ở đó dục, tham, dục tham của các vị cần được buông bỏ.
Rồi sáu cảnh: các sắc là vô ngã, các tiếng là vô ngã, cho tới các pháp là vô ngã.
Đến đây, có một câu hỏi mà phẩm này không trả lời, và nó đáng để nêu: vô ngã của một cái tiếng nghĩa là gì?
Một cái tiếng không có tự ngã — điều ấy nghe hiển nhiên tới mức vô nghĩa. Dĩ nhiên tiếng không phải "tôi".
Nhưng câu ấy có nghĩa nếu hiểu attā không phải "linh hồn" mà là "cái thuộc về mình, cái mình làm chủ".
Một cái tiếng không phải của tôi: tôi không quyết định nó vang hay không, to hay nhỏ, dễ chịu hay không.
Và đó là chỗ vô ngã trở nên rất cụ thể: nó không phải một học thuyết về linh hồn. Nó là một nhận xét về quyền sở hữu.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.
Phẩm Sáu Mươi Phép Lặp (Saṭṭhipeyyālavagga) — phẩm thứ mười bảy của Tương Ưng Sáu Xứ.
Kinh Dục Nơi Vô Ngã Ngoại Xứ (Bāhirānattachandādisutta) — bài thứ mười sáu.
"Cái gì là vô ngã, này các tỳ-kheo, thì ở đó dục của các vị cần được buông bỏ.
Và cái gì là vô ngã?
Các sắc là vô ngã; ở đó dục của các vị cần được buông bỏ.
Các tiếng là vô ngã; ở đó dục của các vị cần được buông bỏ.
Các mùi là vô ngã; ở đó dục của các vị cần được buông bỏ.
Các vị là vô ngã; ở đó dục của các vị cần được buông bỏ.
Các vật chạm là vô ngã; ở đó dục của các vị cần được buông bỏ.
Các pháp là vô ngã; ở đó dục của các vị cần được buông bỏ.
Cái gì là vô ngã, này các tỳ-kheo, thì ở đó dục của các vị cần được buông bỏ."
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.