Tương Ưng Bộ · SN 35.171
Kinh Dục Nơi Khổ Nội Xứ
Dukkhachandādisutta — bài thứ bốn
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ tư đổi đối tượng của công thức, và khối bài bắt đầu.
Từ bài 168 tới 170, cái được buông là dục, tham, dục tham nơi cái vô thường. Từ bài 171, cái được buông là dục, tham, dục tham nơi cái khổ.
Này các tỳ-kheo, cái gì là khổ thì ở đó dục của các vị cần được buông bỏ.
Và có một chi tiết mà bài này chia sẻ với hai bài sau: cả ba đều dạy ba chữ cùng lúc.
Cái gì là khổ thì ở đó dục cần được buông bỏ, tham cần được buông bỏ, dục tham cần được buông bỏ.
Đó là một cách nói gộp cả ba trong một câu, và nó khác với ba bài trước — ở đó mỗi bài chỉ nói một chữ.
Nghĩa là khối 171–185 không lặp lại cấu trúc 168–170. Nó đi nhanh hơn: ba chữ, một câu.
Lý do có lẽ rất thực dụng: người biên tập đã dựng khuôn ở ba bài đầu, và ba bài sau chỉ cần nhắc.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.
Phẩm Sáu Mươi Phép Lặp (Saṭṭhipeyyālavagga) — phẩm thứ mười bảy của Tương Ưng Sáu Xứ.
Kinh Dục Nơi Khổ Nội Xứ (Dukkhachandādisutta) — bài thứ bốn.
"Cái gì là khổ, này các tỳ-kheo, thì ở đó dục của các vị cần được buông bỏ.
Và cái gì là khổ?
Con mắt là khổ; các sắc là khổ; nhãn thức là khổ; nhãn xúc là khổ; và cảm thọ — lạc, khổ hay không khổ không lạc — sinh khởi do duyên nhãn xúc, cái ấy cũng là khổ.
Ở đó dục của các vị cần được buông bỏ. Cũng vậy với cái tai, cái mũi, cái lưỡi và cái thân, cùng các tiếng, mùi, vị, vật chạm, và thức, xúc, thọ của chúng.
Cái lưỡi là khổ; các vị là khổ; thiệt thức là khổ; thiệt xúc là khổ; và cảm thọ — lạc, khổ hay không khổ không lạc — sinh khởi do duyên thiệt xúc, cái ấy cũng là khổ.
Ở đó dục của các vị cần được buông bỏ.
Ý là khổ; các pháp là khổ; ý thức là khổ; ý xúc là khổ; và cảm thọ — lạc, khổ hay không khổ không lạc — sinh khởi do duyên ý xúc, cái ấy cũng là khổ.
Ở đó dục của các vị cần được buông bỏ.
Cái gì là khổ, này các tỳ-kheo, thì ở đó dục của các vị cần được buông bỏ."
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.