Tương Ưng Bộ · SN 46.3
Kinh Giới
Sīlasutta — bài thứ ba
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Mười bài đầu tiên của tương ưng, phần còn nhẹ và còn nhiều chuyện kể.
Nghe và đến gần những vị tỳ-kheo có giới hạnh là điều có lợi lớn cho người đang tu.
Nếu đọc nhanh, bài này có vẻ trống. Đọc chậm thì thấy nó đang dạy một cách nhìn.
Bài này tên là Kinh Giới. Đây là bài thứ ba trong một trăm tám mươi bốn bài của tương ưng, nằm ở Phẩm Núi.
Cái đáng chú ý ở đây không phải nội dung mà là chỗ nội dung ấy được lặp lại.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Giác Chi (Bojjhaṅgasaṃyutta), tương ưng thứ 46.
Phẩm Núi (Pabbatavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Giác Chi.
Kinh Giới (Sīlasutta) — bài thứ ba.
"Này các tỳ-kheo, những tỳ-kheo nào thành tựu giới, thành tựu định, thành tựu trí, thành tựu giải thoát, thành tựu tri kiến giải thoát — này các tỳ-kheo, ta nói rằng sự gặp gỡ những tỳ-kheo ấy có lợi ích lớn;
ta nói rằng sự được nghe những tỳ-kheo ấy có lợi ích lớn;
ta nói rằng sự đến gần những tỳ-kheo ấy có lợi ích lớn;
ta nói rằng sự hầu hạ những tỳ-kheo ấy có lợi ích lớn;
ta nói rằng sự nhớ tưởng những tỳ-kheo ấy có lợi ích lớn;
ta nói rằng sự theo gót những tỳ-kheo ấy có lợi ích lớn.
Vì sao vậy?
Này các tỳ-kheo, sau khi nghe pháp từ những tỳ-kheo như vậy, vị ấy an trú đã xa lìa hai phần — xa lìa về thân và xa lìa về tâm.
Vị ấy an trú đã xa lìa như vậy, rồi nhớ lại và suy tầm pháp ấy.
Này các tỳ-kheo, khi vị tỳ-kheo an trú đã xa lìa như vậy và nhớ lại, suy tầm pháp ấy, thì lúc ấy niệm giác chi đã được khởi sự nơi vị tỳ-kheo;
lúc ấy vị tỳ-kheo tu tập niệm giác chi;
lúc ấy niệm giác chi đi đến chỗ trọn vẹn của sự tu tập nơi vị tỳ-kheo.
Vị ấy an trú với niệm như vậy, rồi dùng tuệ phân biện, xem xét, thẩm sát pháp ấy.
Này các tỳ-kheo, khi vị tỳ-kheo an trú với niệm như vậy và dùng tuệ phân biện, xem xét, thẩm sát pháp ấy, thì lúc ấy trạch pháp giác chi đã được khởi sự nơi vị tỳ-kheo;
lúc ấy vị tỳ-kheo tu tập trạch pháp giác chi;
lúc ấy trạch pháp giác chi đi đến chỗ trọn vẹn của sự tu tập nơi vị tỳ-kheo.
Khi vị ấy dùng tuệ phân biện, xem xét, thẩm sát pháp ấy, thì tinh tấn được khởi lên nơi vị ấy, không rút lại.
Này các tỳ-kheo, khi vị tỳ-kheo dùng tuệ phân biện, xem xét, thẩm sát pháp ấy và tinh tấn được khởi lên, không rút lại, thì lúc ấy tinh tấn giác chi đã được khởi sự nơi vị tỳ-kheo; lúc ấy vị tỳ-kheo tu tập tinh tấn giác chi; lúc ấy tinh tấn giác chi đi đến chỗ trọn vẹn của sự tu tập nơi vị tỳ-kheo.
Nơi vị đã khởi lên tinh tấn, hỷ không liên hệ vật chất sinh khởi.
Này các tỳ-kheo, khi hỷ không liên hệ vật chất sinh khởi nơi vị tỳ-kheo đã khởi lên tinh tấn, thì lúc ấy hỷ giác chi đã được khởi sự nơi vị tỳ-kheo; lúc ấy vị tỳ-kheo tu tập hỷ giác chi; lúc ấy hỷ giác chi đi đến chỗ trọn vẹn của sự tu tập nơi vị tỳ-kheo.
Với tâm đã có hỷ, thân cũng khinh an, tâm cũng khinh an.
Này các tỳ-kheo, khi với tâm đã có hỷ, thân cũng khinh an và tâm cũng khinh an nơi vị tỳ-kheo, thì lúc ấy khinh an giác chi đã được khởi sự nơi vị tỳ-kheo; lúc ấy vị tỳ-kheo tu tập khinh an giác chi; lúc ấy khinh an giác chi đi đến chỗ trọn vẹn của sự tu tập nơi vị tỳ-kheo.
Với thân đã khinh an, vị ấy có lạc; tâm của vị có lạc thì định lại.
Này các tỳ-kheo, khi tâm của vị tỳ-kheo có thân đã khinh an và có lạc thì định lại, lúc ấy định giác chi đã được khởi sự nơi vị tỳ-kheo; lúc ấy vị tỳ-kheo tu tập định giác chi; lúc ấy định giác chi đi đến chỗ trọn vẹn của sự tu tập nơi vị tỳ-kheo.
Vị ấy khéo nhìn tâm đã định như vậy với xả.
Này các tỳ-kheo, khi vị tỳ-kheo khéo nhìn tâm đã định như vậy với xả, thì lúc ấy xả giác chi đã được khởi sự nơi vị tỳ-kheo; lúc ấy vị tỳ-kheo tu tập xả giác chi; lúc ấy xả giác chi đi đến chỗ trọn vẹn của sự tu tập nơi vị tỳ-kheo.
Này các tỳ-kheo, khi bảy giác chi được tu tập như vậy, được thực hành nhiều như vậy, thì có thể chờ đợi bảy quả, bảy lợi ích.
Bảy quả, bảy lợi ích ấy là gì?
Ngay trong đời này, vị ấy đạt được thắng tri ngay tức thì.
Nếu ngay trong đời này không đạt được thắng tri ngay tức thì, thì vào lúc chết, vị ấy đạt được thắng tri.
Nếu ngay trong đời này không đạt được thắng tri ngay tức thì, và vào lúc chết cũng không đạt được thắng tri, thì do tận diệt năm hạ phần kiết sử, vị ấy nhập niết-bàn giữa chừng.
Nếu chưa đạt được như vậy mà chưa nhập niết-bàn giữa chừng, thì do tận diệt năm hạ phần kiết sử, vị ấy nhập niết-bàn sau khi đã tái sinh.
Nếu chưa đạt được như vậy mà chưa nhập niết-bàn sau khi đã tái sinh, thì do tận diệt năm hạ phần kiết sử, vị ấy nhập niết-bàn không cần cố gắng.
Nếu chưa đạt được như vậy mà chưa nhập niết-bàn không cần cố gắng, thì do tận diệt năm hạ phần kiết sử, vị ấy nhập niết-bàn có cố gắng.
Nếu chưa đạt được như vậy mà chưa nhập niết-bàn có cố gắng, thì do tận diệt năm hạ phần kiết sử, vị ấy đi ngược dòng lên, đến cõi Akaniṭṭha.
Này các tỳ-kheo, khi bảy giác chi được tu tập như vậy, được thực hành nhiều như vậy, thì có thể chờ đợi bảy quả, bảy lợi ích ấy."
Bài thứ ba.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.