buppou

Tương Ưng Bộ · SN 46.4

Kinh Y Phục

Vatthasutta — bài thứ bốn

3 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Phẩm mở đầu của Tương Ưng Giác Chi, mười bài, mỗi bài một hình ảnh khác nhau cho cùng một bộ bảy pháp.

Tôn giả Sāriputta chỉ ra rằng giới là nền, và bảy giác chi mọc lên từ nền ấy.

Cái được nhấn mạnh không phải là kết quả, mà là thứ tự: cái gì có trước, cái gì có sau.

Bài này tên là Kinh Y Phục. Đây là bài thứ bốn trong một trăm tám mươi bốn bài của tương ưng, nằm ở Phẩm Núi.

Bài này nói ít, nhưng nói đúng chỗ.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Giác Chi (Bojjhaṅgasaṃyutta), tương ưng thứ 46.

Phẩm Núi (Pabbatavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Giác Chi.

Kinh Y Phục (Vatthasutta) — bài thứ bốn.


"Một thuở nọ, Tôn giả Sāriputta trú tại Sāvatthī, trong vườn Kỳ đà, khu vườn của ông Cấp Cô Độc.

Tại đó, Tôn giả Sāriputta gọi các tỳ-kheo:

Này các hiền giả tỳ-kheo.

Thưa vâng, hiền giả, các tỳ-kheo ấy đáp lại Tôn giả Sāriputta.

Tôn giả Sāriputta nói:

Này các hiền giả, có bảy giác chi.

Bảy ấy là gì?

niệm giác chi, trạch pháp giác chi, tinh tấn giác chi, hỷ giác chi, khinh an giác chi, định giác chi, xả giác chi —

đó là bảy giác chi, này các hiền giả.

Này các hiền giả, với giác chi nào ta muốn an trú buổi sáng, thì ta an trú buổi sáng với giác chi ấy;

với giác chi nào ta muốn an trú buổi trưa, thì ta an trú buổi trưa với giác chi ấy;

với giác chi nào ta muốn an trú buổi chiều, thì ta an trú buổi chiều với giác chi ấy.

Này các hiền giả, nếu niệm giác chi có mặt nơi ta, thì ta biết nó là vô lượng, ta biết nó là khéo khởi sự; và khi nó đang đứng, ta biết nó đang đứng.

Nếu nó rời khỏi ta, ta biết nó rời khỏi vì nguyên nhân này.

Này các hiền giả, nếu xả giác chi có mặt nơi ta, thì ta biết nó là vô lượng, ta biết nó là khéo khởi sự; và khi nó đang đứng, ta biết nó đang đứng.

Nếu nó rời khỏi ta, ta biết nó rời khỏi vì nguyên nhân này.

Ví như, này các hiền giả, một vị vua hay một đại thần của vua có một hòm áo đầy những tấm vải đủ màu;

vị ấy muốn mặc cặp áo nào vào buổi sáng, thì mặc đúng cặp áo ấy vào buổi sáng;

muốn mặc cặp áo nào vào buổi trưa, thì mặc đúng cặp áo ấy vào buổi trưa;

muốn mặc cặp áo nào vào buổi chiều, thì mặc đúng cặp áo ấy vào buổi chiều.

cũng vậy, này các hiền giả, với giác chi nào ta muốn an trú buổi sáng, thì ta an trú buổi sáng với giác chi ấy;

với giác chi nào ta muốn an trú buổi trưa, thì ta an trú buổi trưa với giác chi ấy;

với giác chi nào ta muốn an trú buổi chiều, thì ta an trú buổi chiều với giác chi ấy.

Này các hiền giả, nếu niệm giác chi có mặt nơi ta, thì ta biết nó là vô lượng, ta biết nó là khéo khởi sự; và khi nó đang đứng, ta biết nó đang đứng.

Nếu nó rời khỏi ta, ta biết nó rời khỏi vì nguyên nhân này.

Này các hiền giả, nếu xả giác chi có mặt nơi ta, thì ta biết nó là vô lượng, ta biết nó là khéo khởi sự; và khi nó đang đứng, ta biết nó đang đứng.

Nếu nó rời khỏi ta, ta biết nó rời khỏi vì nguyên nhân này."

Bài thứ bốn.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →