buppou

Tương Ưng Bộ · SN 46.5

Kinh Vị Tỳ-kheo

Bhikkhusutta — bài thứ năm

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Mười bài đầu tiên của tương ưng, phần còn nhẹ và còn nhiều chuyện kể.

Một vị tỳ-kheo hỏi thẳng: cho đến mức nào thì được gọi là giác chi?

Điều đáng để ý là cách bài kinh giữ nguyên một khuôn và chỉ thay đổi một chỗ nhỏ — chỗ nhỏ ấy là toàn bộ nội dung.

Bài này tên là Kinh Vị Tỳ-kheo. Đây là bài thứ năm trong một trăm tám mươi bốn bài của tương ưng, nằm ở Phẩm Núi.

Đây là một trong những bài có thể đọc lại nhiều lần mà vẫn còn chỗ để dừng.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Giác Chi (Bojjhaṅgasaṃyutta), tương ưng thứ 46.

Phẩm Núi (Pabbatavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Giác Chi.

Kinh Vị Tỳ-kheo (Bhikkhusutta) — bài thứ năm.


"Tại Sāvatthī.

Rồi một tỳ-kheo nọ đến chỗ Đức Thế Tôn; đến nơi, đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, vị tỳ-kheo ấy thưa với Đức Thế Tôn:

Bạch Đức Thế Tôn, người ta nói giác chi, giác chi.

Bạch Đức Thế Tôn, cho đến mức nào thì được gọi là giác chi?

Này tỳ-kheo, vì chúng đưa đến sự giác ngộ, cho nên chúng được gọi là giác chi.

Ở đây, này tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập niệm giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ;

tu tập trạch pháp giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ;

Đối với vị ấy đang tu tập bảy giác chi như vậy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu.

Khi đã giải thoát, khởi lên trí biết rằng đã được giải thoát.

Vị ấy biết rõ: sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa.

Này tỳ-kheo, vì chúng đưa đến sự giác ngộ, cho nên chúng được gọi là giác chi."

Bài thứ năm.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →