buppou

Tương Ưng Bộ · SN 32.2

Kinh Hành Thiện

Sucaritasutta — bài thứ hai

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ hai bỏ chuyện chia nhóm, chuyển sang chuyện con người: vì sao một người sinh vào hàng ngũ chư thiên loài mây?

Bạch Đức Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, mà một số người, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào hàng ngũ chư thiên thuộc loài mây?

Câu trả lời giống Tương Ưng Càn-thát-bà: người ấy làm điều tốt đẹp trọn vẹn bằng thân, bằng lời, bằng ý. Không phải làm điều hai chiều như ở Tương Ưng Rồng và Tương Ưng Garuḍa.

Rồi nghe nói chư thiên ấy sống lâu, có dung sắc, nhiều an lạc. Rồi mong được sinh vào đó. Rồi được sinh vào đó.

Không có vật bố thí nào ở bài này. Bố thí xuất hiện từ bài thứ ba trở đi.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Mây (Valāhakasaṃyutta), tương ưng thứ 32.

Phẩm Mây (Valāhakavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Mây.

Kinh Hành Thiện (Sucaritasutta) — bài thứ hai.


"Tại Sāvatthī.

Ngồi một bên, vị tỳ-kheo ấy bạch Đức Thế Tôn:

Bạch Đức Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, mà một số người, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào hàng ngũ chư thiên thuộc loài mây?

Này tỳ-kheo, ở đây, một số người làm điều tốt đẹp bằng thân, bằng lời, bằng ý.

Người ấy nghe nói:

Chư thiên thuộc loài mây sống lâu, có dung sắc, nhiều an lạc.

Người ấy nghĩ như vầy:

Mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta được sinh vào hàng ngũ chư thiên thuộc loài mây.

Sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sinh vào hàng ngũ chư thiên thuộc loài mây.

Này tỳ-kheo, đó là nhân, đó là duyên, mà một số người, sau khi thân hoại mạng chung, sinh vào hàng ngũ chư thiên thuộc loài mây."

Bài thứ hai.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →