Tương Ưng Bộ · SN 49.18
Kinh Hương Hoa
Vassikasutta — bài thứ mười tám
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Đây là cách kinh hay dùng để nói về một pháp nền: đặt nó cạnh những thứ lớn nhất trong từng loại, rồi nói nó cũng đứng đầu như vậy.
Này các tỳ-kheo, trong các hương hoa, hương của hoa nhài được gọi là bậc tối thượng — hương của nó được gọi là bậc tối thượng trong các hương hoa.
Bốn việc này không thể làm cùng lúc. Chặn cái chưa đến là việc của người đang đứng yên; buông cái đã đến là việc của người đang bị cuốn. Kinh xếp chúng cạnh nhau, nhưng đời sống thì xếp chúng theo thứ tự khác.
Ví dụ ở đây là hương hoa: trong các hương hoa, hương của hoa nhài là bậc tối thượng. Đây là ví dụ duy nhất trong loạt này nói về một thứ mỏng và ngắn — một bông hoa.
Bài này khép lại bằng đúng câu mà mọi bài trước đã nói. Không có gì mới, và đó là chủ ý.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Chánh Cần (Sammappadhānasaṃyutta), tương ưng thứ 49.
Phẩm Thứ Hai (Appamādavagga) — phẩm thứ hai của Tương Ưng Chánh Cần.
Kinh Hương Hoa (Vassikasutta) — bài thứ mười tám.
"Tại Sāvatthī.
Này các tỳ-kheo, trong các hương hoa, hương của hoa nhài được gọi là bậc tối thượng — hương của nó được gọi là bậc tối thượng trong các hương hoa.
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, mọi pháp thiện đều lấy không dễ duôi làm gốc, đều hội tụ về không dễ duôi; không dễ duôi được gọi là bậc tối thượng trong các pháp ấy.
Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo không dễ duôi thì có thể chờ đợi điều này: sẽ tu tập bốn chánh cần, sẽ làm cho chúng sung mãn.
Và này các tỳ-kheo, thế nào là vị tỳ-kheo không dễ duôi tu tập bốn chánh cần, làm cho chúng sung mãn?
Này các tỳ-kheo, ở đây vị tỳ-kheo khởi lên ước muốn, nỗ lực, khởi lên tinh tấn, quyết tâm, cố gắng — để cho các pháp ác, bất thiện chưa sinh không sinh khởi.
Vị ấy khởi lên ước muốn, nỗ lực, khởi lên tinh tấn, quyết tâm, cố gắng — để đoạn trừ các pháp ác, bất thiện đã sinh.
Vị ấy khởi lên ước muốn, nỗ lực, khởi lên tinh tấn, quyết tâm, cố gắng — để cho các pháp thiện chưa sinh được sinh khởi.
Vị ấy khởi lên ước muốn, nỗ lực, khởi lên tinh tấn, quyết tâm, cố gắng — để cho các pháp thiện đã sinh được an trú, không quên, tăng trưởng, sung mãn, được tu tập, đi đến viên mãn.
Như vậy, này các tỳ-kheo, là vị tỳ-kheo không dễ duôi tu tập bốn chánh cần, làm cho chúng sung mãn."
Bài thứ mười tám.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.