buppou

Tương Ưng Bộ · SN 50.39

Kinh Khổ Tánh

Dukkhatāsutta — bài thứ ba mươi chín

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài này thuộc phẩm Tầm Cầu — mười bài, mỗi bài nêu một nhóm pháp rồi nói rằng để hiểu rõ, thấu hiểu trọn vẹn, tận diệt và đoạn trừ nhóm pháp ấy, năm lực cần được tu tập.

Này các tỳ-kheo, có ba khổ tánh này.

Cấu trúc của mỗi bài là ba lớp: một hình ảnh, một câu áp dụng, và năm khoa tu tập. Ba lớp ấy không giải thích lẫn nhau; chúng đứng cạnh nhau, và người đọc phải tự nối.

Ba khổ tánh là: khổ khổ tánh, hành khổ tánh, hoại khổ tánh. Đây là cách phân loại khổ theo nguồn gốc: khổ vì đau, khổ vì bị làm, khổ vì đổi thay.

Đến đây thì hình ảnh đã làm xong phần việc của nó, và phần còn lại thuộc về người đọc.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Lực (Balasaṃyutta), tương ưng thứ 50.

Phẩm Thứ Tư (Esanāvagga) — phẩm thứ tư của Tương Ưng Lực.

Kinh Khổ Tánh (Dukkhatāsutta) — bài thứ ba mươi chín.


"Tại Sāvatthī.

Này các tỳ-kheo, có ba khổ tánh này.

Ba ấy là gì?

Khổ khổ tánh, hành khổ tánh, hoại khổ tánh —

đó là ba khổ tánh.

Để hiểu rõ, thấu hiểu trọn vẹn, tận diệt và đoạn trừ ba khổ tánh ấy, năm lực cần được tu tập.

Năm ấy là gì?

Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập tín lực — nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ,

Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập tấn lực — nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ,

Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập niệm lực — nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ,

Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập định lực — nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ,

Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập tuệ lực — nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ.

Để hiểu rõ, thấu hiểu trọn vẹn, tận diệt và đoạn trừ ba khổ tánh ấy, năm lực này cần được tu tập."

Bài thứ ba mươi chín.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →