buppou

Tương Ưng Bộ · SN 22.120

Kinh Kiết Sử

Saṁyojaniyasutta — bài thứ tám

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Trói Buộc (Saṁyojaniyasutta) — cùng tên với bài 117 nhưng khác hẳn — đưa ra một phân biệt rất gọn:

Này các tỳ-kheo, ta sẽ dạy các ông về những thứ làm phát sinh kiết sử, và về chính kiết sử. Sắc là thứ làm phát sinh kiết sử. Lòng tham muốn đối với nó là kiết sử. Thọ... tưởng... các hành... thức là thứ làm phát sinh kiết sử. Lòng tham muốn đối với nó là kiết sử.

Phân biệt ấy quan trọng: năm uẩn không phải là kiết sử, năm uẩn là chỗ kiết sử phát sinh. Và kiết sử là lòng tham muốn — không phải bản thân cái mình tham.

Điều này cùng một mạch với bài 4.4 trước đó (thủ không phải là uẩn, chính lòng tham muốn là thủ). Cả bộ Tương Ưng Uẩn lặp đi lặp lại một điểm: cái bị trói không phải cái cột, mà là sợi dây.

Và tin tốt nằm đúng ở đó: sợi dây thì cắt được, không cần phá cái cột.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Uẩn (Khandhasaṃyutta), tương ưng thứ 22.

Phẩm Người Thuyết Pháp (Dhammakathikavagga) — phẩm thứ bảy của Tương Ưng Uẩn.

Kinh Kiết Sử (Saṁyojaniyasutta) — bài thứ tám.


Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī.

"Này các tỳ-kheo, ta sẽ dạy các ông về những thứ làm phát sinh kiết sử, và về chính kiết sử.

Hãy nghe cho kỹ.

"Và này các tỳ-kheo, thế nào là những thứ làm phát sinh kiết sử, và thế nào là kiết sử?

Sắc là một thứ làm phát sinh kiết sử.

Lòng tham muốn đối với sắc là kiết sử.

Thọ là một thứ làm phát sinh kiết sử. Lòng tham muốn đối với thọ là kiết sử.

Tưởng là một thứ làm phát sinh kiết sử. Lòng tham muốn đối với tưởng là kiết sử.

Các hành là những thứ làm phát sinh kiết sử. Lòng tham muốn đối với các hành là kiết sử.

Thức là một thứ làm phát sinh kiết sử.

Lòng tham muốn đối với thức là kiết sử.

Đó được gọi là những thứ làm phát sinh kiết sử, và đó là kiết sử."

Kinh Trói Buộc, bài thứ tám, đến đây là hết.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →