buppou

Tương Ưng Bộ · SN 22.121

Kinh Chỗ Nương Của Chấp Thủ

Upādāniyasutta — bài thứ chín

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Chỗ Nương Của Chấp Thủ (Upādāniyasutta) là bài anh em sinh đôi với bài 120, chỉ đổi một chữ: kiết sử → chấp thủ.

Năm uẩn là những thứ làm chỗ nương cho chấp thủ. Lòng tham muốn đối với chúng là chấp thủ.

Hai bài cạnh nhau vẽ nên hai sợi dây khác nhau của cùng một cái cột: kiết sử là cái trói mình vào vòng sinh tử; chấp thủ là cái nắm lấy ngay trong đời này. Nhưng cả hai đều không phải là uẩn, mà là lòng tham muốn đối với uẩn.

Đây là chỗ nhiều người hiểu sai cả đời: tưởng rằng phải bỏ năm uẩn mới giải thoát. Không — chỉ bỏ lòng tham đối với chúng. Năm uẩn vẫn đang là mình, chỉ là không còn bị nắm.

Và cái nắm ấy, khi nhìn kỹ, không nắm được gì cả — vì cái bị nắm đang đổi từng sát-na.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Uẩn (Khandhasaṃyutta), tương ưng thứ 22.

Phẩm Người Thuyết Pháp (Dhammakathikavagga) — phẩm thứ bảy của Tương Ưng Uẩn.

Kinh Chỗ Nương Của Chấp Thủ (Upādāniyasutta) — bài thứ chín.


Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī.

"Này các tỳ-kheo, ta sẽ dạy các ông về những thứ làm chỗ nương cho chấp thủ, và về chấp thủ.

Hãy nghe cho kỹ.

"Và này các tỳ-kheo, thế nào là những thứ làm chỗ nương cho chấp thủ, và thế nào là chấp thủ?

Sắc là một thứ làm chỗ nương cho chấp thủ.

Lòng tham muốn đối với sắc là chấp thủ.

Thọ là một thứ làm chỗ nương cho chấp thủ. Lòng tham muốn đối với thọ là chấp thủ.

Tưởng là một thứ làm chỗ nương cho chấp thủ. Lòng tham muốn đối với tưởng là chấp thủ.

Các hành là những thứ làm chỗ nương cho chấp thủ. Lòng tham muốn đối với các hành là chấp thủ.

Thức là một thứ làm chỗ nương cho chấp thủ.

Lòng tham muốn đối với thức là chấp thủ.

Đó được gọi là những thứ làm chỗ nương cho chấp thủ, và đó là chấp thủ."

Kinh Chỗ Nương Của Chấp Thủ, bài thứ chín, đến đây là hết.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →