buppou

Tương Ưng Bộ · SN 22.122

Kinh Người Có Giới

Sīlavantasutta — bài thứ mười

4 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Người Có Giới (Sīlavantasutta) mở ra một trong những cuộc đối thoại hay nhất của Tương Ưng Uẩn: Xá-lợi-phất và Mahākoṭṭhita, hai vị đại đệ tử, hỏi nhau về chuyện tu.

Câu hỏi của Mahākoṭṭhita: "Người có giới nên quán sát gì một cách hợp lý?" Câu trả lời của Xá-lợi-phất: năm thủ uẩn — quán là vô thường, khổ, bệnh, ung nhọt, mũi tên, buồn rầu, hoạn nạn, xa lạ, tan rã, trống rỗng, vô ngã.

Rồi câu hỏi lặp lại cho bậc nhập lưu, bậc nhất lai, bậc bất lai, và bậc a-la-hán — và câu trả lời không đổi. Tất cả đều quán cùng một phép quán ấy.

Rồi câu kết của Xá-lợi-phất về bậc a-la-hán, và đây là câu làm nên bài này:

Bậc a-la-hán không còn gì để làm, không còn gì cần tu thêm. Nhưng những pháp ấy, khi được tu tập và làm cho sung mãn, vẫn đưa đến an trú lạc ngay trong đời này, và đến chánh niệm và tỉnh giác.

Nghĩa là: phép quán không phải là phương tiện để tới đích; nó là chỗ ở. Người đã tới đích vẫn tiếp tục quán — không phải để tới, mà để ở.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Uẩn (Khandhasaṃyutta), tương ưng thứ 22.

Phẩm Người Thuyết Pháp (Dhammakathikavagga) — phẩm thứ bảy của Tương Ưng Uẩn.

Kinh Người Có Giới (Sīlavantasutta) — bài thứ mười.


Một thuở nọ, Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Mahākoṭṭhita trú tại Bārāṇasī, trong Vườn Nai, tại Isipatana.

Rồi vào buổi chiều, Tôn giả Mahākoṭṭhita ra khỏi thiền định, đi đến chỗ Tôn giả Sāriputta, chào hỏi thăm sức khỏe, ngồi xuống một bên và nói:

"Này hiền giả Sāriputta, người có giới nên quán sát những pháp nào một cách hợp lý?"

"Này hiền giả Koṭṭhita, người có giới nên quán sát năm thủ uẩn này một cách hợp lý.

Năm ấy là gì?

Đó là thủ uẩn sắc, thủ uẩn thọ, thủ uẩn tưởng, thủ uẩn các hành, thủ uẩn thức.

Người có giới nên quán sát năm thủ uẩn này là vô thường, là khổ, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là buồn rầu, là hoạn nạn, là xa lạ, là tan rã, là trống rỗng, là vô ngã.

Có thể xảy ra, này hiền giả, rằng người có giới quán sát năm thủ uẩn ấy một cách hợp lý sẽ chứng được quả nhập lưu."

"Nhưng này hiền giả Sāriputta, vị tỳ-kheo đã chứng quả nhập lưu nên quán sát những pháp nào một cách hợp lý?"

"Này hiền giả Koṭṭhita, vị tỳ-kheo đã chứng quả nhập lưu cũng nên quán sát chính năm thủ uẩn ấy là vô thường, là khổ, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là buồn rầu, là hoạn nạn, là xa lạ, là tan rã, là trống rỗng, là vô ngã.

Có thể xảy ra, này hiền giả, rằng vị tỳ-kheo đã chứng quả nhập lưu quán sát năm thủ uẩn ấy một cách hợp lý sẽ chứng được quả nhất lai."

"Nhưng này hiền giả Sāriputta, vị tỳ-kheo đã chứng quả nhất lai nên quán sát những pháp nào một cách hợp lý?"

"Này hiền giả Koṭṭhita, vị tỳ-kheo đã chứng quả nhất lai cũng nên quán sát chính năm thủ uẩn ấy là vô thường, là khổ, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là buồn rầu, là hoạn nạn, là xa lạ, là tan rã, là trống rỗng, là vô ngã.

Có thể xảy ra, này hiền giả, rằng vị tỳ-kheo đã chứng quả nhất lai quán sát năm thủ uẩn ấy một cách hợp lý sẽ chứng được quả bất lai."

"Nhưng này hiền giả Sāriputta, vị tỳ-kheo đã chứng quả bất lai nên quán sát những pháp nào một cách hợp lý?"

"Này hiền giả Koṭṭhita, vị tỳ-kheo đã chứng quả bất lai cũng nên quán sát chính năm thủ uẩn ấy là vô thường, là khổ, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là buồn rầu, là hoạn nạn, là xa lạ, là tan rã, là trống rỗng, là vô ngã.

Có thể xảy ra, này hiền giả, rằng vị tỳ-kheo đã chứng quả bất lai quán sát năm thủ uẩn ấy một cách hợp lý sẽ chứng được quả a-la-hán."

"Nhưng này hiền giả Sāriputta, bậc a-la-hán nên quán sát những pháp nào một cách hợp lý?"

"Này hiền giả Koṭṭhita, bậc a-la-hán cũng nên quán sát chính năm thủ uẩn ấy là vô thường, là khổ, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên, là buồn rầu, là hoạn nạn, là xa lạ, là tan rã, là trống rỗng, là vô ngã.

Bậc a-la-hán không còn gì để làm, không còn gì cần tu thêm.

Nhưng những pháp ấy, khi được tu tập và làm cho sung mãn, vẫn đưa đến an trú lạc ngay trong đời này, và đến chánh niệm và tỉnh giác."

Kinh Người Có Giới, bài thứ mười, đến đây là hết.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →