Tương Ưng Bộ · SN 34.6
Kinh Lấy Định Làm Nền — Phạm Vi
Samādhimūlakagocarasutta — bài thứ sáu
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài này vẫn thuộc nhóm Lấy Định Làm Nền, so với phạm vi (gocara).
Này các tỳ-kheo, trong số ấy, người hành thiền nào, trong định, khéo về định và cũng khéo về phạm vi — người ấy đứng đầu, tối thắng, giải thoát, cao thượng, thù thắng nhất trong bốn hạng người hành thiền.
Hai thứ được đem ra so ở đây là định (samādhi) — định — trạng thái tâm dừng lại trên một đối tượng — và phạm vi (gocara) — phạm vi — vùng mà tâm được phép đi trong khi hành thiền.
Chữ kusala ở đây không có nghĩa đạo đức. Nó có nghĩa khéo, như khéo một nghề. Bộ kinh đang nói về tay nghề của người hành thiền.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Thiền (Jhānasaṃyutta), tương ưng thứ 34.
Phẩm Thiền (Jhānavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Thiền.
Kinh Lấy Định Làm Nền — Phạm Vi (Samādhimūlakagocarasutta) — bài thứ sáu.
"Tại Sāvatthī.
Này các tỳ-kheo, có bốn hạng người hành thiền.
Bốn hạng ấy là gì?
Này các tỳ-kheo, ở đây, một số người hành thiền, trong định, khéo về định nhưng không khéo về phạm vi.
Này các tỳ-kheo, ở đây, lại một số người hành thiền, trong định, khéo về phạm vi nhưng không khéo về định.
Này các tỳ-kheo, ở đây, lại một số người hành thiền, trong định, không khéo về định và cũng không khéo về phạm vi.
Này các tỳ-kheo, ở đây, lại một số người hành thiền, trong định, khéo về định và cũng khéo về phạm vi.
Này các tỳ-kheo, trong số ấy, người hành thiền nào, trong định, khéo về định và cũng khéo về phạm vi — người ấy đứng đầu, tối thắng, giải thoát, cao thượng, thù thắng nhất trong bốn hạng người hành thiền.
Này các tỳ-kheo, ví như từ con bò có sữa, từ sữa có sữa chua, từ sữa chua có bơ tươi, từ bơ tươi có bơ lỏng, từ bơ lỏng có tinh chất bơ — trong số ấy, tinh chất bơ được gọi là tối thắng;
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, người hành thiền nào, trong định, khéo về định và cũng khéo về phạm vi — người ấy đứng đầu, tối thắng, giải thoát, cao thượng, thù thắng nhất trong bốn hạng người hành thiền."
Bài thứ sáu.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.