buppou

Tương Ưng Bộ · SN 49.20

Kinh Mặt Trăng

Candimāsutta — bài thứ hai mươi

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Đây là cách kinh hay dùng để nói về một pháp nền: đặt nó cạnh những thứ lớn nhất trong từng loại, rồi nói nó cũng đứng đầu như vậy.

Này các tỳ-kheo, trong các ánh sáng, ánh sáng mặt trăng được gọi là bậc tối thượng trong các ánh sáng ấy.

Đọc nhiều bài trong tương ưng này liền nhau, người ta thấy một điều: phần lớn các bài không nói thêm gì mới. Chúng lặp lại cùng bốn câu ấy, chỉ đổi hình ảnh mở đầu. Và sự lặp lại ấy có lẽ là cách tốt nhất để nhớ một việc đơn giản.

Ví dụ ở đây là mặt trăng: trong mọi ánh sáng, ánh sáng mặt trăng là bậc tối thượng. Mặt trăng không tự chiếu; nó chỉ phản chiếu — và kinh không nói gì về điều ấy.

Kinh dừng ở chỗ mà phần lớn người ta sẽ muốn hỏi thêm. Đó là chỗ dừng có chủ ý.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Chánh Cần (Sammappadhānasaṃyutta), tương ưng thứ 49.

Phẩm Thứ Hai (Appamādavagga) — phẩm thứ hai của Tương Ưng Chánh Cần.

Kinh Mặt Trăng (Candimāsutta) — bài thứ hai mươi.


"Tại Sāvatthī.

Này các tỳ-kheo, trong các ánh sáng, ánh sáng mặt trăng được gọi là bậc tối thượng trong các ánh sáng ấy.

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, mọi pháp thiện đều lấy không dễ duôi làm gốc, đều hội tụ về không dễ duôi; không dễ duôi được gọi là bậc tối thượng trong các pháp ấy.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo không dễ duôi thì có thể chờ đợi điều này: sẽ tu tập bốn chánh cần, sẽ làm cho chúng sung mãn.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là vị tỳ-kheo không dễ duôi tu tập bốn chánh cần, làm cho chúng sung mãn?

Này các tỳ-kheo, ở đây vị tỳ-kheo khởi lên ước muốn, nỗ lực, khởi lên tinh tấn, quyết tâm, cố gắng — để cho các pháp ác, bất thiện chưa sinh không sinh khởi.

Vị ấy khởi lên ước muốn, nỗ lực, khởi lên tinh tấn, quyết tâm, cố gắng — để đoạn trừ các pháp ác, bất thiện đã sinh.

Vị ấy khởi lên ước muốn, nỗ lực, khởi lên tinh tấn, quyết tâm, cố gắng — để cho các pháp thiện chưa sinh được sinh khởi.

Vị ấy khởi lên ước muốn, nỗ lực, khởi lên tinh tấn, quyết tâm, cố gắng — để cho các pháp thiện đã sinh được an trú, không quên, tăng trưởng, sung mãn, được tu tập, đi đến viên mãn.

Như vậy, này các tỳ-kheo, là vị tỳ-kheo không dễ duôi tu tập bốn chánh cần, làm cho chúng sung mãn."

Bài thứ hai mươi.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →