Tương Ưng Bộ · SN 47.25
Kinh Một Bà-la-môn
Aññatarabrāhmaṇasutta — bài thứ hai mươi lăm
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Một Bà-la-môn (Aññatarabrāhmaṇasutta) là bản "ngoài đạo" của Kinh Tồn Tại Lâu Dài (47.22).
Cùng một câu hỏi — vì sao chánh pháp có lúc mất, có lúc còn — nhưng người hỏi không phải Tôn giả Bhadda, mà là một bà-la-môn chưa từng nghe Pháp. Ông ta xưng hô theo lối riêng: "bho gotama" — "này ông Gotama"; và Đức Thế Tôn cũng trả lời riêng theo lối ấy: "này bà-la-môn".
Nội dung câu trả lời giống hệt bài 47.22: bốn chỗ quán niệm không được tu thì pháp mất, được tu thì pháp còn.
Còn đoạn kết thì khác hẳn. Vị bà-la-môn nghe xong, không hỏi thêm, không tranh luận — ông nói một câu mà nhiều người trong kinh nói, và luôn nói rất gọn:
"Thật là hay, này ông Gotama! Thật là hay!… Xin ông Gotama nhận con làm cận sự nam, từ hôm nay cho đến trọn đời, con xin quy y."
Bài này là một trong những chỗ cho thấy giáo pháp không chỉ dành cho người xuất gia hay người đã quen: cùng một câu trả lời, đưa cho một người chưa quen, và người ấy hiểu.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Niệm Xứ (Satipaṭṭhānasaṃyutta), tương ưng thứ 47.
Phẩm Giới Trú (Sīlaṭṭhitivagga) — phẩm thứ ba của Tương Ưng Niệm Xứ.
Kinh Một Bà-la-môn (Aññatarabrāhmaṇasutta) — bài thứ hai mươi lăm.
Tôi nghe như vầy —
một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú ở Sāvatthī, trong rừng Jeta, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika.
Rồi một bà-la-môn nọ đến chỗ Đức Thế Tôn; đến rồi, chào hỏi Đức Thế Tôn.
Sau khi chào hỏi, trò chuyện thân mật, vị bà-la-môn ấy ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, vị bà-la-môn ấy nói với Đức Thế Tôn:
"Này ông Gotama, do nhân gì, do duyên gì mà khi Như Lai đã diệt độ, chánh pháp không tồn tại lâu dài?
Và này ông Gotama, do nhân gì, do duyên gì mà khi Như Lai đã diệt độ, chánh pháp tồn tại lâu dài?"
"Này bà-la-môn, vì bốn chỗ quán niệm không được tu, không được làm cho sung mãn, nên khi Như Lai đã diệt độ, chánh pháp không tồn tại lâu dài.
Và này bà-la-môn, vì bốn chỗ quán niệm được tu, được làm cho sung mãn, nên khi Như Lai đã diệt độ, chánh pháp tồn tại lâu dài.
Bốn ấy là gì?
Ở đây, này bà-la-môn, vị tỳ-kheo trú quán thân nơi thân — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời;
trú quán thọ nơi các thọ — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời;
trú quán tâm nơi tâm — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời;
trú quán pháp nơi các pháp — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời.
Này bà-la-môn, vì bốn chỗ quán niệm này không được tu, không được làm cho sung mãn, nên khi Như Lai đã diệt độ, chánh pháp không tồn tại lâu dài.
Và vì bốn chỗ quán niệm này được tu, được làm cho sung mãn, nên khi Như Lai đã diệt độ, chánh pháp tồn tại lâu dài."
Được nói vậy, vị bà-la-môn ấy nói với Đức Thế Tôn:
"Thật là hay, này ông Gotama! Thật là hay, này ông Gotama! Ví như người dựng lại cái bị úp, mở ra cái bị đậy, chỉ đường cho người lạc, đưa đèn vào chỗ tối để ai có mắt thì thấy hình — cũng vậy, này ông Gotama, giáo pháp đã được ông Gotama dạy bằng nhiều cách.
Xin ông Gotama nhận con làm cận sự nam, từ hôm nay cho đến trọn đời, con xin quy y."
Kinh Một Bà-la-môn, bài thứ hai mươi lăm, đến đây là hết.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.