buppou

Tương Ưng Bộ · SN 45.88

Kinh Một Pháp (II): Thành Tựu Kiến II

Dutiyadiṭṭhisampadāsutta — bài thứ tám mươi tám

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Một Pháp (II): Thành Tựu Kiến II (Dutiyadiṭṭhisampadāsutta) là một bài trong phẩm Một Pháp (II) — cùng khuôn với cả phẩm: không thấy một pháp nào khác khiến con đường chưa sinh thì sinh, đã sinh thì chín đầy, ngoài sự thành tựu kiến.

Kiến: cái nhìn đúng được dùng để gỡ, không phải để giữ.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Đạo (Maggasaṃyutta), tương ưng thứ 45.

Phẩm Một Pháp (II) (Dutiyaekadhammapeyyālavagga) — phẩm thứ tám của Tương Ưng Đạo.

Kinh Một Pháp (II): Thành Tựu Kiến II (Dutiyadiṭṭhisampadāsutta) — bài thứ tám mươi tám.


"Này các tỳ-kheo, ta không thấy một pháp nào khác — khiến cho con đường tám nhánh cao quý chưa sinh khởi thì sinh khởi, đã sinh khởi thì đi đến đầy đủ trong tu tập — ngoài sự thành tựu kiến.

Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã sự thành tựu kiến thì có thể chờ đợi điều này: sẽ tu con đường tám nhánh cao quý, sẽ làm cho nó sung mãn.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là vị tỳ-kheo đã sự thành tựu kiến tu con đường tám nhánh cao quý, làm cho nó sung mãn?

Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu chánh kiến — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si, tu chánh tư duy — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si, tu chánh ngữ — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si, tu chánh nghiệp — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si, tu chánh mạng — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si, tu chánh tinh tấn — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si, tu chánh niệm — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si, tu chánh định — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si.

Như vậy, này các tỳ-kheo, là vị tỳ-kheo đã sự thành tựu kiến tu con đường tám nhánh cao quý, làm cho nó sung mãn."

Kinh Một Pháp (II): Thành Tựu Kiến II, bài thứ tám mươi tám, đến đây là hết.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →