Tương Ưng Bộ · SN 45.87
Kinh Một Pháp (II): Thành Tựu Tự Thân II
Dutiyaattasampadāsutta — bài thứ tám mươi bảy
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Một Pháp (II): Thành Tựu Tự Thân II (Dutiyaattasampadāsutta) là một bài trong phẩm Một Pháp (II) — cùng khuôn với cả phẩm: không thấy một pháp nào khác khiến con đường chưa sinh thì sinh, đã sinh thì chín đầy, ngoài sự thành tựu tự thân.
'Tự thân thành tựu' trong một bài mà mục đích là dứt trừ tham sân si.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Đạo (Maggasaṃyutta), tương ưng thứ 45.
Phẩm Một Pháp (II) (Dutiyaekadhammapeyyālavagga) — phẩm thứ tám của Tương Ưng Đạo.
Kinh Một Pháp (II): Thành Tựu Tự Thân II (Dutiyaattasampadāsutta) — bài thứ tám mươi bảy.
"Này các tỳ-kheo, ta không thấy một pháp nào khác — khiến cho con đường tám nhánh cao quý chưa sinh khởi thì sinh khởi, đã sinh khởi thì đi đến đầy đủ trong tu tập — ngoài sự thành tựu tự thân.
Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo đã sự thành tựu tự thân thì có thể chờ đợi điều này: sẽ tu con đường tám nhánh cao quý, sẽ làm cho nó sung mãn.
Và này các tỳ-kheo, thế nào là vị tỳ-kheo đã sự thành tựu tự thân tu con đường tám nhánh cao quý, làm cho nó sung mãn?
Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu chánh kiến — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si, tu chánh tư duy — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si, tu chánh ngữ — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si, tu chánh nghiệp — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si, tu chánh mạng — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si, tu chánh tinh tấn — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si, tu chánh niệm — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si, tu chánh định — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si.
Như vậy, này các tỳ-kheo, là vị tỳ-kheo đã sự thành tựu tự thân tu con đường tám nhánh cao quý, làm cho nó sung mãn."
Kinh Một Pháp (II): Thành Tựu Tự Thân II, bài thứ tám mươi bảy, đến đây là hết.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.