buppou

Tương Ưng Bộ · SN 19.13

Kinh Người Nữ Không Da

Nicchavitthisutta — bài thứ mười ba

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ mười ba là bài đầu tiên trong tương ưng có một người nữ, và nó là hình ảnh soi gương của bài thứ tư.

Này các bạn, ở đây tôi từ núi Gijjhakūṭa đi xuống, tôi thấy một người nữ không còn da đi trên hư không.

Bài thứ tư là một người không da, và người ấy đã từng giết cừu. Bài này cũng là một người không da, và cô ấy đã từng ngoại tình.

Cùng một hình ảnh, hai tội khác nhau. Đó là một cách nói rất kín rằng hình ảnh không tương ứng một-một với tội; nó chỉ là hình dạng mà quả báo đã mang.

Và cũng như bài thứ mười một, đây là một lỗi không đổ máu. Nhưng hình phạt lại là hình phạt của một thứ bị lột. Sự không khớp ấy là chỗ đáng dừng lại nhất của bài.

Bài này rất ngắn, chỉ bốn dòng. Nhưng nó đứng ngay sau bài dài nhất của nửa sau, và sự tương phản ấy làm cho nó có trọng lượng.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Lakkhaṇa (Lakkhaṇasaṃyutta), tương ưng thứ 19.

Phẩm Thứ Hai (Dutiyavagga) — phẩm thứ hai của Tương Ưng Lakkhaṇa.

Kinh Người Nữ Không Da (Nicchavitthisutta) — bài thứ mười ba.


"Này các bạn, ở đây tôi từ núi Gijjhakūṭa đi xuống, tôi thấy một người nữ không còn da đi trên hư không.

Những con kền kền, con quạ, con diều hâu bay theo cô ấy, đâm vào, xé toạc.

Cô ấy kêu lên những tiếng đau đớn.

Này các bạn, điều ấy làm tôi suy nghĩ: Lạ thay, thật lạ thay — một chúng sinh như thế mà lại có; một dạ-xoa như thế mà lại có; một tự thể như thế mà lại có.

Này các tỳ-kheo, các đệ tử thật sự sống với con mắt; này các tỳ-kheo, các đệ tử thật sự sống với trí tuệ — đến mức một đệ tử có thể biết, có thể thấy, có thể chứng thực một điều như vậy.

Này các tỳ-kheo, Ta đã thấy chúng sinh ấy từ trước, nhưng Ta không nói ra. Nếu Ta nói ra, người khác sẽ không tin Ta. Những ai không tin Ta, điều ấy sẽ là bất lợi và khổ đau lâu dài cho họ.

Này các tỳ-kheo, chúng sinh ấy đã từng là người nữ ngoại tình ở chính Rājagaha này.

Do quả báo của nghiệp ấy, nó đã bị nung nấu trong địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm; và với phần quả báo còn lại của nghiệp ấy, nó cảm thọ một tự thể như vậy."

Bài thứ mười ba.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →