Tương Ưng Bộ · SN 13.004
Kinh Nước Sông Hợp Dòng (Hai)
Dutiyasambhejjaudakasutta — bài thứ bốn
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ tư đảo ngược bài trước. Không phải lấy hai giọt ra khỏi dòng sông, mà để cả dòng sông cạn đi, chỉ còn lại hai hay ba giọt.
Nước ấy đi đến chỗ cạn kiệt, chỗ hết sạch, chỉ còn lại hai hay ba giọt nước.
Hình ảnh này mạnh hơn hẳn ba bài trước, và nó cũng khó hơn. Bởi vì nó không chỉ nói "cái lớn thì lớn", mà nói "cái lớn ấy cũng hết được". Năm con sông hợp lại, nước nhiều đến thế, rồi cũng có ngày cạn.
Đọc theo hướng ấy, bài này không còn thuần là một phép so sánh số lượng. Nó là một lời nhắc: cái gì có sinh khởi thì có chấm dứt, kể cả những thứ trông như vĩnh viễn.
Và câu kết vẫn giữ nguyên tỉ lệ cũ: khổ đã hiểu rõ thì nhiều, khổ còn lại thì ít. Nhưng giờ cái "nhiều" ấy đã mang thêm một nghĩa — nó là phần đã qua, phần đã chấm dứt.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Hiện Quán (Abhisamayasaṃyutta), tương ưng thứ 13.
Phẩm Thứ Nhất (Abhisamayavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Hiện Quán.
Kinh Nước Sông Hợp Dòng (Hai) (Dutiyasambhejjaudakasutta) — bài thứ bốn.
"Tại Sāvatthī.
Ví như, này các tỳ-kheo, ở chỗ mà các con sông lớn cùng tuôn vào, cùng hợp lại, ấy là:
sông Hằng, sông Yamunā, sông Aciravatī, sông Sarabhū, sông Mahī.
Nước ấy đi đến chỗ cạn kiệt, chỗ hết sạch, chỉ còn lại hai hay ba giọt nước.
cái nào nhiều hơn — nước chỗ các sông hợp lại đã cạn kiệt, đã hết sạch, hay là hai hay ba giọt nước ấy?
Bạch Thế Tôn, nước chỗ các sông hợp lại đã cạn kiệt, đã hết sạch ấy nhiều hơn hẳn; hai hay ba giọt nước ấy thật chẳng đáng kể.
Không bằng một phần trăm, không bằng một phần nghìn, không bằng một phần trăm nghìn của nước chỗ các sông hợp lại ấy.
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, khổ mà vị thánh đệ tử
đã hiểu rõ thì nhiều vô kể; khổ đã được chấm dứt, đã đi đến chỗ không còn thì chỉ còn một chút.
Sự hiểu rõ pháp là lớn lao như vậy, này các tỳ-kheo; sự chứng đắc pháp nhãn là lớn lao như vậy."
Bài thứ tư.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.